Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XVII Thường Niên C

Tin mừng Lc 11: 1-13: Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,Triều Đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy...

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN – NĂM C

NGÀY 28/07/2019



Mt 5: 17-19

St 18,20-32; Cl 2,12-14; Lc 11,1-13

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


KINH LẠY CHA. HIỆU LỰC CỦA KINH NGUYỆN (Lc 11,1-13)

1. Lc cho biết CGS đã dạy kinh Lạy Cha cho các môn đệ trong một dịp rõ ràng: sự kiện một môn đệ vô danh nào đó nhắc đến kinh của Gioan tẩy giả không phải là không có lợi để giúp hiểu thêm kinh Lạy Cha: thời CGS có nhiều nhóm tu đạo, khác nhau bởi hình thức hay qui luật kinh kệ của họ, vì thế mà có nhóm Pharisêu, nhóm Esséno, và đoản văn Lc hôm nay cho thấy có nhóm môn đệ Gioan tẩy giả nữa. Cách cầu nguyện riêng của mỗi nhóm diễn tả mối liên hệ đặc biệt với TC là mối dây hiệp nhất của nhóm. Việc các môn đệ CGS xin có một kinh nguyện riêng minh chứng họ muốn thành lập một cộng đoàn thiên sai: kinh ấy sẽ là mối liên hệ và dấu hiệu riêng của họ, và kinh ấy sẽ biểu lộ điều họ giữ kín lòng. Vì thế kinh Lạy Cha là bản tóm lược trong sáng nhất và hàm súc nhất của sứ điệp CGS.

2. "Lạy Cha". Để phẩm bình nguồn gốc và giá trị tiếng kêu này, tưởng cần tóm lược lại việc kêu danh Chúa là Cha lịch sử. Vào khoảng 2000 năm trước Đức Kitô và cả 3000 năm trước, đã có nhiều dân tộc phương đông coi thần linh như là cha. Trước thời Môisen, người ta coi thêm tước vị "Cha" ở trong các kinh nguyện xứ Sumérie: "Ôi TC, Đấng có lòng nhân hậu như người Cha dịu hiền".

Để chống lại nguy cơ hạ giá TC xuống mức độ con người, CƯ thường rất họa hiếm kêu TC như là "Cha" (14 đoạn nói đến mà thôi). Trước tiên TC là "Cha của Israel", dân mà Ngài đã tuyển chọn, giải phóng và cứu độ (Đnl 32,6; Is 63,16; 64,7; Giêr 3,4.19; Ml 1,6; 2,10). Sau lưu đày, thỉnh thoảng CƯ trình bày TC là "Cha" của các cá nhân (Kn 14,3; Si 23,1.4; Tv 13,4).

Nhưng văn chương Do thái đương thời và sau Đức Kitô còn kéo dài và nhấn mạnh đến khuynh hướng đề cao siêu việt tính của TC. Và người ta cũng không thể tìm thấy một bản kinh nào trong đó cá nhân cầu khẩn TC như khẩn cầu với một người "Cha". Đi ngược với môi trường Do thái ấy, CGS khẩn cầu với TC như khẩn cầu với một người "Cha" trong kinh nguyện của Ngài, như các tác giả Phúc âm đã ghi lại (chỉ trừ tiếng kêu trút hơi thở tàn trên thập giá ở Mc 15,34 - nhưng đó chỉ là một lời trích dẫn, chứ không phải là lời kinh nguyện mà cá nhân CGS đã sáng tác).

Nhưng xét về phương diện ấy CGS còn đi xa hơn 14 đoạn văn CƯ hay các mẫu kinh lương dân trong đó TC được gọi là "Cha". Với CGS chúng ta đi thẳng vào một điều mới mẻ hoàn toàn, đó là tiếng "Abba", "Ba ơi". Lời kinh trong vườn Giêtsimani nơi Mc 14,36 cho biết CGS dùng tiếng ấy để nói với TC; không những Rm 8,15 và Gal 4,6, ngay cả tiếng gọi "Cha" trong bản văn Hy lạp của các phúc âm cũng quả quyết điều đó; mà chỉ cách giải thích đầy đủ là: "Abba" luôn có mặt trong nguyên bản tiếng araméen. Cuộc nghiên cứu sơ sài kho tàng văn chương vĩ đại và giàu có về kinh nguyện Do thái, đưa đến kết luận: việc kêu cầu danh TC bằng tiếng "Abba" không nơi nào nói đến. Giải thích thế nào đây? Các giáo phụ, Chysostome, Theodore de Mopsueste và Theodoret de Kyr, các vị thành Anttokia và các vú nuôi nói tiếng Syrien-occidental de l'araméen, đều nhất trí minh chứng rằng "Abba" là tiếng trẻ con dùng để gọi cha mình. Và sách Talmund xác quyết: "Khi một đứa trẻ ăn được lúa mì (nghĩa là khi nó thôi bú), thì nó bập bẹ nói "abba" và "imma" (ba ơi, má ơi). "Abba", "imma" là những tiếng đầu tiên trẻ con nói bập bẹ (những tiếng mà trẻ con khi trưởng thành vẫn tiếp tục dùng, như ở Pháp người lớn vẫn kêu ông già mình bằng tiếng "papa"). Vì tính cách dịu hiền và thân tình của danh từ ấy, nên không ai dám nói: "Abba" với TC. Còn CGS vẫn luôn dùng tiếng ấy trong mọi kinh nguyện mà Ngài đã truyền lại cho chúng ta. Ngài đã nói với TC như một đứa con nói chuyện với Cha, cách đơn sơ thân tình và tín thác.

Nhưng ở câu 27 của Mt 11 - "Mọi sự đều đã được Cha trao phó cho con và không ai biết được Cha, nếu không phải là con và kẻ được con muốn mạc khải cho" - Cho chúng ta thấy CGS coi sự kêu xin kiểu trẻ con ấy như là cách duy nhất để nhận biết TC và uy quyền viên mãn của người con. Tiếng "Abba" biểu lộ cách viên mãn mầu nhiệm sứ mệnh của Ngài: ai được Cha cho biết TC cách sung mãn thì được uy quyền gọi TC một cách thân tình như vậy như con gọi cha. Tiếng "Abba" chính thực là tiếng của CGS, là tiếng xác quyết sứ mạnh và trọng tâm của sứ điệp Ngài.

Vì vậy, qua kinh Lạy Cha, CGS thông ban cho môn đệ Ngài quyền kêu "Abba" như Ngài. Ngài ban cho những người theo Ngài được quyền làm con, và vì họ là môn đệ của Ngài, nên có thể trò chuyện với Cha trên trời cách tin tưởng như một đứa bé. Đến nỗi xác quyết rằng mối tương quan mới mẻ giữa Con và Cha mới mở được cửa nước Trời (Mt 18,3) "Thật, tôi bảo các anh, nếu các anh không trở nên như trẻ nhỏ, các anh không thể vào được Nước Trời". Vì trẻ em biết nói "Abba". Để tìm ra đường vào nước trời cần phải tin tưởng như đứa bé lúc gọi "ba ơi". Thánh Phaolô am hiểu sâu xa tiếng ấy khi Ngài 2 lần xác quyết tiếng kêu "Abba, ba ơi" là dấu chỉ được làm con và dấu chỉ được Thánh Thần chiếm hữu (Rm 8,15 và Gal 4,6). Như vậy, từ tiếng đầu tiên này, chúng ta hãy phỏng đoán xem tại sao theo tâm tình của Giáo hội sơ khai, khi đọc kinh Lạy Cha lại không có vẻ tự nhiên và tại sao giáo hội lại thốt lên với bao vẻ sợ sệt và khúm núm: Lạy Chúa xin nghe lời chúng con, chúng con mới dám vui vẻ và không ái ngại gọi Chúa là Cha, là TC trên trời và nói: "Lạy Cha chúng con".

3. Hai lời cầu xin đầu tiên (c.2) song song có nội dung giống nhau. Và rất giống kinh Quddish là kinh xin thánh hóa của Do thái, đọc lúc kết thúc mỗi buổi lễ ở hội đường: xin cho danh tiếng lẫy lừng của Ngài được thánh hóa trong hoàn vũ nơi Ngài đã tạo dựng theo ý Ngài, xin mau mau dựng xây nước Ngài trong suốt cuộc đời chúng con. Amen.

Hai lời cầu xin của kinh Quddish và kinh lạy cha đều chất chứa một nhãn quan cánh chung. Đàng khác người ta gợi đến giờ mà danh TC đã từng bị tục hóa sẽ được thánh hóa mãi (Kh 11,15). Đó là mẫu kinh rất giống với mẫu kinh của giáo hội, Maranatha, "Lạy Chúa, xin hãy đến" (1Cor 16,22; Kh 22,20).

Nhưng khi đọc kinh Quddish, người Do thái không biết nước TC đã hiện diện trong vũ trụ từ khi Đức Kitô đến, họ chỉ xin cho nước Chúa được hoàn hảo và kiện toàn viên mãn.

4. Xin cho danh Chúa được thánh hóa. Danh của TC là một từ ngữ truyền thống của Thánh kinh diễn tả cách tín cẩn hữu thể Ngài, nhất là trong bản văn phụng vụ. "Thánh hóa TC hay Danh Ngài" là một kiểu nói xưa cũ trong thánh kinh và Do thái giáo. Vì TC là một Đấng thánh tuyệt vời, người ta không thể thêm gì nữa cho sự thánh thiện của Ngài, nhưng kiểu nói ấy có nghĩa là nhận biết, biểu lộ và tôn vinh Ngài như Ngài đang hiện hữu (như ở Gio 12,28 phải là một cái gì tương đương với lối cầu xin ấy).

Kinh thánh và Do thái giáo có hai cách thành hóa TC hay danh Ngài: các luật sĩ và các thày Rabbi trong các bài giảng của họ, thường kêu mời tín hữu thánh hóa TC bằng sự thần phục các giới răn của Ngài và như thế công nhện uy quyền của Ngài trên mình (Lv 22,32; Ds 27,14; Đnl 32, 51; Is 8,13. 29,13). trong các bài sấm về sự cứu độ sắp đến, các tiên tri thường loan báo TC sắp thánh hoá mình bằng cách biểu lộ ra như Đấng cứu thế (Is 5,16 và nhất là trong Ez 20,41; 28,22.25; 36,23; 38,16.23; 39,27).

Trong kinh nguyện hiện nay, thường hay nói đến sự can thiệp cứu độ (kiểu nói ở thể thụ động "được thánh hóa" thường dùng được bản văn chương Do thái để chỉ cách bí mật hoạt động của TC mà không nêu danh Ngài ra Mt 5,6.7.9; 7,1.2.7.8...) Chỉ TC mới có thể biểu lộ như Ngài đang ở trong uy quyền và vinh quang trong công chính cứu độ và ân sủng của Ngài. Đối với CGS (cũng như đối với Ezékiel, trong những bản văn kể ra ở trên kia), sự biểu lộ ấy tỏ ra cho hết mọi người (bản dịch TOB dịch cách táo bạo, nhưng rất hợp thời: xin làm cho nhận biết Ngài như TC). Xin TC tự biểu lộ cho thế gian như là vị thày duy nhất, có liên hệ đến tình trạng hiện thời, còn bất toàn và đang tiến triển của lịch sử; nhưng nhất là lời cầu xin nhắm đến sự kiện toàn dứt khoát và hoàn hảo mà lịch sử cứu độ nhắm đến. Khi đến hạn định thì sự hiệp nhất giữa TC và giáo hội của Đức Kitô (nghĩa là "Israel đích thật của TC": Gal 6,16; Rm 9,6-8) sẽ được hoàn tất: Ngài sẽ là TC của các thánh nhân Ngài và họ sẽ là dân Ngài, vì bấy giờ TC sẽ là tất cả trong mọi sự (1Cor 15,28).

5. Xin cho Nước Ngài trị đến. Lời cầu xin thứ hai có cùng đối tượng và nhãn quan như lời cầu xin trước. Sự đồng nhất này rất xứng hợp với tính cách song đối của người Semit, họ thích lấy lại một ý tưởng dưới hai hình thức khác nhau.

Nước TC đến quả thực là đề tài căn bản mà CGS thường dạy, như Mt 4.17 và Mc 1,15 đã chứng minh. Nhấn mạnh đến vương quốc TC như thế là lạ lắm, vì CƯ rất ít khi dùng kiểu nói này. Dĩ niên dân CƯ tin Giave là vua của họ. Tuy nhiên vương quốc của Giavê không hướng về sự hoàn tất cánh chung. Dân được tuyển chọn hy vọng đến việc thiết lập vương quốc hoàn hảo và dứt khoát trong thời thiên sai, niềm hy vọng này được truyền thống khải huyền khai thác nhiều nhất. CGS nhắc đến đề tài vương quốc, vì đề tài này trong thời Ngài đáp ứng các ước vọng mãnh liệt nhất của người đồng hương. Nhưng Ngài đã sửa sai bổ túc và loại bỏ các ý niệm hạn hẹp có tính cách quốc gia về giáo thuyết Vương quốc (Lc 13,29; Mt 8,11). Hai dạng thức mới của vương quốc được nhắc nhở nơi đây liên hệ với kinh Lạy Cha: Vương quốc đang hiện diện, Vương quốc là món quà của TC.

Đức Kitô khẳng định rằng, qua sự kiện Ngài đến vương quốc đang trên đường thực hiện: Vương cuốc thực sự có đó, và đang kiện toàn viên mãn và dứt khoát; nó vừa là hiện tại và tương lai, nhưng ở đây CGS tập trung sự chú ý của thính giả vào khía cạnh tương lai nhiều hơn. Chiều hướng hy vọng Kitô giáo được tiềm ẩn trong nhiều kinh Lạy Cha. Người Kitô hữu phải hy vọng vào Vương cuốc nhưng họ không thể thiết lập, cũng như hối thúc Vương cuốc đến mau, như người Zélotes thời CGS đã làm; Vương cuốc là một món quà nhưng không của Chúa Cha (Lc 12,32). Chính TC sẽ thiết lập như Ngài muốn và lúc Ngài muốn (Cvsđ 1,6t; Mc 12,32); giáo hội chỉ có thể mong ước và chuẩn bị đón nhận Vương quốc ấy bằng lòng thống hối, bằng đức tin thức tỉnh và đời cầu nguyện.

6. Xin cho chúng con lương thực hàng ngày. Không thể nào xác định cách chắc chắn ý nghĩa đích thật của lời thỉnh cầu này. Vì thứ bánh chúng ta xin, được xác định bằng hình dung từ épiousios (BJ dịch "hàng ngày" quotidien), là một chữ Hy lạp ít được dùng tới. Một người thông thái như Origène (De orat 27,7) thú nhận rằng ông chưa hề gặp tiếng ấy trong văn chương Hy lạp cũng như trong ngôn ngữ nhân gian. Năm 1915, trong một bản papyrus tìm thấy ở miền thượng Ai cập, người ta tìm thấy chữ tắt épiousi và theo bản văn ấy thì hình như có nghĩa là "cổ phần hàng ngày". Nhưng làm sao một bản văn thuộc thế kỷ thứ V (sau công nguyên) lại có thể giúp ta hiểu một câu được viết ra từ thế kỷ thứ nhất.
Vậy chỉ còn cách là tìm các chứng cứ giải thích trong hai nguồn tài liệu là: nguyên ngữ và các lối chú giải xa xưa nhất. Nếu tách giới từ epi (sur) và động từ eimai (être) khỏi chữ épiousios, hình dung từ ấy bây giờ nói lên tính cách nội tại của bánh: đó là bánh "cần thiết" hay "căn bản" (hãy nhớ rằng chữ "essentialis" do động từ esse), "substantiel" (tiếng Hy lạpousia) hay "super-substantiel" (ám chỉ đến Thánh Thể nơi người Latin. Có thể chữ épiousios do động từ einai (aller), nhấn mạnh đến khía cạnh tạm thời: bánh "của ngày đang bắt đầu, "hàng ngày" hoặc "của ngày mai". Các giáo phụ thì chú giải rất khác nhau: chính thánh Jérome khi thì dịch chữ épiousios bằng supersubstantialis (Mt 6,11) khi thì bằng cotidiannus (Lc 11,3).

Dù sao, Lc vẫn xác nhận rằng bánh được xin (dù bản chất của nó như thế nào) thì được xin để dùng "mỗi ngày". Sự xác định ấy là việc Lc quan tâm đến hoàn cảnh của các Kitô hữu (ví dụ xem lối chú giải tám mối phúc thật về phương diện xã hội) giúp ta tin rằng bánh épiousios, được xin có lẽ là bánh vật chất mà người Kitô hữu cần đến mỗi ngày, dĩ nhiên là không loại bỏ lời mặc nhiên xin bánh Thánh Thể thiêng liêng hay mọi thứ trợ giúp thiêng liêng mà người Kitô hữu cần có để sống mỗi ngày cuộc dấn thân theo Đức Kitô.

Xin tha tội chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho người mắc nợ chúng con. Lời khấn xin này là lời duy nhất trong kinh lạy Cha liên hệ đến con người. CGS đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng đó. Kẻ nào cầu nguyện thì phải nhớ đến bổn phận tha thứ. CGS luôn nói: không thể xin TC tha lỗi nếu người xin không sẵn sàng thứ tha. "Và khi đứng cầu nguyện, nếu anh có điều gì bất bình với người nào, anh hãy thứ tha để cha anh ở trên trời cũng tha thứ cho anh" (Mc 11,25). Nơi Mt 5,23 chính CGS cũng đòi hỏi các môn đệ: đình chỉ việc dâng lễ để tha thứ và làm hòa với anh em trước khi thi hành nhiệm vụ thánh. CGS muốn nói rằng lời xin tha tội sẽ không thành thật và sẽ không được TC chấp nâhn, nếu người cầu nguyện không chịu giải hòa với anh em mình. Đối với môn đệ CGS sẵn sàng tha thứ một cách nào đó là đã đưa tay ra xin TC tha thứ. Trong bản văn Lc, động từ ở thì hiện tại "hãy tha thứ" nói lên thái độ chung là phải tha thứ luôn. Chữ "Panti", cho ai mắc nợ chúng tôi (hợp với khuynh hướng của Lc là tổng quát hóa các thái độ tiêu biểu của người Kitô hữu), xác quyết đó là thái độ nội tâm.

8. Và đừng để chúng tôi sa chước cám dỗ. Động từ ở thì actif đây không ám chỉ hoạt động của TC cám dỗ các Kitô hữu. Có lẽ Giacôbê đã hiểu lời cầu xin cuối cùng của kinh Lạy Cha, khi bỏ lối giải thích sai lầm: "Khi bị cám dỗ thì đừng ai nói: TC cám dỗ tôi, vì TC không thể bị cám dỗ và chính Ngài cũng không cám dỗ ai" (Giac 1,13). Đứng hơn lời cầu xin ấy có nghĩa: "Xin đừng để chúng tôi thất bại vì cám dỗ". Động từ ở chỗ hoạt động gợi lên một kiểu nói thánh kinh xa xưa, ở cái thời mà mọi cơn cám dỗ đều đổ dồn cho TC mà chẳng phân biệt gì cả; vì người ta muốn xác quyết đến sự thống trị vạn vật của TC và không tạo ra ngụy tín vào nhị nguyên tín (dualité) của các thần minh.

"Cơn cám dỗ". không nhằm nói đến sự cám dỗ nhỏ mọn hàng ngày nhưng nói đến thử thách vĩ đại cuối cùng ở cửa nhà chúng ta và sẽ xảy ra trong thế gian này: vén màn bí mật sự dữ, phản Kitô xuất hiện, tàn phá ghê sợ (Mc 13,14) bắt bớ cuối cùng và thanh lọc lần chót các thánh của TC do các tiên tri giả chủ xướng. Cơn cám dỗ cuối cùng đó là phản đạo. Ai có thể thoát?

Lời cầu xin cuối cùng của kinh Lạy Cha muốn nói rằng: "Lạy Chúa xin giữ chúng con cho khỏi bỏ đạo". Truyền thống Mt đã hiểu như thế và còn xin giải thoát dứt khoát khỏi quyền lực của thần dữ đang tìm cách hối thúc con người đi vào cõi chết đời đời: "Nhưng xin cứu chúng tôi khỏi thần dữ". Tuy vậy người Kitô hữu không thể để thời gian cuối cùng đó làm tê liệt mà quên mà quên mất hiện tại. Vì đối với mỗi người hiện tại mật thiết gắn liền với giờ cuối cùng của cuộc đời: những cơn cám dỗ hàng ngày loan báo cơn cám dỗ cuối cùng, và những quyết định hàng ngày sửa soạn việc chọn lựa cuối cùng cho mình, nó sẽ đánh dấu đoạn đường vượt qua từ vũ trụ này đến thế giới bên kia.

9. Sau khi các môn đệ phải cầu nguyện như thế nào, CGS còn dạy họ biết lời họ khẩn nài sẽ được chấp nhận với điều kiện nào. Dụ ngôn người bạn quấy rầy mà chỉ mình Lc ghi lại, có mục đích minh chứng hiệu quả của lời nguyện cầu khẩn thiết bền tâm đó.

Ở Palestine thời CGS, căn nhà chỉ có một phòng. Cánh cửa đóng lại có xà lớn làm then cửa. Giường chiếu là một tấm nệm thật lớn trải trên nền nhà. Con cái ngủ gần cha mẹ. Để mở cửa thì phải mệt nhọc lắm và rất rộn ràng, khiến mọi người phải thức dậy. Trong những điều kiện như vậy, người ta mới hiểu sự tức tối của kẻ bị đánh thức lúc nửa đêm để giúp đỡ bạn bè. Tuy nhiên, phải chăng để cuối cùng được bình an, khỏi bị quấy rầy, người ta mới chào thua và chiều theo lời khẩn khoản của bạn. Đó là ý nghĩa một cảnh nhỏ xảy ra hàng ngày mà CGS dùng để dạy. Như thế, khi nghĩ đến hạnh kiểm của mình, người môn đệ mới lưu ý đến cách thức hoạt động của TC đối với mình. Cuối cùng người bạn phải nhượng bộ lời cầu xin rên rỉ, thì đối với TC cũng thế, Ngài sẽ nghe lời kẻ liên lỉ cầu xin Ngài.

Tất cả những lời giáo huấn của CGS đều dựa trên một luận chứng a fortiori (phương chi là...). Nếu con người cuối cùng cũng phải nhượng bộ lời cầu xin nài nẵng thì phương chi là TC Đấng thật tốt lành cũng phải chào thua. Như một thày thông luật nói: "người ngu xuẩn thắng được sự dữ, thì đối với TC tốt lành anh ta lại càng đễ dàng chiến thắng hơn" - (Billerbeck, I,656). Lời kinh nguyện dai dẳng và đầy tin tưởng, không biết chán, dù không được Chúa nhận lời tức khắc, thì rồi cũng sẽ được Chúa nhận lời. TC tốt lành trên hết mọi người tốt lành: Ngài không chỉ trao ban những gì theo con người khấn xin, nhưng sẽ còn ban tất cả những gì cần cho con người. CGS đã hành động cách tương tự như vậy đối với người đàn bà xứ Syro-Phénicie (Mt 15,21 ss) và đối với người mà thành Giericô (Lc 18,35 ss), cũng kiểu lý luận a fortiori này đã được áp dụng cho lời người con xin cha cơm bánh.

KẾT LUẬN

Tất cả đoạn văn này (kết thúc cũng như lúc bắt đầu, đều nói đến tình phụ tử của TC Cha, là động từ sâu sắc của lời kinh đầy tin tưởng của người Kitô hữu. Vì người Kitô hữu, theo lệnh truyền và gương lành của CGS, có thể kêu lên "Abba - Ba ơi" đối với TC, họ rất hy vọng nhận được nơi TC những gì mà họ cần để sống - ngay cả ơn huệ cao cả là Thánh Thần. "Vì tất cả những ai được Thánh Thần TC đưa dẫn đều là Con TC. Như thế, không phải thứ Thần khí của hàng nô lệ là điều anh em đã nhận lấy để sợ hãi, nhưng anh em đã lãnh lấy thần khí của hàng nghĩa tử, nhờ đó được kêu "Abba" (Rm 8,14-15).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Sau khi cầu nguyện, CGS mới dạy chúng ta kinh Lạy Cha. Vậy kinh này phát sinh từ việc nguyện gẫm riêng của Ngài. Nó phản ảnh lập trường riêng của đứa con yêu dấu đối với Cha trên trời. Đồng thời cũng dạy cho chính chúng ta biết cư xử với TC chúng ta như thế nào: như những người con yêu mến dâng lời kinh nguyện đầy lòng tin lên cha mình.

2. Các tác giả phúc âm ghi chú CGS cầu nguyện rất đặc biệt trước mỗi một hoạt động quan trọng của Ngài. Nếu Lc đã lưu ý nói lên rằng CGS đã cầu nguyện trước khi dạy kinh Lạy Cha, dĩ nhiên ông muốn cho thấy tầm quan trọng ưu việt của kinh nguyện do CGS trực tiếp nói ra.

3. CGS không những chỉ dạy cho chúng ta dâng lời kinh lên TC như người cha. Vì đứa con dầu sao cũng có thể sợ cha; có nhiều đứa con sợ cha mình đến nỗi không dám xin cha cách phó thác và tin tưởng. Để cho chúng ta thấy cần phải có tâm tình nào, khi dâng lời kinh lên TC, CGS dùng một tiếng rất thân tình của trẻ con, tiếng mà người Do thái thời Ngài không bao giờ dám dùng đối với TC: "Abba", "Ba ơi". Qua tiếng ấy, CGS chỉ cho chúng ta thấy phải có tinh thần nào khi dâng lời kinh nguyện lên TC: như những em bé đầy lòng tin tưởng vào sự tốt lành trìu mến của Cha mình.

4. Hai nguyện vọng đầu tiên của kinh Lạy Cha nói đến sự vinh thắng của TC. Vì sự thánh hóa Danh Ngài, là nói lên rằng mọi người đều nhận biết TC là TC, là thày và Cha hết mọi người. Một cách khác để công thức hóa lời cầu xin ấy, là ước vọng nước TC trị đến, ước mong TC thật sự được mọi người nhận biết là vua rất tốt lành mà người ta sung sướng được phụng sự Ngài và yêu mến Ngài hết lòng. Nếu đọc kinh ấy lên, chúng ta xác tín rằng sẽ không có công bằng, hòa bình và hạnh phúc trên mặt đất này bao lâu có nhiều người chưa nhận biết TC là Cha của họ và họ là anh em với nhau.

5. Nhưng trong lời kinh này, CGS cũng mong muốn chúng ta đừng xấu hổ khi cầu nguyện về những của cải vật chất chúng ta cần. Cha chúng ta trên trời để ý mọi khía cạnh cụ thể của cuộc sống chúng ta.

6. Cũng như các chỗ khác trong phúc âm, CGS nhắc chúng ta rằng để được tha tội, thì chính mình cũng biết tha thứ mọi lỗi lầm kẻ khác xúc phạm đến mình. Chúng ta chỉ có một con tim: làm sao con tim ấy lại đóng lại trước tha nhân, đồng thời mở ra trước TC?

7. Nguyện vọng cuối cùng không nhằm đến việc làm cho chúng ta tránh khỏi cơn cám dỗ (làm sao chúng ta có thể xin được điều đó khi mà chính CGS cũng phải bị thử thách), nhưng để xin được sự chở che của Cha chúng ta cho khỏi sa ngã trong những cơn thử thách lớn nhỏ cuộc đời.

8. Dụ ngôn người bạn bị quấy rầy cho chúng ta thấy rằng nếu TC lấy tình bạn tốt đối với chúng ta, sẵn sàng nghe lời chúng ta kêu xin, không phải Ngài nghe lời chúng ta ngay lần xin đầu tiên đâu. TC muốn bị quấy rầy vì lời khẩn khoản của chúng ta, điều ấy đem lại cho chúng ta cảm giác nhân từ, khi Ngài dùng sự đổi mới và kéo dài ra để gia tăng cường độ lòng muốn và lời kinh của chúng ta. Có thể có khi chúng ta xin những điều không ích lợi mà còn có hại cho phần rỗi của chúng ta: một lời kinh lâu dài sẽ thanh tẩy và điều chỉnh dần dần những ước muốn chúng ta và tuần tự buộc chặt ước muốn của chúng ta vào ước muốn của TC. Nếu trước đây chúng ta cầu xin TC những hòn đá thay vì xin bánh, xin con rắn thay vì xin con cá, thì Cha chúng ta sẽ làm một cách nào đó để biến đổi lời kinh chúng ta và là Ngài muốn nhận lời ban cho chúng ta một điều thiện lớn hơn và một hạnh phúc chắc chắn hơn. Nhưng lời cầu xin tuyệt hảo nhất mà chúng ta có thể dâng lên TC Cha luôn luôn nhận lời (là vì lời ấy đáp trả được ước muốn vĩ đại của Ngài và là điều tốt to lớn của ta), đó là lời cầu xin Chúa Thánh Thần, vì chính Thánh Thần ấy mới có thể biến đổi chúng ta một cách sâu xa là trở nên con cái yêu dấu của Cha rất tốt lành.


 
Noel Quession - Chú Giải
 

Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông".

Khi nhìn thấy Người cầu nguyện... họ chờ đợi bên Người, và không quấy rầy Người. Phần chúng ta, chúng ta không có cái may mắn nhìn thấy Đức Giêsu đang cầu nguyện. Tuy nhiên chúng ta có thể thử làm cho trí tưởng tượng của chúng ta hoạt động... và, bằng tâm trí, nhìn ngắm Đức Giêsu đang cầu nguyện. Đức Giêsu thường cầu nguyện lâu! Người là "vị thầy của sự cầu nguyện" không chỉ vì Người cho những lời khuyên mà còn vì Người nêu gương cầu nguyện.

Ngày nay, có một sự phục hồi việc cầu nguyện ở mức độ nào đó. Tuy nhiên, phần lớn con người ngày nay, nam cũng như nữ đều có khó khăn khi cầu nguyện. Vô số những lời phê phán của tâm thức hiện tại ảnh hưởng đến tất cả chúng ta một cách vô thức: cầu nguyện là đào nhiệm; đừng xin Chúa làm thay cho bạn, bạn hãy xắn tay áo mình lên... cầu nguyện là một hành động ma thuật của những người sơ khai không biết những quy luật chính xác của tự nhiên... cầu nguyện là một sự tha hóa; bạn hãy đảm nhận tầm vóc của con người... không Chúa, không Thầy... bạn hãy gạt bỏ những điều mê tín tối tăm...

Lạy Đức Giêsu, xin dạy cho chúng con biết cầu nguyện? Xin dạy cho chúng con biết rằng sự cầu nguyện Kitô giáo không phải là bất cứ sự cầu nguyện nào. Chúng con phải thanh luyện sự cầu nguyện của chúng con và học cách cầu nguyện.

Người bảo các ông: "Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: Lạy Cha..."

Dân Do Thái đã gọi Thiên Chúa bằng "Cha" như nhiều tôn giáo khác (Hô sê 11,3; Giêrêmia 3,19; Isaia 63,16; Khôn Ngoan 5,5 v.v...).

Tuy nhiên Đức Giêsu đã đổi mới từ này, khi Người dám thưa cùng Thiên Chúa: "Abba"! "ba ơi".., từ ngữ chỉ sự thân mật mà trước Người ít khi người ta dùng đến. Chính khi các môn đệ nhận thức được kinh nghiệm độc nhất của Đức Giêsu, họ mới khẳng định Người là "Con Thiên Chúa" trong một ý nghĩa hoàn toàn đặc biệt. Khi chúng ta lặp lại lời "cầu nguyện của Đức Giêsu, đến lượt mình, chúng ta dám nghĩ rằng "Chúa Cha yêu thương chúng ta bằng chính tình yêu mà Người yêu mến Con Một của Người" (Gioan 20,17).

Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển...

Trong Kinh Thánh, "danh" là để biểu hiện ngôi vị…Sự "thánh thiện" là điều làm cho Thiên Chúa, bởi sụ siêu việt lửa tình yêu và quyền năng, trở thành Đấng Hoàn Toàn Khác (Tha Thể Tuyệt Đối).

Vậy trước khi nói với Thiên Chúa các nhu cầu của chúng ta, chúng ta phải theo Đức Giêsu cầu nguyện tôn vinh chính Chúa Cha. Không có gì là ma thuật, tha hóa trong lời cầu nguyện hoàn toàn vô tư và vô vị lợi này.

"Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển" có thể được diễn tả bởi: Xin Cha hãy thể hiền sự toàn năng của Cha là lòng nhân hậu vô cùng, tình phụ tử vô biên... xin Cha chỉ cho chúng con biết Cha là Chúa Cha... vô cùng và tuyệt đối là "Cha"... một người Cha hoàn toàn khác chúng con, cha hơn chúng con vô cùng. Nếu người ta có thể đặt vào một tấm lòng tình yêu thương vốn đã tuyệt vời của tất cả các ông bà và bà má của trần gian, thì người ta chỉ có được một phần nhỏ nhoi và thấp kém của Chúa Cha "là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất" (êphêsô 3,15).

Triều Đại Cha mau đến...

Lời cầu xin thứ hai hầu như đồng nghĩa với lời cầu xin thứ nhất. Triều đại Cha mau đến. Xin Thiên Chúa hoạt động bên trong mọi tạo vật. Người vốn là Tình Yêu ( 1 Ga4,7 đến 21) Xin Tình Yêu lên ngôi vua! Xin Tình Yêu ngự trị!

Chủ đề "Triều đại của Thiên Chúa" hiện diện thường xuyên trong Cựu ước! Sử biên niên 16,30-33; Tôbia 13,1 , Thánh. Vịnh 21,28-28.,67,33-36-97-102,19; Isaia 11,1-9, - 33,17-24 - 54,7-12; Đanien 8,23): Trong tư tưởng của ít-ra-en các vua trần thế chỉ là các "đại diện", vương quyền thuộc về một mình Thiên Chúa. Và khi tuân thủ Luật của Thiên Chúa mà ít-ra-en làm cho Thiên Chúa thực sự trị vì.

Vào thời của Đức Giêsu đã từ lâu, không còn vua ở Giêrusalem như vào thòi của vua Đavít hoặc Salômôn. Như thế, do sự xâm chiếm của nước ngoài, sự chờ.đợi. Đấng Mêsia đã nổi lên mạnh mẽ và được diễn tả trong kinh cầu Qaddish của người Do Thái: xin làm cho Danh cao cả của Người được thánh hóa trong thế gian mà Người đã tạo dựng theo ý chí của Người, xin Người làm cho Triều Đại Người được hiển trị và sự giải thoát được nẩy mầm, Đấng Mêsia của Người đến gần".

Đức Giêsu công bố rằng Triều Đại của Thiên Chúa đến rất gần nó đã hình thành ở đó rồi, nhưng không phải một cách huy hoàng... như một ít men, như một hạt giống vùi sâu trong lòng người (Mt 3,2-4-17-10,7 - 13,24-31,36-50).

Vì thế rõ ràng chúng ta không thể thực hiện lời cầu nguyện ấy mà chính chúng ta không làm việc cho triều đại ấy lớn lên trong sự chắc chắn của Ngày cánh chung, ngày mà dự án của Chúa Cha sẽ thể hiện sử thành công trọn vẹn, sự hoàn tất.

Ở đây chúng ta hãy ghi nhận ràng Luca không thuật lại cho chúng ta "Kinh Lạy Cha" được toàn thể Giáo Hội đọc và đó là Kinh Lạy Cha trong Tin Mừng của Mát-thêu. Có lẽ Luca đã rút gọn lại, bỏ bớt hai lời xin (ý Cha thể hiện và... nhưng cứu chúng con khói mọi sự dữ). Không một thánh sử nào quan niệm phải theo sát từng lời của Đức Giêsu mà truyền thống nhận được. Các ngài quan niệm Kinh Lạy Cha như một định hướng tổng quát về sự cầu nguyện hơn là một định thức bất biến. Đức Giêsu không xơ cứng điều gì, không biến điều gì thành nghi thức. Và Giáo Hội, ngay từ những thời kỳ đầu, đã luôn luôn sử dụng nhiều công thức khác nhau trong phụng vụ... trên nền tảng một sự thống nhất chung.

Xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy....

Trước hết, sau khi đã lấy các "dự án của Chúa Cha" làm dự án của chúng ta giờ đây chúng ta có thể trình bày những ước muốn của chúng ta. Đức Giêsu gợi ý cho chúng ta ba điều: lương thực... sự tha thứ... sự tự do đối diện với cái chết...

Ở đây cũng vậy, Luca đã thay đổi bản văn của Mát-thêu. Vị thánh sử này nói: "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày". Luca có lẽ sống với một cộng đoàn Kitô hữu quá nghèo khổ nên đã thêm vào một sắc thái, và nhấn mạnh: "Xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy... " Lời cầu nguyện này rất khiêm nhường, mặc dù không có về gì nhưng đã cáo giác tâm thức của những Người giàu có chúng ta. Đức Giêsu không ngừng nhấn mạnh để chúng ta không nên lo lắng quá về ngài mai (Lc 12,22-32; Mt 6,34). Trong cuộc xuất hành qua sa mạc, dân Chúa không thể tích trữ lương thực man-na trước cho nhiều ngày (Xh 16,4). Từ ngữ Hy Lạp "épiousios" mà người ta đã dịch là '"mà chúng con cần" chỉ được dùng ở đây trong toàn bộ Kính Thánh. Nó nhắc đến một từ Do Thái, cũng hiếm khi gặp, được dùng trong sách Châm ngôn: 30,8: "Xin đừng để con nghèo túng, cũng đừng cho con giàu có; xin cho con cơm bánh cần dùng!".

Lời cầu nguyện này khó thực hiện trong những xã hội dư thừa của chúng ta.

Lời cầu nguyện này là của mọi người chỉ sống ngày qua ngày. Nhưng từ "chúng con" mà chúng ta đọc, tiếp nối Đức Giêsu, rõ ràng phải buộc chúng ta bao gồm trong kinh nguyện này mọi người đang thiếu thốn lương thực mỗi ngày. Tôi không có quyền đọc "Kinh Lạy Cha" chỉ cho tôi: Xin Cha cho chúng con lương thực... Và nếu lời cầu nguyện của tôi chân thật, thì nó phải khiến tôi chia sẻ lương thực với những người đang đói.

Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con....

So với công thức của Mát-thêu, Luca đã xác định từ "lỗi" khi dịch ra bang từ "tội": Thật vậy, vì tội là trở ngại lớn nhất cho Triều Đại của Thiên Chúa cũng như cho sự chia sẻ lương thực trong tình huynh đệ? Hơn thế nữa, Luca đã thêm từ "tất cả", để chỉ sự phổ quát của sự tha thứ ấy mà chúng ta thực hiện với những người khác nếu chính chúng ta muốn được Thiên Chúa tha thứ.

Oi! sự tha thứ ấy là điều chủ yếu của các Kitô hữu vì Đức Giêsu thường xuyên nói về điều đó (Lc 23,34 - 6,36; Mt 11,19-26,28 - 6,14-18 - 22~5; Mc 1.1.,25; Gc 2,13). Niềm vui mà Thiên Chúa cảm thấy khi tha thứ cho kẻ tội lổi như thế phải trở thành viên đá thử vàng mọi hành động của Kitô hữu. Một cô bé đã nói với thầy dạy giáo lý của cô: Một Kitô hữu chính là một người tha thứ. Trước khi đi xa hơn trong kinh nguyện của tôi... tôi dừng lại một chốc để tôi thật lòng tha thứ cho "tất cả những người đã có lỗi với tôi". Và chúng ta đừng bao giờ nói rằng sự cầu nguyện là ma thuật, vụ lợi, đào nhiệm. Đúng ra nó là một sự dấn thân quảng đại, một yêu sách phi thường, gần như siêu phàm.

Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ...

Nhiều nhà chú giải nghĩ rằng đây là sự cám dỗ lớn! Cơn cám dỗ rất đáng sợ ấy: là "đánh mất Đức tin", "bỏ rời Đức Giêsu". Thử thách to lớn ấy đã khiến Đức Giêsu phải nói: "Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?" (Lc 18,8). Trong khi kể lại cơn hấp hối của Đức Giêsu trong vườn Ghếtsêmani, Tin Mừng của Luca đã hai lần:nhắc lại lời Đức Giêsu khuyến cáo các bạn hữu của Người (22,40 và 22,46): Hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dữ… Phải, cơn cán dỗ lớn nhất chính là bỏ rơi Đức Giêsu trong dụ ngôn người gieo hạt giống, Đức Giêsu nhắc chúng ta phải cảnh giác: Có những người, tin trong một thời gian nào đó và đến giờ thử thách, và bị cám dỗ, họ đã chồi bỏ đức tin (Lc 8,13) Vậy mỗi ngày chúng ta phải chiến đấu chống lại sự ác, để chinh phục tự do... và khiêm nhường xin Chúa ban cho ân sủng không bị "khuất phục", bị trói buộc và tha hóa!

Đức Giêsu còn nói với các ông: "Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: "Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả" mà người kia từ trong nhà đáp lại: "Xin anh đừng quấy rầy tôi: Cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được "Thầy nói chỏ anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì mình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh cần, vì thể diện. Thế nên Thầy bảo anh em: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, lại lấy rắn thay vì cá mà cho nó? Hoặc nó xin trứng, mà lại cho nó con bọ cạp? Vậy nếu anh em là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành phương chi Cha trên trời. Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người?"

Đây là kho tàng duy nhất mà chúng ta phải xin Thiên Chúa: Thần Khí của Người!


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


"các ngươi hãy xin thì sẽ được".

1.     I. Ý CHÍNH:

Thánh sử Luca thuật lại câu chuyện Chúa dạy các môn đệ cầu nguyện và khuôn mẫu của lời cầu nguyện là: KINH LẠY CHA.

1.     II. SUY NIỆM:

2.     1. "Ngày kia, Chúa Giê-su cầu nguyện ở một nơi nọ":

Thánh sử Matthêu đặt kinh lạy cha trong bài giảng trên núi (Mt 6,5-15) nhưng ở đây Luca không nói rõ về thời gian và nơi chốn mà Chúa đã dạy kinh lạy cha. điều này chứng tỏ Luca chỉ muốn nhấn mạnh đến khiá cạnh có tính cách liên đới giữa việc Chúa Giê-su cầu nguyện với việc Chúa dạy các môn đệ cầu nguyện.

1.     2. "khi Người cầu nguyện xong, có một môn đệ đến thưa Người rằng: xin dạy chúng con cầu nguyện":

Ở đây muốn nói lên cơ hội mà Chúa Giê-su đã dùng để dạy về kinh lạy cha đó là sự kiện một môn đệ vô danh, vì ảnh hưởng do việc Chúa Giê-su cầu nguyện và vì thấy Gioan đã dạy các đệ tử của ông cầu nguyện, nên đã đến xin Chúa dạy về sự cầu nguyện.

Thời gian Chúa Giê-su có nhiều nhóm tu đạo khác nhau do hình thức hay kinh kệ của họ, trong trường hợp ở đây, chúng ta thấy có nhóm Gioan tẩy giả. cách cầu nguyện riêng của mỗi nhóm diễn tả mối liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa là mối dây hiệp nhất của nhóm.

Việc các môn đệ Chúa Giê-su xin có một kinh nghiệm riêng, chứng minh họ muốn thành lập một cộng đoàn Thiên Sai. Kinh ấy là một mối dây liên hệ và là dấu hiệu riêng của họ. Vì thế, ở đây cho thấy kinh lạy cha của người Kitô hữu biểu lộ một sự tham dự của họ vào kinh nguyện của Chúa Kitô. Chính nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô và mọi Kitô hữu phải cầu nguyện.

1.     3. "khi các con cầu nguyện hãy nói: Lạy Cha …":

"Lạy Cha…": Xưng danh Thiên Chúa là Cha, vì Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta khẩn cầu với Thiên Chúa như khẩn cầu với một người Cha, Ở đây muốn òi lên sự gần gũi, thân mật giữa Thiên Chúa và loài người chúng ta. Vì thế, trong mọi kinh nguyện, chúng ta nói chuyện với Thiên Chúa là Cha cách đơn sơ, chân tình và tín thác.

Chính Chúa Giê-su khi cầu nguyện, Người cũng thưa với Thiên Chúa là Cha (Mc 14,36; Mt 11,27) và vì vậy, qua kinh lạy cha Chúa Giê-su muốn thông ban các môn đệ Người quyền được gọi Thiên Chúa là Cha.

"Nguyện danh Cha cả sáng": Thiên Chúa là Đấng Thánh tuyệt vời, người ta không thể thêm được gì nữa cho sự thánh thiện của Người. Kiểu nói "Nguyện danh Cha cả sáng" có nghĩa là nhận biết và tôn vinh Thiên Chúa như Người đang hiện hữu (Ga 12,28). Vì thế lời nguyện này có nghĩa là nguyện ước cho hết mọi người được nhận biết và tôn vinh danh Chúa. đó là phận sự thờ lạy Thiên Chúa.

"Nước Cha trị đến": Nước Thiên Chúa được hiểu là triều đại của Chúa, mà Giáo Hội trần thế là triều đại hữu hình của Người. Vì vậy ở đây có nghĩa là: xin cho Giáo Hội được truyền bá khắp nơi, mọi người thờ phượng Chúa, Chúa thống trị mọi tâm hồn và như vậy là Nước Thiên Chúa được trị đến.

Đến đây Luca ghi lại lời nguyện thứ ba: "Ý Cha thể hiện dưới đấ cũng như trên trời" vì lời nguyện này có nghĩa như là lời kết của hai lời nguyện trên.

1.     4. "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày":

Đến đây Luca ghi lại những lời xin:

Xin lương thực hằng ngày: Lương thực ở đây chỉ những ơn phần hồn và phần xác mà ta cần tiếp nhận hằng ngày. Cần những của ăn vật chất nuôi dưỡng hằng ngày thì cũng cần những của ăn thiên liêng là Thánh Thể và những sự trợ giúp thiêng liêng mà chúng ta cần có để sống mỗi ngày trong cuộc dấng thân theo Chúa Kitô.

"Và tha nợ chúng con cũng như chúng con cũng Thầy…" Ở đây muốn nói xin đừng để chúng con bị thất bại vì những cơn cám dỗ. Cơn cám dỗ ở đây không có ý nói đến những cơn cám dỗ nhỏ nhặt hằng ngày, vì những cơn cám dỗ này có giá trị để thanh luyện chúng ta, nhưng có ý nói đến những cám dỗ có tính cách nguy hiểm chio sự sống đời đời, vì những cám dỗ này đòi hỏi ta phải dứy khoát sự lựa chọn cho số phận của mình. lời xin này nhằm mục đích đừng sa vào tay ma qũy kẻo mất sự sống đời đời.

1.     5. "Và Người còn bảo các ông rằng":

Sau khi dạy kinh Lạy Cha, Chúa Giê-su còn nhắc nhủ các môn đệ điều kiện cần để được nhận lời. và về công hiệu của lời cầu nguyện.

1.     "Nếu ai trong các con có người bạn…":

Chúa Giê-su dùng dụ ngôn về người bạn quấy rầy để dạy cho các môn đệ biết, điều kiện để được điều mình xin phải là biết bền đỗ nài nỉ. Điều này riêng có Luca kể lại và đặt sau kinh lạy Cha.

trong dụ ngôn Chúa Giê-su có ý nhắn nhủ rằng, đừng bao giờ ngã lòng vì thấy xin mà không được. Hãy lập lại điều xin, xin đi xin lại mà không nhàm chán. Kiên nhẫn mà xin đó là điều kiện cần thiết cho lời cầu được chấp nhận. Chúa không như người bạn kia bị quấy rầy mà cho, nhưng Ngài muốn cho ta có những cơ hội mà đặt tin tưởng mà trông cậy ở Người nhiều hơn.

1.     "Các con hãy xin thì sẽ được…":

Đến đây Chúa Giê-su nói đến công hiệu của lời cầu nguyện. Trước nhất Người nhắc nhở lời cầu nguyện rất cần thiết. Phải cầu nguyện để Chúa ban ơn, vì "Ai xin thì sẽ được…"

Tiếp đến Người cho biết việc Chúa ban ơn. Chấp nhận lời cầu nguyện là do lòng nhân hậu và thương xót của Chúa, để diễn tả điều này Chúa đã so sánh: người đời là những kẽ gian ác còn biết đối xử tốt với con cái mình, phương chi Thiên Chúa Cha chúng ta ở trên trời.

những ơn mà Thiên Chúa tốt lành ban cho những kẽ kêu xin ở đây Luca gọi là "Ban Thánh Thần" còn Mt 7,10 gọi là "Những Cái Tốt". Vì vậy phải hiểu những gì Chúa ban cho chúng ta là những ơng siêu nhiên liên hệ đến phần rỗi của chúng ta.

III. ÁP DỤNG THỰC HÀNH:

A. Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn dạy chúng ta khi cầu nguyện phải có tâm tình hiếu thảo và tinh thần tín thác vào Thiên Chúa là Cha đồng thời phải có lòng kiên trì và bền đỗ trong khi cầu nguyện.

B.Áp dụng thực hành:

1.Nhìn vào Chúa Giêsu:

a.Xem việc Người làm:

+Chúa Giêsu cầu nguyện trước khi dạy các muôn đệ cầu nguyện. Nơi gương Chúa, chúng ta cũng phải có việc làm và gương sáng để chứng thực cho lời mình nói.

+ Chúa Giêsu đã dựa vào cơ hội thuận tiện là việc muôn đệ đến hỏi Chúa về sự cầu nguyện để dạy cho các muôn đệ về sự cầu nguyện. Nơi gương Chúa, chúng ta cần phải biết dựa vào các biến cố, sự kiện và ước vọng của tha nhân để hướng dẫn và thăng tiến tha nhân.

b.Nghe lời Người nói:

+ Khi cầu nguyện các con hãy nói: Lạy Cha … Chúa muốn dạy khi đến với Thiên Chúa, chúng ta đến với tâm tình một người con đến với Thiên Chúa là Cha, nghĩa là phải có tâm tình hiếu thảo, thân mật thắm thiết và yêu mến Chúa.

+ Nguyện danh Cha cả sáng: Chúa muốn chúng ta khi cầu nguyện phải hướng về Chúa trước, nghĩa là tìm vinh quang Chúa sau đó mới hướng về ta, xin ơn cho mình, nhất là những ơn liên hệ đến phần rỗi của ta như ơn phần hồn, phần xác, ơn tha thứ, ơn bền đỗ với Chúa…

+ Tha nợ chúng con như chúng con cũng tha…: Khi chúng ta tha nợ cho tha nhân là cách chúng ta xin Chúa tha nợ cho chúng ta…

+ Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ…: Chúng ta xin Chúa tha tội cho chúng ta, thì cũng phải cầu xin Chúa ban ơn cho chúng ta biết giữ mình tránh mọi dịp tội và quyết tâm không tái phạm.

2.Nhìn vào muôn đệ Chúa Giê-su:

-Lạy Thầy xin dạy chúng con cầu nguyện … Là Kitô hữu, là muôn đệ Chúa Kitô, chúng ta cũng phải biết năng thưa với Chúa: Lạy Chúa xin dạy con cầu nguyện, xin dạy con làm việc này, việc kia, xin dạy con sống theo Chúa , xin dạy con nói, làm, nghĩ … theo ý Chúa …

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ


Cầu xin hay cầu nguyện?


St 18,20-32; Cl 2,12-14; Lc 11,1-13

Một buổi sáng kia, một cô giáo dạy vườn trẻ chưng một bình hoa thủy tiên thật đẹp trên chiếc bàn đặt ở giữa phòng. Khi các em bé nhỏ thơ ngây tung tăng tiến vào phòng học, có một em tròn xoe đôi mắt nhìn ngắm những cánh hoa màu vàng lợt và em nói với cô giáo:

"Thưa cô, có phải Chúa đã làm ra những bông hoa nầy không cô? Em muốn gọi điện thoại để cám ơn Chúa đã cho chúng ta những cánh hoa đẹp như thế nầy!"

Nếu đất với trời được nối kết với nhau bằng dây điện thoại, thiết nghĩ Thiên Chúa sẽ phải đặt ra hai đường dây: một đường dây cho những lời cầu xin và một đường dây dành cho những lời cám ơn. Và người ta sẽ thấy một đường điện thoại luôn luôn bận rộn, trong khi đường dây kia thỉnh thoảng mới được dùng đến, như một chuyện ngụ ngôn kia thuật lại như sau:

Hai thiên thần được sai xuống trần gian, mỗi vị mang theo một chiếc giỏ. Họ chia tay nhau để đi khắp hang cùng ngỏ hẻm, đến nhà các người giàu có cũng như nhà những người nghèo khổ, thăm các trẻ em cầu nguyện tại tư gia cũng như tất cả nam phụ lão ấu cầu nguyện tại các nhà thờ.

Sau một thời gian, hai Thiên thần gặp nhau đúng thời điểm đã hẹn để trở về trời. Chiếc giỏ của một Thiên thần nặng như chì, còn chiếc giỏ của Thiên thần kia có vẻ như đựng toàn bông gòn.

- "Ông mang gì mà nặng nề thế?", một Thiên thần hỏi.

Thiên thần mang giỏ nặng trả lời:

- "Tôi được sai đến để thu nhận tất cả những lời cầu xin của nhân loại. Còn ông, cái giỏ của ông xem ra nhẹ nhàng thế?"

- "À, tôi được sai đến để góp nhặt những lời thiên hạ cám ơn Chúa vì những ơn lành Ngài luôn ban cho họ."

Thì ra, chiếc giỏ thu nhận lời cầu xin luôn nặng hơn chiếc giỏ thu nhận lời cám ơn. Cũng thế, đường dây điện thoại để xin ơn thì luôn bận rộn, còn đường dây để cám ơn thì không mấy khi có người gọi.

Phải, thưa anh chị em, thường thì chúng ta chỉ biết cầu xin hơn là cầu nguyện. Bởi vì cầu nguyện luôn bao gồm cả lời chúc tụng tôn vinh và cảm tạ tri ân Thiên Chúa. Hôm nay, Chúa dạy chúng ta cầu nguyện. Cầu nguyện là thưa chuyện với Chúa như con cái nói với cha mẹ. Cầu nguyện chủ yếu là một cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, kết hiệp thân tình với Thiên Chúa.

Chính Chúa Giêsu khi còn sống ở trần gian cũng đã cầu nguyện, và Ngài đã dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn. Cũng chính Ngài đã đưa ra một "kinh nguyện mẫu" mà chúng ta gọi là "Kinh Lạy Cha" – đúng hơn là "Kinh nguyện của Chúa" để cho chúng ta biết phải cầu xin những điều gì và cầu nguyện như thế nào.

Vậy chúng ta phải cầu xin những điều gì?

Nói một cách vắn gọn, chúng ta phải cầu xin những gì phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Ý muốn của Thiên Chúa trước hết là cho mọi người nhận biết Ngài là Cha của tất cả mọi người, và trong Ngài, tất cả mọi người đều nhận ra nhau là anh em. Những gì là chia rẽ, hận thù, bóc lột, chém giết nhau đều đi ngược lại ý muốn của Cha trên trời. Bởi vì, làm sao có thể mở miệng gọi Thiên Chúa là Cha của chúng ta được khi chúng ta không muốn yêu thương người khác như âe của mình; và ngược lại, làm sao có thể nhận ra mọi người là anh em của mình được, khi chúng ta không nhìn nhận có một Cha chung của chúng ta ở trên trời: "Lạy Cha, chúng con là Đấng ngự trên trời".

Ý muốn của Thiên Chúa còn là "cho chúng ta hôm nay lương thực hàng ngày", có nghĩa là Thiên Chúa muốn cho mọi người trên trái đất, không phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói, đều có đủ cơm ăn áo mặc, cũng như được hưởng tiện nghi của nền văn minh hiện đại, chứ không phải chỉ một số rất ít người chiếm hữu hết tài sản trên thế giới, đang khi đại đa số còn lại chỉ được hưởng một phần quá nhỏ trong cảnh lệ thuộc. Ngài cũng chẳng muốn cho một thiểu số sống xa hoa lãng phí, trong khi đồng loại phải thiếu nhà ở, thiếu cơm bánh, áo quần, thuốc men; phải đói khát, dốt nát, ăn xin, nắm đường xó chợ… Nói chung là thiếu những điều kiện tối thiểu để sống cho ra con người.

Ý muốn của Thiên Chúa còn là chúng ta phải tha thứ cho nhau, vì chính bản thân chúng ta cũng là kẻ có tội cần được tha thứ. "Xin Cha tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con." Như vậy, cầu nguyện là đồng hóa ý muốn của mình với ý muốn của Thiên Chúa và phải hành động để ý muốn của Chúa được thể hiện trên mặt đất nầy: "Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Thế nhưng, chúng ta thường chỉ biết cầu xin hơn là cầu nguyện, và có những lời cầu xin hết sức vụ lợi, ích kỷ. Chẳng hạn xin cho "trúng tuyển, trúng số, trúng mánh…" Hoặc chúng ta chỉ nghĩ đến Chúa khi chán nãn, thất vọng, để than thở, kể lể, như bắt Chúa phải thông cảm những nỗi ấm ức trong lòng mình. Còn gì vô lý và sai lầm hơn khi chúng ta cứ coi Thiên Chúa như một "Thần Tài", như một "Thủ kho" để xin Ngài những nhu cầu mà đúng ra, với tự do, khối óc và hai bàn tay Chúa ban cho, chúng ta phải tự làm lấy, tự xoay xở lấy với sự trợ giúp của Chúa và dưới ánh mắt yêu thương của Ngài. Nếu chỉ cầu xin bằng môi miệng mà chẳng chịu làm gì cả, thì lời cầu xin đó có khác gì những bùa chú, phù phép của hạng người mê tín dị đoan: Xin cho có lương thực hằng ngày mà mình cứ ngồi không, hoặc nằm ngữa chờ sung rụng, thì làm sao có lương thực được? Hoặc xin cho mọi người được ấm no hạnh phúc, mà mình cứ áp bức, bóc lột, làm điều bất công, hay là cứ để cho những chuyện bất công ấy lan tràn mà không chịu tranh đấu để đòi hỏi công bình, đòi quyền sống của con người, thì làm sao có ấm no, hạnh phúc, hòa bình được? Chính vì thái độ nầy mà nhiều khi tôn giáo bị mang tiếng là mê tín, là thuốc phiện ru ngủ dân chúng!

Vậy, thưa anh chị em, chúng ta phải cầu xin như thế nào?

Nếu phải cầu xin thì chúng ta phải cầu xin một cách kiên trì với một xác tín, tin tưởng vào tình thương của Cha trên trời, Ngài tốt lành, nhân hậu hơn Cha dưới đất vô cùng. Vì người đời mà còn cho bạn bè vay mượn khi bạn bè năn nĩ, khuấy rầy, huống chi là Thiên Chúa, Ngài là người Cha yêu thương mọi người, con cái, chắc chắn sẽ ban cho ta điều chúng ta cầu xin: "Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ thấy; hãy gỏ, sẽ mở". Người cha nào mà không giúp đỡ con cái khi cần thiết, không cung cấp những điều thích hợp khi chúng đã xin. Chúa là Cha nhân từ, Ngài cũng không thể làm khác được, nhất là chẳng bao giờ cho cái gì sinh nguy hại cho con cái. Bởi vậy, điều chúng ta xin Thiên Chúa phải là điều thích hợp, vì Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta "bánh" chứ không cho "hòn đá"; muốn ban "cá" chứ không cho "con rắn", muốn ban "trứng" chứ không cho "bọ cạp". "Hãy xin sẽ được", nhưng với điều kiện là xin những gì thực sự giúp đời sống thêm tốt đẹp, tìm những gì dẫn đến ơn cứu độ, đạt đến cứu cánh tuyệt đối của con người, đồng thời phải kết hợp giữa sự giúp đỡ của ơn Chúa với việc làm trong khả năng Chúa đã ban cho mỗi người.

Cuối cùng, ơn đặc biệt mà Chúa sẽ ban cho những ai xin Ngài đó là Thánh Thần, vì Thánh Thần sẽ là Đấng cầu xin trong chúng ta, bảo đảm lời cầu xin là xác đáng, và cũng chính Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết, vì Ngài là ơn huệ của Thiên Chúa ban cho loài người.

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Thánh lễ là dịp tốt nhất giúp chúng ta cầu nguyện có hiệu lực. Vì chúng ta cầu nguyện chung với cả Giáo Hội, chúng ta cầu nguyện theo lời Chúa truyền dạy, chúng ta cầu nguyện nhờ công ơn vô cùng của Chúa Kitô, với Người và trong Người. Xin cho chúng ta biết cầu nguyện và xin Chúa nhận lời cầu xin của chúng ta và của tất cả mọi người.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ


SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là thái độ sống căn bản của Kitô hữu. Trong cầu nguyện và nhờ cầu nguyện con người gặp gỡ Thiên Chúa, được nối kết và gắn bó mật thiết với Người. Cầu nguyện có khả năng mang lại sức mạnh cho đời sống đức tin. Không cầu nguyện thì không còn là Kitô hữu. Chắc hẳn ý thức được điều đó, các môn đệ đã xin Chúa Giêsu dạy cầu nguyện. Các bản văn lời Chúa hôm nay nêu bật sức mạnh và vai trò quan trọng của việc cầu nguyện trong đời sống đức tin.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA: Tin Mừng Lc 11,1-13

Kinh Lạy Cha và hiệu lực của việc cầu nguyện

Đáp lại yêu cầu của các môn đệ xin Người dạy cho biết cách cầu nguyện, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ kinh Lạy Cha, đồng thời, qua các dụ ngôn sau đó, Người cũng cho thấy sức mạnh và hiệu quả của việc cầu nguyện. Cầu nguyện là đi vào tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Cha, để từ đó, đón nhận được ơn sủng của Chúa cũng như khả năng sống theo Ý Chúa.

a. Với kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ không chỉ biết cách cầu nguyện như thế nào mà còn đưa các ông đi vào trong mối quan hệ mật thiết với Thiên Chúa. Thiên Chúa chính là Cha. Cầu nguyện là sống tương quan con thảo với Chúa Cha; sống tương quan huynh đệ với mọi người trong Thiên Chúa.

b. Các ý tưởng cầu nguyện của kinh Lạy Cha cho thấy cầu nguyện không chỉ là xin ơn mà còn là làm sao cho Danh chúa được hiển vinh; là đón nhận và thực thi ý Chúa; là lên đường xây dựng Nước Chúa.

c. Với các dụ ngôn người bạn bị quấy rầy, Chúa Giêsu cho thấy hiệu quả lớn lao do việc cầu nguyện mang lại. Nếu biết bền tâm cầu nguyện thì chắc chắn luôn được Thiên Chúa nhận lời. Thiên Chúa là Cha nhân hậu luôn luôn ban cho con cái mình những điều thiện hảo.

II. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Lạy Thầy! Xin dạy chúng con cầu nguyện:

Theo nhiều nhà tu đức và truyền thống của Giáo hội thì cầu nguyện là hơi thở của linh hồn. Một linh hồn cầu nguyện là một linh hồn đang sống động. Nhờ Bí tích Thánh tẩy, con người được hiệp thông sự sống của chính Thiên Chúa; được gọi Thiên Chúa là Cha. Một mối tương quan tình yêu đã được thiết lập giữa Thiên Chúa và chúng ta. Thiên Chúa là Cha còn chúng ta là con cái của Ngài. Mối tương quan đó có sống động, tồn tại và phát triển hay không tùy thuộc vào thái độ, vào đời sống cầu nguyện của mỗi cá nhân. Chính trong cầu nguyện mỗi người ngày càng thắt chặt và đi sâu vào trong thân tình với Thiên Chúa là Cha. Chúa Giêsu đã luôn luôn cầu nguyện. Người đã dạy kinh Lạy Cha sau khi cầu nguyện riêng. Do đó, kinh này phát xuất từ chính kinh nghiệm cầu nguyện của Người. Kinh Lạy Cha phản ánh mối tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha, và Người đã hướng dẫn để mọi người cùng sống mối tương quan đó với Người.

Cầu nguyện cần thiết như thế cho nên, phải bắt chước các môn đệ cầu xin Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện. Không thể nào sống mối tương quan mật thiết với Chúa Cha nếu không biết cầu nguyện, không chịu cầu nguyện và không chân thành cầu nguyện.

2. Lạy Cha chúng con ở trên trời:

Khi dạy mọi người cầu nguyện gọi Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu đã đưa con người đi vào một mối tương quan hoàn toàn mới mẻ. Qua kinh này, Người thông ban cho môn đệ và những ai tin vào Người quyền gọi Thiên Chúa là Cha như Người. Thiên Chúa là Cha là động lực mạnh mẽ của mọi kinh nguyện Kitô giáo. Gọi Thiên Chúa là cha là ơn huệ vô song mà người Kitô hữu nhận được từ nơi Thiên Chúa. Ơn huệ này là nguồn của mọi ơn huệ vì nhờ đó, con người được trở nên con cái, được đồng thừa tự với Chúa Giêsu Kitô, Con Một Chúa Cha. Khi trở nên con Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha thì cũng đồng thời, được nối kết với mọi người để trở nên anh chị em của nhau. Lời kinh "Lạy Cha chúng con ở trên trời" nói lên thân phận của Kitô hữu là con Chúa, là anh chị em của nhau; nói lên niềm hy vọng vì sẽ thuộc về Nước Trời; nói lên tình yêu hiệp nhất của Kitô hữu.

Kinh Lạy Cha là câu kinh quen thuộc chắc hẳn mọi người đều thuộc làu, đều đọc hằng ngày. Tuy nhiên, mỗi khi vang lên lời kinh ấy trên môi miệng, người đọc có thực sự sống hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha không? Có thực sự ý thức và sống mối tương quan huynh đệ với mọi người chung quanh không?

3. Hãy xin thì sẽ được:

Kết thúc dụ ngôn người bạn bị quấy rầy, Chúa Giêsu khẳng định: Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho. Những lời này vừa gợi mở cho chúng ta niềm hy vọng trong cầu nguyện vừa dạy chúng ta thái độ tin tưởng và sự bền tâm cầu nguyện. Chắc chắn không ai cầu nguyện nếu không tin tưởng, không hy vọng. Lời Chúa Giêsu không phải là một lời hứa nhưng Người nói lên một thực tại. Thiên Chúa là Cha nhân hậu luôn lắng nghe và thỏa mãn mọi lời con cái nài van. Thiên Chúa sẽ ban không chỉ những gì chúng ta xin mà còn ban hơn nữa, ban chính Chúa Thánh Thần, là nguồn hồng ân. Đấy cũng chính là sức mạnh và hiệu quả của lời cầu nguyện. Từ kinh nghiệm nài van của Abraham khi cầu xin cho thành Sôđôma (bài đọc I) đến dụ ngôn trong Tin mừng, tất cả gợi lên cho chúng ta bài học quí báu: Hãy cầu nguyện, cầu nguyện không ngừng. Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta hơn cả những gì chúng ta ước mong.

Tin mừng hôm nay hướng dẫn chúng ta, những Kitô hữu cách thức, thái độ phải có khi cầu nguyện và giá trị vô song của cầu nguyện. Dựa vào đó, mỗi người hãy nhìn lại đời sống cầu nguyện của mình. Tôi đã và đang cầu nguyện như thế nào?

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa là cha chúng ta, Ngài hằng yêu thương chăm lo cho chúng ta với tất cả tình phụ tử. Trong niềm tin tưởng, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội qua đời sống kinh nguyện và Thánh lễ có trách nhiệm khẩn cầu Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại. Chúng ta cùng cầu nguyện cho đời sống cầu nguyện của Giáo hội ngày càng phong phú hơn để đưa được nhiều người trở về với Chúa là Cha và làm cho Nước Chúa ngày càng phát triển.

2. Mọi người đều được mời gọi trở nên con cái của Chúa và là anh chị em của nhau. Chúng ta cùng cầu nguyện cho thế giới hôm nay có hòa bình và công lý, cho xã hội ngày càng thắm đượm tình người hơn.

3. Được qui tụ lại trong tình Thiên Chúa là Cha. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết sống cầu nguyện, nhờ đó, mọi người biết xây dựng và phát triển tình yêu thương hiệp nhất trong gia đình, trong cộng đoàn cũng như trong toàn thể Giáo hội.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là Cha nhân hậu. Xin nhìn đến đời sống đức tin của chúng con là con cái Chúa. Xin gia tăng niềm tin và niềm hy vọng nơi chúng con để tất cả mọi người biết chuyên cần cầu nguyện và mọi lời cầu nguyện chúng con dâng lên làm đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
 


HTMV Khoá 10 – ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn