Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XVII Thường Niên A

Tin mừng Mt 13:44-52: Tất cả mọi dụ ngôn đều nói cho ta về Nước Trời; hết thảy chúng đều mặc khải một khía cạnh nào đó và trước hết diễn tả thực tại Chúa Giêsu, biến cố trung tâm của lịch sử và là giao điểm dứt khoát giữa đất và trời: trong Người, Nước Trời đã đến gần nhân loại một lần thay cho tất cả.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN A



(Mt 13:44-52)

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

DỤ NGÔN KHO TÀNG, VIÊN NGỌC,LƯỚI CÁ

(Mt 13, 44- 52)


CÂU HỎI GỢI Ý

1. So sánh việc rảo tìm sự Khôn ngoan (Cn 1, 20- 28 ; Kn 6, 12- 19) với việc rảo tìm ngọc quý.

2. Đâu là trọng tâm của hai dụ ngôn kho tàng và viên ngọc ? Phải chăng là sự kiện kho tàng bị che dấu? Niềm vui tìm thấy kho tàng? Sự cần thiết phải tìm viên ngọc? Sự cần thiết phải bán tất cả để tậu viên ngọc hay kho tàng? Sự hy sinh do việc khám phá kéo theo? Niềm vui của cuộc khám phá đã gây nên sự hy sinh?

3. Đi từ trọng tâm đó, hãy thu gọn lại lược đồ so sánh: cũng như. . . ; cũng thế, Nước Trời . . . "

4. Phải chăng có một giáo huấn mới so với các dụ ngôn trước đây về Nước Trời ?

5. Câu hỏi cuối cùng của Chúa Giêsu (c. 51) có ý nghĩa gì? Người ngỏ lời với ai và tại sao dùng một tiểu dụ ngôn để trả lời?

6. Ngày nay ta có nên nói bằng dụ ngôn nữa không? Phải lấy lại các dụ ngôn trong Tin Mừng hay phải sáng tác ra các dụ ngôn mới?

1.Hai dụ ngôn đầu, dự ngôn kho tàng và viên ngọc, là một thí dụ khác về loại dụ ngôn kép hay dụ ngôn sinh đôi, như cặp dụ ngôn người gieo giống và cỏ lùng. Chủ đề của chúng rõ ràng là một và ý nghĩa cơ bản cũng giống nhau, dù có một vài khác biệt về chi tiết do hoàn cảnh cụ thể của hai câu chuyện. Tuy nhiên các nhà chú giải vẫn chia rẽ nhau về vấn đề xem điểm so sánh nằm trong giá trị vô song của kho tàng và viên ngọc (Julicher, Buzy, Jeremias - Jeremias nhấn mạnh đến niềm vui của hai người), hay trong thái độ của những kẻ, sau khi đã khám phá thấy, bán tất cả gia sản của mình để tậu chúng cho bằng được. Dĩ nhiên hai quan điểm đó không loại trừ nhau một cách tuyệt đối. Tuy vậy, việc chú giải hai dụ ngôn này sẽ hơi thay đổi, tùy như ta lưu ý nhiều đến kho tàng và viên ngọc, hay đến cách hành dộng của hai con người.

Trong hai lối chú giải này, hình như phải theo lối thứ hai, vì những lý do sau đây:

a/ Cả hai câu chuyện đều chú tâm tới các nhân vật. Chắc hẳn dụ ngôn đầu lưu ý trước tiên đến kho tàng: "Về Nước Trời thì cũng giống như một kho tàng giấu trong ruộng"; nhưng phần tiếp chỉ còn nói về người đã khám phá ra nó và vé việc ông ta làm sau khi khám phá xong. Không có chi tiết nào về cách kho tàng xuất hiện, về bản chất và nhất là về giá trị của nó cả. Dụ ngôn thứ hai cũng chẳng nói rõ gì hơn về viên ngọc, nó chỉ bảo đấy là một viên ngọc "đắt giá", khác với các viên ngọc thường thấy bán trên thị trường, nhưng không cho biết gì về giá trị của báu vật. Đứng trên quan điểm của người kể truyện điều quan trọng không phải là kho tàng hay viên ngọc, mà là thái độ của những người khám phá ra chúng.

b/ Việc khám phá chỉ được mô tả cách đại cương với một vài nét thích ứng với hoàn cảnh. Trong trường hợp kho tàng, đó là sự tình cờ của người tá điền nghèo khổ: ông đã khám phá ra kho tàng khi làm thuê cho người khác ; trong trường hợp thứ hai không chi tiết nào về hoàn cảnh việc khám phá được nêu lên. Tất cả cho thấy đấy chỉ là hai cú may mắn thôi. Việc người trong gia đi tìm các viên ngọc đẹp chẳng thay đổi gì về vấn đề này; ông không cố tìm cho ra viên ngọc đắt giá đó, phản ứng của ông cho thấy cuộc khám phá rõ ràng là chẳng ngờ. Trong cả nai trường hợp, đều là một tình cờ may mắn. Niềm vui của người nông dân nói lên cảm tưởng như vậy. (Xét về điểm này, lập trường của Jeremias xem ra hơi gượng ép, vì dụ ngôn viên ngọc chẳng nói đến niềm vui của người thương gia: không thể chú giải về một điều không có ?). Thành thử ta đang đứng trước hai người vừa mới làm một cuộc khám phá may mắn trong đời của họ; tất cả những gì còn lại chỉ nằm làm cho trình thuật thêm hấp dẫn mà thôi.

c/ Quyết định sau cuộc khám phá được diễn tả một cách như ở phần cuối hai dụ ngôn: "Anh đi bán tất cả những gì anh có mà tậu thửa ruộng đó "; "ông đi bán sạch mọi điều ông có mà mua lấy". Những thay đổi về hành văn và ngữ vựng chỉ nhằm làm nổi bật thêm câu lặp lại; rõ ràng là người kể chuyện nhấn mạnh đến phần kết thúc đó.

Thành thử qua hai dụ ngôn ấy, Chúa Giêsu mời gọi thính giả suy nghĩ về cơ may duy nhất xảy đến do việc Nước Trời đang tới gần trong sứ vụ và bản thân của Người. Cơ may này sẽ khiến thính giả dứt khoát chọn lựa: đặt mình trong địa vị người tá điền hay thương gia, họ không hành động cùng một cách như thế sao? ở đây phải móc nối câu chuyện với việc gọi chàng thanh niên giàu có mà Chúa Giêsu đã kêu mời: "Hãy đi bán những gì anh có mà cho kẻ nghèo và anh sẽ được một kho tàng trên trời, đoạn hãy đến theo Ta" (Mt 19,16-22). Trong giây phút quyết liệt, lúc vang lên lời mời gọi của Nước Trời này, việc đáp trả phải là trọn vẹn, dấn thân hoàn toàn và trưng dụng tất cả những gì mình có; không được ngần ngại một hy sinh nào, dù là chặt tay cưa chân móc mắt (Mt l8,8-9), dù là hy sinh mạng sống (18, 25), ví như thế cũng không phải là trả giá quá đắt cái đặc ân được tham dự Nước Trời. Tuy nhiên trọng tâm không nằm trên các hy sinh phải chấp nhận cho bằng là trên tính cách hoàn toàn của việc dấn thân.

2. Trong dụ ngôn kho tàng, chắc hẳn Chúa Giêsu gợi lên hình ảnh một cái chum đựng nhiều đồng tiền vàng hay ngọc quý. Trong nhiều cuộc chiến mà Palestine phải trải qua suốt bao thế kỷ, do địa thế của nó nằm giữa Ai Cập và Mêsôpôtamia, người ta đã không ngừng chôn các đồ quý để khỏi mất mát hư hao. Và các kho tàng cất giấu là một trong các chủ đề dân ca phương Đông ưa thích. Khi cất giấu kho tàng lại sau cuộc khám phá, người tá điền trong dụ ngôn nhắm hai chủ đích: kho tàng vẫn thuộc về mảnh ruộng và nó sẽ mãi an toàn. Quả thế, ngày xưa việc chôn giấu được xem như là phương thế bảo vệ chắc chắn nhất chống lại quân gian phi trộm cắp: kẻ nào chôn dưới đất một của cầm, một tồn khoản khi nhận nó, là được gỡ mọi trách nhiệm dân sự ; trái lại ai để tiền bạc trong áo quần thì phải chịu trách nhiệm dân sự (gìn giữ nó, vì kể như không đề phòng cho đủ (b Baba Metzia 42a và b Baba Metzia 3, 10t). Ở đây người ta chẳng xét đến tình trạng pháp luật, mà chỉ mô tả cách xử trí của người bình dân. Tuy nhiên không phải là không quan trọng việc người tá điền chẳng lập tức mang về nhà vật mình tìm thấy mà lại hành động đúng theo pháp luật.

3.Trong cổ thời, ngọc trai là một phẩm vật người ta rất ưa thích. Chúng được các thợ lặn mò dưới ớáy biển đỏ, vịnh Ba tư, hay An Độ Dương và sau đó thường được kết thành từng tràng chuỗi. Người ta nói có những hạt ngọc trị giá hàng triệu đồng. Như César đã tặng cho mẹ của Brutus, kẻ sẽ ám sát ông, một hạt ngọc đáng giá sáu triệu đồng La mã (1, 5 triệu phật lăng vàng) và Cleopâtre, theo như người ta bảo, có một viên ngọc ước lượng trên 100 triệu đồng La mã (25 triệu phật lăng vàng). Chính sự tương phản giàu nghèo này biện minh cho việc ghép dụ ngôn hạt ngọc vào với dụ ngôn kho tàng.

4. Dụ ngôn lưới cá (cc.47- 48) và lối áp dụng mà tác giả Tin Mừng rút tỉa từ đó (cc.49-50) hoàn toàn song song, xét về bản chất, với dụ ngôn cỏ lùng (cc.24-30) và lời áp đụng dụ ngôn ấy (cc.36-43). Trên phương diện hình ảnh, dụ ngôn lưới cá, cũng như dụ ngôn cỏ lùng, rõ ràng nhắm đến việc phán xét cánh chung, được ví như việc lựa lọc lúa và cỏ lùng trong dụ ngôn đầu, và cá ăn được với cá không ăn được trong dụ ngôn đây. Kẻ lành người dữ trước tiên đều sống lẫn lộn, y như trong dụ ngôn tiệc cưới (22. 10) ; và theo kiểu cánh đồng nơi dụ ngôn cỏ lùng (c. 24), biển ở đây (c.47) chắc là tượng trưng cho thế giới (so sánh với c.34).

Nhưng trong lúc dụ ngôn cỏ lùng loại trừ mỏi sự biệt phân quá sớm trước khi mùa gặt đến, thì trong dụ ngôn lưới cá, ý tưởng đó không còn, vì cá bị bủa lưới một lần và lập tức được lựa ngay trên bãi. Tính cách nhanh chóng của công việc không cho phép sự trì hoãn nào và biểu lộ tính cách đột ngột thình lình của hạn kỳ cánh chung mà chẳng ai thoát khỏi. Vì ngày giờ là chính Thiên Chúa quyết định: "Khi lưới đã đầy " (c. 48). Một lần nữa, như trong dụ ngôn cỏ lùng, chỉ có cá tốt hoặc xấu, chứ không có thứ trung bình.

5. Chúa Giêsu chấm dứt diễn từ bằng dụ ngôn với một so sánh hay một dụ ngôn ngắn về "người ký lục trở thành môn đồ". Ta nhớ rằng ký lục theo nghĩa chuyên môn chỉ xuất hiện trong thế giới Do thái từ thời lưu đày; không chỉ là một người sao lục, thư ký hay quản trị, ký lục trước tiên là người thông thạo Ngũ kinh, là giáo sĩ hữu quyền, là thần học gia chuyên nghiệp. Các ký lục Do thái lập thành một phẩm trật rất quy củ, hưởng quyền kế vị Môisen (x.23,2), và với danh nghĩa đó, vào thời Chúa Giêsu, họ có quyền bính trên dân hầu như vô hạn. Ký lục Kitô giáo chính là người môn đồ đã nghiền ngẫm và thấu triệt sâu sắc sứ điệp cùng con người Chúa Giêsu. Ông ta "giống như gia chủ biết rút tự trong kho của mình điều mới và đều cũ. Chắc hẳn Chúa Giêsu ám chỉ đến một địa chủ giàu nào đó có nhiều cách tỏ ra mình là người quảng đại. "Kho" có lẽ nhắc lại kho tàng trong dụ ngôn trên kia, nhưng ở đây hẳn nói về một căn phòng hay một kho chứa mà trong thời cổ, người ta trữ mọi thứ hàng hóa, và chỉ gia chủ sử dụng để giúp cho con cái, tôi tớ và khách trọ lại nhà. "Cũ và mới": từ ngữ này có thể hoặc chỉ học thuyết Do thái cựu truyền về Nước Thiên Chúa, được lời giảng dạy của Chúa Giêsu canh đào sâu và soi chiếu, hoặc chỉ các sách thánh cổ xưa và tính cách mới mẻ của việc Chúa Giêsu hoàn tất chúng.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT.

"Về Nước Trời thì cũng giống như một kho báu" : Không phải là Nước Trời được so sánh với một kho báu, nhưng điều xảy ra khi một người tìm thấy kho báu được so sánh với điều xảy ra (hay phải xảy ra) khi một người khám phá Nước Trời. (xem lại phần "Chú thích về các công thức nhập đề các "dụ ngôn" trong bài trước).

"Người kia gặp thấy": Câu chuyện thật quá giản dị. Kho báu này không phải là vật do tổ tiên để lại hay phải tìm kiếm một cách gian khổ khó khăn; nó được chôn dấu, nhưng chẳng phải là ở một nơi nào hiểm trở, kẻ đến đầu tiên có thể bắt gặp được. Như Nước Trời trong con người Chúa Giêsu, kho báu đang nằm đấy, trước mặt con người không chủ ý tìm kiếm này. Nhưng một khi khám phá ra, tự nhiên anh ta bỏ rơi mọi điều khác. Sự từ bỏ theo tinh thần Tin Mừng không phải là phương thế để đạt đến Nước Trời, nhưng là hậu quả của việc khám phá Nước đó.

"Anh đi bán tất cả những gì anh có" : Anh làm một công việc mà chẳng người lân cận nào trông thấy mà không thắc mắc. Anh bán tất cả: giá thửa ruộng cao đến độ con người ấy phải phá sản, dĩ nhiên là một gia sản chẳng đáng bao nhiêu, nhưng điều quan trọng không phải là ở chỗ đó mà ở chỗ anh bán hết không để lại tí gì. Chính đấy là điểm mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh trong dụ ngôn của người: Nước Trời là một kho báu đòi ta phải bỏ ra tất cả những gì mình có, kể cả bản thân, để tậu nó cho được.

"Một thương gia rảo tìm ngọc quý" : Có lẽ đừng xem việc người thương gia rảo tìm ngọc quý như là biểu tượng của việc tìm đạo; chẳng qua là ông ta làm nghề buôn bán thôi. Cái mà ông muốn tìm, đó là những viên ngọc đẹp, quý, chứ không phải là những viên ngọc "đắt giá". Thế mà ông lại bắt gặp một kho báu bất ngờ... Thành thử rốt cuộc dụ ngôn viên ngọc cũng tương tự và có cùng một ý nghĩa như dụ ngôn kho báu.

"Về Nước Trời thì lại còn giống như chiếc lưới": Như các dụ ngôn trước, phải hiểu Nước Trời không đồng hóa với chiếc lưới (là một phương tiện tạm thời), cũng chẳng với cá bắt được, mà với toàn thể công việc được miêu tả.

"…đã được thả": Trái với cách dịch của BJ ("người ta thả") động từ Hy lạp nói rằng lưới đã được thả, và được thả do ơn Chúa (thể thụ động ngụ ý Thiên Chúa là tác giả của hành động; điều này được xác nhận qua sự kiện không có câu nào đề cập đến các ngư phủ).

"Mọi thứ": Trong văn mạch, điều này muốn nói: Cá tốt lẫn cá xấu, như c. 48 sẽ bảo. Biển Galilê nổi tiếng là có rất nhiều giống cá. Cá "xấu " có lẽ là thứ bị luật Torah cấm ăn (Lv 11, 9- 12 ; Đnl 14, 9- 10) hay là quá bé nhỏ.

"Sẽ phân tách kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi quăng chúng vào lò lửa...Phải nhận là ở đây chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh tiêu cực của việc lựa lọc. Việc Nước Trời đến cách sung mãn không còn chịu được cảnh vàng thau lẫn lộn như nước nữa, và đòi hỏi phải triệt để loại bỏ kẻ dữ ra khỏi lòng mình. Trong lúc đoạn kết của lời chú giải dụ ngôn cỏ lùng (c. 43) gợi lên vinh quang của các người công chính "sẽ sáng chói như mặt trời trong Nước của Cha họ", thì nơi đây lại không giống thế. Chắc hẳn một muốn chấm dứt diễn từ dụ ngôn của ông bằng lời cảnh giác có phần nghiêm khắc này , để thúc giục Kitô hữu hãy luôn cẩn thân canh chừng, chứ đừng buông thả.

"Các con có hiểu các điều ấy không? - Có": Như đã thấy nơi dụ ngôn người gieo giống, động từ hiểu được tác giả Tin Mừng gán cho một tầm quan trọng đặc biệt. Ở đây, qua câu hỏi này, Chúa Giêsu cố ý quy về tất cả những điều Người đã nói với dân chúng bằng dụ ngôn. Câu trả lời là một tiếng tán đồng ngấn ngủi: Có, Ai trả lời? Văn mạch ngụ ý là các môn đồ đã hỏi Chúa Giêsu trước đây (c.36). Nhưng vì không minh nhiên đề cập đến các ông ấy, nên chắc là một muốn ngầm bảo là mọi độc giả Tin Mừng, mọi Kitô hữu phải có trách nhiệm trả lời: chính câu trả lời đó đưa ta từ thân phận "đám đông" đi sang địa vị "môn đồ".


KẾT LUẬN

Tất cả mọi dụ ngôn đều nói cho ta về Nước Trời; hết thảy chúng đều mặc khải một khía cạnh nào đó và trước hết diễn tả thực tại Chúa Giêsu, biến cố trung tâm của lịch sử và là giao điểm dứt khoát giữa đất và trời: trong Người, Nước Trời đã đến gần nhân loại một lần thay cho tất cả.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Nước Trời buộc ta phải bán hết thảy một khi ta đã khám ra ra nó. Không phải Nước Trời dẹp bỏ mọi thứ khác đâu, nhưng là chiếm đoạt tất cả để ban cho tất cả một chiều hướng, ý nghĩa mới. Cái nhân bản không bị xua trừ, nhưng được nâng lên để được đào sâu biến đổi, canh tân và đi vào thiên giới. Người ta chỉ dẹp bỏ trong cái nhân bản ấy những gì là chướng ngại vật của tình yêu. Kẻ đã tìm thấy Nước Trời là một người mới, sống động, rũ bỏ được mọi thần tượng, và trở nên trắng tay để nhận lãnh từ Thiên Chúa hiện tại và tương lai của mình.

2."Tâm tình nào đã nung nấu hai kẻ tìm thấy kho tàng và bắt gặp viên ngộc đắt giá? Tâm tình mừng vui. Họ "hết sức vui mừng"! Cũng vui như thế khi tình yêu của Thiên Chúa, của phục sinh và Thập giá Ngài tràn ngập trong đời ta, khiến ta được nâng lên và bị chinh phục. Bấy giờ cái mà từ trước vẫn được xem như quý hóa thì mất hết giá trị, so với cái vừa mới nhận được, một cái thật cao giá vô cùng. Ai có Thiên Chúa là có tất cả vì chỉ mình Ngài là đủ. Đấy là một chân lý chỉ có thể hiểu được nhờ kinh nghiệm sống. Não trạng "trần tục" của ta, không lo sợ mất mát hay thiếu một vật nào, nỗi ám ảnh muốn được bảo đảm an toàn, chương trình sống ích kỷ dò ta lập ra, sẽ luôn va chạm với chân lý căn bản này: chỉ Thiên Chúa mới có thể làm mãn nguyện những cõi lòng hiến dâng cho Ngài trọn vẹn.

3. Dù không gặp sự dữ ở đời này, dù xem ra được tranh công, được kính nể yêu vì, dù có vẻ tốt lành và chăng đáng bị chỉ trích, thì con người nào đó cũng chỉ lộ phẩm chất đích thực của mình trong ngày sau hết, vào lúc chung thẩm (như trong dụ ngôn lưới cá). Điều ấy mọi người phải ý thức rõ, dù là các Kitô hữu đã có một ngày nào tìm gặp viên ngọc quý hay kho báu chôn giấu trong ruộng đồng. Vì rất có thể đời sống thực của họ được che giấu dưới một mặt nạ đạo đức. Vì rất có thể họ là loại "xấu" nếu chỉ đi tìm kiếm bản thân, thay vì kiếm tìm một mình Thiên Chúa.


Noel Quession - Chú Giải

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

Mt 13, 44-52


Đức Giêsu nói với đám đông các "dụ ngôn" sau đây.

Đức Giêsu như mọi người kể chuyện ở phương Đông, không giảng dạy một cách trừu tượng, người đưa ra những hình ảnh đẹp những từ ngữ chứa đựng những biểu tượng phổ quát mà mọi người có thể hiểu gợi ra nhiều ý nghĩa hơn định nghĩa của các từ ngữ và do đó thường có thể có nhiều cách giải thích khác nhau. Cũng như trong văn nói, những sự lặp lại, những điệp khúc cho phép khắc ghi một bài học vào trong trí nhớ.

Những dụ ngôn của Đức Giêsu, dù được đọc chỉ một lần, không thể nào quên được. Người ta cũng nghĩ rằng Đức Giêsu cũng như những kinh sư của thời đại Người thực tế là đã dạy cho các thính giả của Người thuộc lòng những bản văn ngắn. Nhưng như thế thì rất dễ. Vậy chính các bạn hãy thử lại xem- ! Các bạn hãy đọc một dụ ngôn . . . và sau đó đọc lại bằng trí nhớ của mình...

Nước trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

Một "kho báu"! Mỗi người có thể hiểu điều đó theo cách hiểu của mình. Trên khắp trái đất, trong mọi nền văn minh, con người đều có những đồ vật mà họ coi như những "kho báu' : một vật gì đó đáng được ao ước làm người ta thèm muốn, ở Pa-lét-tin, vào thời của Đttc Giêsu, không có nhiều ngân hàng để gởi những món tiết kiệm mà một gia đình dành dụm cho được an toàn. Vậy, người ta chôn món tiền ấy trong một góc của cánh đồng. Và có khi chủ sở hữu chết di mà không thể tiết lộ nơi giấu kho báu cho ai. Khi làm ruộng, một nông dân sau này có thể tình cờ khám phá ra.

Người nào đã khám phá ra. . . liền chôn giấu lại !

Thái độ này kỳ lạ . . . kích thích sự tò mò. Người ấy sắp làm gì ?

Rồi vui mừng, đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. .

Rõ ràng đây là cao điểm của bài dụ ngôn mà Đức Giêsu muốn gợi ý cho chúng ta. Các bạn có đồng ý với cách làm đó không ? Nếu các bạn gặp được một sự may mắn như thế, một cơ hội tương tự, bạn có làm giống vậy không. Phải, trong đời sống của chúng ta, chúng ta có thể thực hiện những hy sinh to lớn vì một điều mà chúng ta ấp ủ ở trong lòng : các sinh viên làm việc không nghỉ ngơi khi kỳ thi và một kỳ thi tuyển mà họ mơ ước một cách mãnh liệt sắp đến. . . các vận động viên kiêng cữ đủ thứ để tiến hơn trong bộ môn thi đấu và phá kỷ lục. . . cha mẹ trong gia đinh hy sinh cho con cái họ . . . các chính khách trong lãnh vực chính trị và công đoàn bỏ qua các thú vui và sự thư giãn vì chính nghĩa mà họ đang chiến đấu . . . Đối với Đức Giêsu , Nước Thiên Chúa là một thực tại rất cao quý đến nỗi đáng để hy sinh tất cả, để khám phá, và để sống. Ở đây chúng ta ghi nhận rằng Đức Giêsu nói về "niềm vui chúng ta đoán được niềm vui ngây ngất của Người thấy một kho báu. "Trong sự vui mừng, người ấy bán tất cả những gì mình có . . . " Đối với Đức Giêsu, sự hy sinh không phải là một việc đau buồn:

Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

Rõ ràng ở đây có cùng một bài học... với cùng một điệp khúc. Nhưng thêm một khía cạnh quan trọng. Người làm thuê tình cờ khám phá được kho báu... còn người bán kim hoàn "tìm kiếm" như một người sưu tập tìm một món đồ quý hiếm. Chúng ta cũng thế, chúng ta đều đi tìm hạnh phúc. Nhưng , than ôi; nhiều người trong chúng ta đã lầm lẫn khi tìm những hạnh phúc không giá trị gì, những viên ngọc giả cũng sáng như những viên ngọc thật, nhưng không giá trị như những viên ngọc thật... và chỉ đánh lừa người dốt nát…Đức Giêsu, Người biết hạnh phúc thật của chúng ta là gì. Người đề nghị chúng ta phải trả giá và phải làm tất cả để có được hạnh phúc ấy. Không có niềm vui chân thật và lâu dài bên ngoài sự hiệp nhất với Thiên Chúa…điều mà Người : gọi là Nước Trời !

Để sống hạnh phúc vô giá, tuyệt vời ấy, hãy mua cho được viên ngọc đó... phải làm gì đây ?

Ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

Chúng ta hãy thử tưởng tượng trong thực tế cảnh tượng mà Đức Giêsu kể lại. Xung quanh con người "bán tất cả những gì mình có", hẳn người ta phải nói : "Thằng cha này điên ! Vậy sao ? Chính vì những người khác không biết. Khi bán tất cả tài sản của mình, người ấy biết rằng mình không mất gì cả. . . bởi vì người ấy biết giá trị của viên ngọc ! Và tôi cố tưởng tượng Đức Giêsu đang kể lại câu chuyện lôi cuốn này. Không chút lưỡng lợ. Đức Giêsu quả là con người có những quyết định cao cả, có vẻ điên rồ. Trong thực tế Người đã cho tất cả, đã đặt vào đó cái giá tối đa. Ngày hôm nay, thật là tốt đẹp khi có những con người, nam cũng như nữ nghe được tiếng gọi "hiến dâng tất cả" một cách triệt để lập tức thánh hiến cả cuộc đời mình cho Nước Trời qua đời sống linh mục và tu trì.

Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài.

Đức Giêsu có lẽ đang nói về các thủy thủ ở bờ hồ Ti-bê-ri-a. Người nói về Thiên Chúa xuyên qua ngôn ngữ và những hoàn cảnh người ta đang sống. Đó là một biểu mẫu tốt nhất cho những cách dạy giáo lý về mầu nhiệm của Thiên Chúa, nếu chúng ta cũng quan tâm một cách cụ thể đến cuộc sống hàng ngày của anh em.

Nước Trời ! Mát-thêu -sử dụng công thức này để tránh nói ra từ ngữ về Thiên Chúa đối với dân Do Thái. Cách diễn tả này cũng có ý nghĩa như "Nước" của những con người hoàn hảo về mọi phương diện, là một sụ quy tụ đủ mọi hạng người... tốt và ít tốt hơn ! Chúng ta đã thấy tư tưởng này có trong dụ ngôn cỏ lùng và lúa mì : Thiên Chúa nhẫn nại chờ đợi những kẻ tội lỗi và... cho họ có thời gian.

Trước hết, Thiên Chúa chịu đựng tôi và cho tôi một thời gian. Nhưng hãy cói chừng ! Sự nhẫn nại của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi không thể được giải thích như một sự "bỏ mặc" khiến chúng ta sống thụ động, sống chờ thời và sống dửng dưng. Chúng ta hãy nghe phần tiếp theo…

Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính rồi quăng chúng vào lò lửa, ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng.

Một lời cảnh báo hết sức nặng nề ! Lòng nhân từ của Thiên Chúa không phải là sự đồng lõa với điều xấu. Vừa rồi, Đức Giêsu nói về niềm vui ! Giờ đây Người nói về khóc lóc và nghiến răng…sáu lần công thức đe doạ này trở lại trong Mátthêu (8,12 ; 13,12 ; 13,50 ; 22,13 ; 24,51 ; 25,50). Chúng ta thường có xu hướng quên rằng sẽ có một sự phán xét. Thái độ của chúng ta không trung lập : chúng chuẩn bị cho sự sống vĩnh cửu của chúng ta, Đức Giêsu nói. Và chúng ta phải mau lẹ hoán cải. Bởi sự nghiêm khắc này, Đức Giêsu muốn thức tỉnh chúng ta.

Không có gì là sự thích thú đày đọa trong những công thức ấy nhưng là tình yêu của một người sáng suốt muốn làm cho ta hiểu rõ cái được cái mất của đời sống. Khi bác sĩ phẫu thuật đưa con dao mổ vào vết thương mưng mủ, đó không phải vì ông dữ tợn mà vì ông muốn cứu người bệnh. Ngay cả khi dùng đến ngôn ngữ khải huyền ("khóc lóc và nghiến răng" là một phần của văn phong thời đại đó) rõ ràng là Đức Giêsu muốn tạo ra trong chúng ta một cú sốc sinh ơn cứu độ.

Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không ?

Thiên Chúa không áp đặt. Người tra hỏi chúng ta. Người tôn trọng tự do của chúng ta. Nhưng Người hỏi chúng ta "hiểu" không ? Anh em có hiểu không ? Từ "hiểu"là một từ được Mát-thêu lặp lại M át-th ê u 12,7 ; 13,13 ; 13,14-15-19-23-51 ; 15,10-17 ; 16,9-11-12 ; 17,13 ; 19,11-12 ;21,45-46 ; 24,15-32-33-43) Đây là câu hỏi nền tảng.

Chẳng phải là trong lòng tôi có nhiều ngõ ngách của cuộc đời mà tôi không muốn hiểu đó sao ? Chẳng phải là có những hoàn cảnh mà tôi không muốn đối chiếu với Tin Mừng đó sao ? Lạy Chúa, xin thương nhắc con câu hỏi của Người : "Con có hiểu không ?"

Họ đáp : "Thưa hiểu".

Trong sự ngay thẳng, con cũng muốn nói rằng "con hiểu" những dự án của Thiên Chúa trong đời con. Nhưng con xin Chúa sức mạnh để hoàn thành chúng cho đến cùng, cho đến sự lụa chọn cao cả sau cùng, khi Chúa đưa ra ánh sáng điều gì tốt" và "điều gì không có giá trị"trong cuộc sống.

Người bảo họ . "Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ".

Đức Giêsu không khinh thường khoa học của các "kinh sư" các học giả về Luật, cho dù nhiều người trong bọn họ thực ra đã chống lại cái mới của Tin Mừng. Chính Mát-thêu soạn ra Tin Mừng, ngài tự giới thiệu như một "kinh sư" một người hiểu biết sâu xa Truyền thống của Cựu ước... nhưng có khả năng rút ra từ truyền thống ấy điều mới mẻ !

Dụ ngôn nhỏ này và cũng là sau cùng làm kết luận cho một loạt các dụ ngôn mà chúng ta đọc từ ba Chúa nhật và mang đầy tính thời sự. Cuộc tranh luận của những người theo xưa và theo nay. Sự đối lập giữa những người bảo thủ và những người cấp tiến. Đối với Đức Giêsu, người "theo truyền thống" thật sự không thể chỉ là người lặp lại cứng ngắc. Để không phản bội tư tưởng của Đức Giêsu, phải hiểu biết tư tưởng ấy từ nền văn hoa và ngôn ngữ của thời đại mình và . . vì thế làm sáng tỏ tư tưởng ấy và thích ứng nó với thời đại của chúng ta mà vẫn tôn trọng ý nghĩa sâu xa của nó. Đức Giêsu hầu như không mã hóa gì cả. Bởi vì 'Thiên Chúa là người cùng thời với chúng ta" : Người nói với chúng ta ngày hôm nay. Truyền thống (cái cũ) là chân chính nếu nó sống động, đầy những chồi nụ (cái mới). Cái mới chân chính không hủy hoại truyền thống : đối với những vấn đề mới, nó rút ra những lời giải đáp mới phù hợp. Với sự khôn ngoan của mọi thời đại. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết chú ý đến mọi "cái mới" trong Giáo Hội "cũ xưa" của Chúa. Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn trung tín với Người.

HTMV Khóa X - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn