Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XVIII Thường Niên B

Tin Mừng Ga 6: 24-35: Những người Do Thái chạy theo Đức Giêsu vì dấu lạ hoá bánh. Đức Giêsu trách cứ họ vì chạy theo lương thực trần thế chóng qua, khuyên họ nên tìm "lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh".

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 18 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B

NGÀY 05/08/2018



(Ga 6,24-35)

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
CHÚA GIÊSU LÀM NO THỎA KẺ TIN NGUỜI

(Ga 6,24-35).

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Chúa Giêsu có trả lời câu hỏi của người Do thái "Rabbi, Ngài đã đến đây bao giờ" (c.25) không? Tại sao?

2. Chúa Giêsu khuyên người Do thái hãy "lao công... vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời" (c.27). Người Do thái hỏi đâu là "những công việc (số nhiều) của Thiên Chúa". Họ nghĩ đến cái gì ? Tại sao gian thích dùng động từ "tin vào" hơn là danh từ "đức tin"?

3. Đâu là sai lầm đến Do thái mắc phải khi đòi nhiều dấu chỉ để tin vào Chúa Giêsu (c.30) ?

4. Phải hiểu cc.32-33 thế nào?

5. Công thức "Ta là" (c.35) cảm hứng từ đâu và có nghĩa gì?

6. câu 35b nhắc đến Mc 24, 18-20. Nhưng công thức của Chúa Giêsu không nói ngược với công thức của Cựu ước sao?

1. Câu hỏi vụ lợi của người Do thái (c.25) đã khiến Chúa Giêsu đưa ra một câu trả lời mà bên ngoài chẳng phải là một câu trả lời thực (x. 3,2-3). Thật vậy, câu đối đáp của Chúa Giêsu nhắm đến thái độ mà câu hỏi của họ không dấu nổi. Họ đã thấy các dấu chỉ hơn một lần (6,2; 2,23-25) nhưng vẫn không chú ý và không muốn hiểu. Họ chỉ quan tâm đến bánh, đến sự no thỏa vật chất (c.12) ; phép lạ đã chẳng mang lại cho họ ánh sáng về con người Chúa Giêsu (12,9). Vì bánh? Cũng như rượu ở Cana hay nước trong câu chuyện với người nữ Samaria, tự nó không có giá trị; đó chỉ là một phương tiện Chúa Giêsu dùng dể mặc khải mầu nhiệm bản thân của Người thôi.

2. Người Do thái hiểu sai ý nghĩa của động từ Ergazesthai "lao công, làm việc". Họ lẫn lộn các công việc của Thiên Chúa với những công việc họ hoàn tất vì Thiên Chúa. Thật ra, phải công nhận rằng câu hỏi của họ là một phản ứng tự nhiên sau mỗi lần Chúa Giêsu giảng dạy; nơi khác trong Tân tước, nó biểu lộ một thiện chí hối cải (Lc 3,10,.12.14; Cv 2,37; 16,30; Lc 10,25-37); ngược lại trong Gioan, nó cho thấy họ chẳng hiểu gì. Ở đây, câu hỏi vấp phải lối chơi chữ xây dựng trên hạn từ "lao công Các người Do thái nghĩ rằng họ có thể tự chiếm lấy sự sống vĩnh cửu, với điều kiện hoàn tất một vài điều buộc nào đó. Chữ "các công việc của Thiên Chúa" làm liên tưởng đến vô số quy định của nền luân lý quá phức tạp của họ (Mt 19,16; 22,34-40). Lập tức Chúa Giêsu thu các quy định này vào một đòi hỏi đơn sơ nhất nhưng cũng căn để nhất, một công việc duy nhất mà họ phải hoàn thành là tin vào Đấng Cha sai, và như vậy là nhìn thấy trong các hành vi của Chúa Giêsu những công việc cánh chung của Thiên Chúa. Công việc duy nhất của họ tương ứng với công việc duy nhất của Chúa Giêsu: hoàn tất công việc của Cha Người.

Trong lúc danh từ pistis (đức tin) được dùng nhiều nơi trong Tin mừng Nhất lãm và các thư Phaolô, thì Tin Mừng thứ 4 xem ra không biết đến. Bù lại, động từ pisteuô (tin) xuất hiện dưới ngòi bút của thánh sử luôn đến nỗi gây kinh ngạc. Các sự kiện này có ý nghĩa. Sở dĩ Gioan luôn bàn đến hành vi tin thay vì đức tin trừu tượng, là vì ông luôn nghĩ tới sự dấn thân mà nhờ đó người ta trở nên môn đồ của Chúa, theo một quyết định lặp đi lặp lại không ngừng ở mọi cấp độ, quyết định này chất chứa lòng tin tưởng vào Chúa.Giêsu. Do đó, phù hợp với thành ngữ Hy bá tương ứng, kết cấu văn phạm của động từ "tin" (pisteuein) với túc từ ở đối cách có chữ eis đi trước ("tin vào ..." 36 lần trong Tin mừng, 3 lần trong các thư ), đáng được chú ý cách đặc biệt: kết cấu này chỉ gặp 8 lần trong phần còn lại của Tân Ước.

3. Vì ước muốn quá đỗi những bằng chứng sờ mó được (4,48; x. Mc 8,12tt) nên người Do thái không lấy làm thỏa mãn. Việc mặc khải về Con Người vượt quá sức hiểu biết của họ. Ngược lại, họ hiểu rằng Chúa Giêsu xuất hiện trước họ với uy quyền của một Đấng được Thiên Chúa sai. Nhưng cần phải chú ý và việc kết câu động từ pisteuein với dữ cách datif (thay vì đối cách accusatif với eis) biện hộ cho nghĩa này rằng họ thay thế hành vi tin vốn đòi buộc họ dấn thân, bằng một sự trao đổi: "Vậy thì ông làm dấu gì để chúng tôi thấy là tin ông?" (hin pisteusômen soi). ít nhất người phải tỏ ra bằng Môisen, kẻ đã nuôi dân Hy bá, không phải chỉ một lần, nhưng suốt 40 năm ròng rã (Xh 16,35).

Thật thế, sai lầm tiềm ẩn trong những đòi hỏi của họ là cho rằng để tin vào Chúa Giêsu, các dấu chỉ bên ngoài phải đóng vai trò tiên quyết, quan trọng. Tự bản ch.ất, các dấu chỉ dẫn đến ngưỡng cửa đầu tiên của đức tin, đó là điều được xác nhận qua câu nói "Giả như Ta đã không làm giữa họ những công việc chưa hề có ai làm, thì họ đã chẳng có tội" (15,24, x. 10,25; 12,37tt). Nhưng bảo rằng có chúng là đủ thì không. Trước tiên là vì, bị ràng buộc với những nguyên nhân thuần lý, đức tin như thế sẽ chẳng đi xa quá lý trí, và thành ra sẽ quá nông cạn; sau đó là vì nó sẽ phải hứng chịu sự thăng trầm của các cảm giác. Làm sao không nghĩ đến lời Chúa Giêsu phàn nàn viên vương công một ngày nào đó: "Nếu các ngươi không thấy dấu thiêng và điềm lạ, thì các ngươi sẽ chẳng tin phải không ?" (4,48).

Người ta có thể kết luận là việc tri giác những dấu chỉ như thế thật không cần thiết: "phúc cho những ai chẳng thấy mà tin" (20,29). Trước đó Tôma đã tuyên bố rộn ràng: "Nếu tôi không thấy các dấu đinh nơi tay Người, xỏ ngón tay tôi vào lỗ đinh, cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, thì tôi sẽ không tin" (20,25'). Ông đã chẳng từ chối tin, nhưng đòi phải có những chứng cớ rõ rệt. Lời khiển trách của Chúa Giêsu đưa ông đến nguồn tin tưởng cao hơn. Sở dĩ mọi người đều được kêu gọi, chứ không bị ép buộc tin nhờ những hiển nhiên, đó chính là vì trong thâm cung lòng họ, nơi Thiên Chúa chỉ xâm nhập theo cách đặc biệt của Ngài, mỗi người được tự do lắng nghe Ngài (6,4-5,25; 8,47) hay không (5,38; 8,43; 12,47). Song le con người cũng phải định thái dộ. Điều quan trọng đối với họ không phải là trôi theo ý chí thoáng qua, mà là tự quyết định khi bị đặt vấn đề.

4. Các câu 32-33 đòi hỏi một bài giải thích. Chúa Giêsu nói: "Không phải Môtsen đã cho các ngươi bánh bởi trời. Sự phủ quyết có thể nhắm tới Môisen (không phải Môisen, nhưng Thiên Chúa) hay nhắm tới bánh bởi trời (bánh bởi trời này không phải là manna); trong thực tế, sự phủ quyết liên quan đến vế thứ hai hơn: những gì Môisen đã ban cho tổ phụ các ngươi đúng là đã từ trên mà xuống, nhưng chẳng phải là bánh thật bởi trời. Bánh thật bởi trời, bánh hoàn hảo, Cha đang ban cho bây giờ, và manna chỉ là một tiền vị của bánh ấy mà thôi.

Bánh bởi trời hay bánh của Thiên Chúa tiếp đó được xác định bởi hai tiếng đồng cách: từ trời xuống, ban sự sống vĩnh cửu. Trong hy ngữ "bánh" (artos) ở giống đực thành ra người ta có thức dịch (x.6.34) bánh của Thiên Chúa là cái từ trên trời xuống, hay bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống. Cách dịch thứ hai hay hơn vì diễn từ muốn đi từ manna hay từ bánh sang con người Chúa Giêsu. Người là bánh của Thiên Chúa, vì Người không đến từ một trung gian nhân loại nhưng trực tiếp từ Thiên Chúa. Hình ảnh bánh lùi về sau, là người ta nhấn mạnh đến những đặc tính của bánh Thiên Chúa ấy : từ trời xuống, ban sự sống vĩnh cửu.

Như thường lệ, người Do thái hiểu sai ý nghĩa những lời của Chúa Giêsu. Họ không kề chi đến con người của Con Người. Họ tiếp tục mơ ước một thứ bánh sẽ từ trên trời rơi xuống. Như người nữ Samaria (4,15) và như đã thường làm trong nhiều trường hợp tương tự, họ nài xin Chúa Giêsu ban cho họ, đều đặn và luôn luôn, thứ bánh nhưng không ấy. Nhưng cái Chúa Giêsu ban, Người ban một lần thay cho tất cả. Và nhất là người không ban một cái gì, nhưng ban chính bản thân cho họ.

5. Người ta đã từng viết nhiều về công thức Chúa Giêsu dùng để mặc khải chính bản thân: "Ta là" (egô eimi ), về ý nghĩa của nó trong Tin Mừng thứ tư và nhất là về nguồn gốc của nó. Thật vô ích khi đi tìm nguồn gốc của công thức này trong Ngộ đạo thuyết hay trong các trào lưu tôn giáo thời bấy giờ. Lời xác quyết của Gioan "Ta là" không quy tụ trong nó tất cả các tước hiệu đã xuất hiện nơi khác: phần lớn, công thức chỉ diễn tả một tước hiệu. Ngoài ra, chúng ta hãy lưu ý rằng các tước hiệu này không phải là tiêu biểu cho trào lưu tôn giáo này hay tôn giáo khác, nhưng chỉ là những biểu tượng của các giá trị nhân loại phổ cập: bánh, ánh sáng, nước v.v...các giá trị mà Thánh kinh nhắc đến thường xuyên. Lời xác quyết "Ta là" không đặt Kitô giáo hay Chúa Kitô đối lập với một trào lưu tôn giáo nào, lương dân hay gìả-Kitô giáo, nhưng với những giá trị sự sống trong Do thái giáo.

Khi dùng trống, các công thức . "Ta là" (8,24.28.58; 13, 19.) được trực tiếp cảm hứng từ những thành ngữ mà Thiên Chúa Cựu ước dùng để tự mặc khải (Xh 3,14; Hs 1,9 v.v...). Khi nói "Ta là", Chúa Giêsu xác quyết mình là cái mà Giavê đã tự mặc khải cho dân Israel. Đối với Gioan, những xác quyết này của Chúa Giêsu chắc chắn bao hàm nhiều lời tố giác ý hướng xấu xa của dân Do thái và nhấn mạnh đến tính cách duy nhất của trường hợp Người (Ta là và chỉ mình Ta), y như những xác quyết cùng loại của các ngôn sứ nhằm chống lại các tập tục thờ ngẫu tượng trong Israel. Chắc chắn, xác quyết "Ta là" bắt nguồn từ Do thái giáo.

Trong toàn bộ các công thức "Ta là nói trên, Chúa Giêsu tự đối chiếu với các giá trị sự sống của Cựu ước. Manna không phải bánh bởi trời, Người mới là bánh đích thực bởi trời và chỉ mình Người thôi Người là mục tử đích thật, ánh sáng đích thật, cửa duy nhất ... Những xác quyết "Ta là" này trình bày Chúa Giêsu như là giá trị sự sống quyết định và vì thế như là giá trị duy nhất còn đáng giá, khiến cho giá trị của Do thái giáo phải bị chìm hẳn vào hư vô hoàn toàn. Thành thử bối cảnh là bối cảnh Do thái, chứ không phải là bối cảnh ngoại giáo hay ngộ đạo. Công thức cũng có cùng giá trị biện chứng y như công thức của Cựu ước trình bày Giavê, và duy mình Ngài, "là" hay "Giavê là" - vị Thiên Chúa hằng nâng đỡ Israel nhờ sự hiện diện của Ngài. Những xác quyết "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi" của Tin mừng Nhất lãm phải được đặt song song với các thành ngữ vừa nói của Cựu ước vì chúng song đối nhau (Mt 5,22.28.32.39.44). những Gioan còn đi xa hơn: ông không chỉ lưu ý đến tính cách đa giá trị của giáo thuyết Kitô giáo hay của sự sống Kitô giáo, nhưng đến một giá trị sự sống duy nhất là con người Chúa Giêsu.

Một vài nhà chú giải đếm được 7 câu xác quyết "Ta là" Đấy là điều có thể bác bẻ, vì một vài xác quyết có hình thức hỗn hợp và một số khác chỉ được lặp lại. Khó mà thấy trong đó một ý hướng của thánh sử. Đây là bản liệt kê các thành ngữ ấy: (Ta là) lãnh sự sống (6,35tt), ánh sáng thế gian (8,12; 9,5), cửa chiên (10,7-8), mục tử tốt lành (10, 11.14), phục sinh và sự sống (11,25), đường, sự thật và sự sống (14,6), cây nho đích thực (15,1-5). Những từ ngữ này giống cách nói đầy hình ảnh của Tin mừng Nhất lãm, chẳng hạn như giáo huấn bằng ngụ ngôn, phần giáo huấn mà hơn nũa năng làm nổi bật sự tương phản giữa nhiệm cục cứu rỗi Kitô giáo với nhiệm cục Cứu rỗi Do thái giáo. Nhờ công thức khoa đại "Ta là của ông, Gioan phá tan sự hàm hồ nơi ngôn ngữ Tin tưởng Nhất lãm, đem lại cho ngôn ngữ này một giải thích và còn nhấn mạnh đến sự đối lập với Do thái giáo. Sự nhấn mạnh này càng rõ hơn khi ông củng cố chính công thức bằng một tính từ hay một túc từ : bánh sự sống, mục tử tốt lành, cây nho đích thực. Ý nghĩa đầu tiên của những tiếng xác định này là quả quyết: chỉ những tước hiệu này mới là "đích thực": những gì người Do thái tưởng tìm ra trong nhiệm cục cứu rỗi của Cựu ước, thì đã bị vượt quá bởi Chúa Giêsu. Người là bánh chung quyết, bánh cánh chung, bánh duy nhất còn có tầm quan trọng.

Cách dịch Ta là bánh sự sống không diễn tả rõ ràng sự mâu thuẫn phân cách Chúa Giêsu và quan niệm Do thái. Bằng cách này hay cách khác, phải cho thấy rằng duy chỉ Chúa Giêsu là bánh sự sống: bánh sự sống chính là Ta. Công thức "Ta là" không chỉ gán cho Chúa Giêsu một tước hiệu, nhưng còn nhấn mạnh đến tính cách chung quyết và độc hữu của giá trị sự sống mà Người khẳng quyết và khẳng quyết trước một thế gian không hiểu biết cùng cứng lòng. Các công thức "Ta là" đã được phát sinh từ khía cạnh chứng từ của Tin mừng thứ tư cuốn Tin mừng khẳng định sự sống phong phú mà thánh sử đã kinh nghiệm được qua cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, phong phú sánh với dức tin trước kia của ông. Nơi đâu mà sứ điệp của Tin mừng Nhất lãm còn là trình thuật", thì Gioan biến thành chứng từ.

Chúa Giêsu tự gọi là bánh sự sống, hay là bánh đích thực ban sự sống sung mãn, trong lúc manna không giải thoát con người khỏi cái chết (6,49). bánh này thỏa mãn nhu cầu và người ta tự nhiên đi từ đói sang khát (4,14 ;x.Kh 7,16). Đối với chúng ta, xem ra hơi cầu kỳ khi lấy bánh làm biểu tượng về một con người: song phải biết Cựu ước đã trình bày sự khôn ngoan nhân cách hóa như là một của ăn và một thức uống (Cn 9,5; Lc 24,31; Is 49, .. Ở đây không có đối lập giữa Chúa Giêsu và Đức Khôn Ngoan, như chúng ta sẽ thấy chốc nữa mà chỉ có sự đối lập giữa manna và Chúa Giêsu : sự khác biệt giữa manna trong sa mạc và Con người là ở chỗ con Người từ trời xuống, còn manna thì không.

6. Cần phải lưu tâm đặc biệt đến ba công thúc egôeimi của diễn từ về bánh sự sống: cc. 35.48-50.51. Chúng được đi kèm theo bằng một lời mời gọi tin vào Chúa Giêsu, đến cùng Người hay hơn nữa nuôi dưỡng bằng bánh bởi trời là chính Người thành ra chúng hoàn toàn giống các đoạn khai triển của Châm ngôn 8-9 và Huấn ca 24, trong đó lời tự khen của Đức khôn Ngoan thần linh, tự khen bằng cách đưa cái "tôi" ra trước, luôn luôn được kèm theo bằng lời mời gọi lắng nghe nó, đến cùng nó và ăn lấy nó: "Và giờ đây, hỡi các con, hãy nghe Ta" (Cn 8,32); "Hãy đến với Ta, hỡi những kẻ ao ước Ta, hãy lo hưởng hoa quả của Ta" (Hc 24,19). Thế mà hình như công thức đến với (Hc.14, 18; 4, 15; 6, 18) của Đức Khôn Ngoan cũng là công thức tiêu biểu mà Đấng Mặc Khải thần linh thiêng nói với các tâm hồn (Bultmann). Trong Ga 6, công thức này được dùng lại nhiều lần, ở cc. 35.37.44.65; cũng xin xem tiếng kêu của Phêrô ở c.67 "Lạy Ngài, chúng tôi sẽ bỏ đt theo ai?".

Những lời của Chúa Kitô ở c.35: "Chính Ta là bánh sự sống, ai đến cùng Ta sẽ không còn đói và ai tin vào Ta sẽ không còn khát bao giờ" nhắc nhở cách đặc biệt Hc 24,l8-20: "Hãy đến với Ta, những kẻ ao ước Ta ... Ai ăn Ta sẽ còn đói, kẻ uống Ta sẽ còn khát". Thoạt nhìn, phải chăng những lời này nghịch với những lời trên? Nhưng khi xét kỹ, mâu thuẫn rõ ràng không có: môn đồ của Đức Khôn Ngoan sẽ luôn đói khát, bởi vì đó là một của ăn không bao giờ nhàm; các môn đồ của Chúa Giêsu sẽ không còn đói khát, bởi vì Thầy của họ, Đấng tự hiến trong mầu nhiệm. Thánh Thể, có khả năng thỏa mãn mọi khát vọng tôn giáo của họ.

Chúng ta có thể đào sâu hơn nữa và tìm hiểu nguyên nhân vì sao công thức của Tin mừng thứ tư khác với công thức của sách Huấn ca. Đó là vì công thức Gioan cũng thức đến lời tiên báo của Isaia Đệ nhị về cuộc Xuất hành nới; trong sách này có nói rằng những người hồi hương sẽ không còn đói khát nữa, một dữ kiện vốn cũng thuộc về các cách diễn tả bữa tiệc của thời thiên sai (Is 55,1 ; 65,13). Do đó, bản văn của Gioan 6,35 như là sự tổng hợp hai chủ đề bổ túc cho nhau là bữa tiệc cánh chung và bữa tiệc của Đức Khôn Ngoan: sự no thỏa hoàn toàn, khai trừ cơn đói khát, rõ ràng đem lại cho bản văn một màu sắc canh chung; tuy nhiên chắc chắn Hc 24,20 là bản văn song song gần bản văn Gioan hơn cả.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Thiên Chúa đã niên ấn": con người đến từ trời là các dấu chỉ Người hoàn tất là những hành vi qua đó Thiên Chúa bảo đảm rằng sứ mệnh Người là chích thực (3,33) là nhân loại có thể nhờ Người mà chiếm được sự sống vĩnh cửu. Một vài nhà chú giải coi công thức "niêm ấn" là một ám chỉ đến phép rửa của Chúa Giêsu, vì họ thấy cùng từ ngữ đó được dùng trong thần học phép Rửa tội (x. Ep 1, 13; 4,30; Kh 7,3-4).

"Công việc của Thiên Chúa ... là các người tin vào Đấng Ngài đã sai đến": Gioan sử dụng, bằng cách nhuận sắc lại một thành ngữ của Phaolô (Rm 3,18) và duy nhất hóa tất cả thái độ của Kitô hữu thành đức tin vào Đấng Thiên Chúa sai đến.

"Vậy thì ông làm dấu chỉ gì để chúng tôi thấy mà tin ông": Lời yêu cầu này không có đáp trả, bởi vì không thể đáp trả Chẳng một dấu chỉ nào có thể minh chứng (mặc dầu nhiều dấu chỉ gợi lên cho thấy) Chúa Giêsu là sứ giả Thiên Chúa sai. Một bằng chứng có tính cách ép buộc bất thành hóa công việc của Thiên Chúa là tin vào Chúa Giêsu. Ở đây những người đối thoại với Chúa Giêsu bắt đức tin lệ thuộc việc chứng kiến những điềm lạ vĩ đại; theo họ, Đấng Thiên sai phải hoàn tất được nhiều phép lạ trối vượt các phép lạ mà Israel xưa từng mục kích (x. Mc 8,11 ; Mt 16,1; 12,38), đặc biệt những phép lạ thời Xuất hành. "Ngài đã cho họ ăn bánh bởi trời xuống": Việc ban manna hằng ngày trong sa mạc đã được nhiều tiến sĩ luật xem như là dấu lạ lớn nhất của thời Xuất hành (Xh 16, 15 ; Ds 11,7 ; 21,5; Đn 8,3; Kn 16,20; ở đây, Gioan trích dẫn Tv 78,24.

KẾT LUẬN

Một lần nữa, Chúa Giêsu đưa thính giả của Người trở lại mầu nhiệm Con Người (c.27), nghĩa là nghĩ đến nhân vật thần thiêng mà Đanien đã thấy bên cạnh Thiên Chúa (Đn 7,13-14), nhân vật của tương lai thiên sai. Đến từ trời, Con Người, tức Chúa Giêsu, sẽ là sứ giả đích thực của Cha, được thánh hiến để thi hành sứ mệnh và được xác nhận qua các phép lạ của Người. Hơn hẳn Môisen trong các dấu lạ cũng như trong chính bản thân (c.32), Người sẽ phát ban một thứ lương thực siêu nhiên cho những kẻ theo Người.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1."Hãy lao công đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời (c.27). Y như nước luôn múc từ giếng không làm giảm cơn khát của người đàn bà xứ Samaria (4,13), thì "lương thực hay hư nát" cũng chẳng có sức làm chúng ta no thỏa, bảo đảm cho chúng ta một cuộc sống lâu dài và đích thực; vì một khi ăn vào, nó liền bị tiêu hóa và cuối cùng duy trì tính háu ăn của ta, nhận chìm chúng ta vào sự lệ thuộc bắt buộc, bất lực, tha hóa của khát vọng không bao giờ nguôi, của lòng ao ước đưa tới thất vọng vì sự chết. Của ăn trần thế, cho dù thú vị nhất thời đến đâu vẫn không thể làm no thỏa tâm hồn của con người. Thay vì cố gắng đổ đầy túi thèm khát vô đáy của xác thịt, chúng ta phải "ra công làm việc vì thức ăn lưu lại mãi đến sự sống vĩnh cửu, nghĩa là thức ăn biến đổi chúng ta nên những con người sống chính cuộc sống của Thiên Chúa và hiệp thông vào nguồn phát sinh không bao giờ cạn của Người. Lúc đó niềm ao ước và cơn đói khát của chúng ta sẽ không còn ám ảnh chúng ta nữa; và thay vì lo lắng thái quá cho việc sinh nhai (x. Mt 6,25tt), chúng ta sẽ "đói khát sự công chính" (Mt 5,6), sẽ tìm được của ăn là làm theo ý Thiên Chúa chúng ta (Ga 4,34).

2. "Chúng tôi phải lao công vào việc nào của Thiên Chúa" (câu 28). Câu hỏi xem ra nói lên thiện chí của những người đối thoại với Chúa Giêsu. Nhưng theo văn mạch, nó thật là hàm hồ để được "ăn no nê" (c.26), người ta tỏ ra sẵn sàng đặt một giá nào đó; những công việc tốt họ sẽ thực thi làm cho họ xứng đáng ăn bánh bởi trời, họ tưởng như vậy. Đó là phản ứng thuần bản năng của tôn giáo loài người trong việc "bán buôn" với Thiên Chúa. Chúng ta chấp nhận làm tròn mọi điều kiện Ngài đặt ra, miễn là về phía Ngài, Ngài bảo đảm lợi ích cho chúng ta.

3. Nhưng Chúa Giêsu không quan tâm đến lối tiểu xảo đó "Công việc của Thiên Chúa, tức là các ngươi tin vào Đấng Ngài đã sai" (câu 29). Người đảo ngược viễn tượng: không còn vấn đề các công việc của chúng ta, việc mặc cả thô bỉ của chúng ta với Thiên Chúa nữa, nhưng là công việc mà Thiên Chúa hoàn thành trong chúng ta: đức tin vào Đấng Ngài sai đến. Điều này đòi hỏi ở chúng ta một cái gì khác hơn điều chúng ta đã dự liệu: không còn là một cái tối thiểu khiến chúng ta nên sòng phẳng một cách rẻ tiền, cũng chẳng là những dấu lạ nhân đức làm cho Thiên Chúa trở thành người mắc nợ chúng ta, song là việc cởi mở đón nhận hoạt động của Ngài, hoạt động biến đổi chúng ta tự căn để, làm ta trở về với Chúa Giêsu và đem chúng ta vào trường học của Người. Để Thiên Chúa xâm nhập như thế vào đời sống chúng ta và ra công làm việc, điều đó làm chúng ta sợ hãi, Để biện minh cho sự thối lui trước đòi hỏi này, chúng ta dùng một chiến thuật để câu giờ và đặt một điều kiện mới: "Vậy thì Ngài làm dấu gì để chúng tôi thấy mà tin Ngài? Ngài làm việc chi?" (x. c.30). Trong lúc Chúa Giêsu vừa hoàn thành một dấu chỉ, thì chúng ta muốn ép Người làm nhiều phép lạ càng lúc càng kỳ diệu hơn để chúng ta trơ trẽn lợi dụng. Thật ra, chúng ta đã thấy hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta, nhưng chúng ta luôn bị cám dỗ từ chối tin vào Ngài. Chúng ta luôn đòi hỏi những bằng cớ chứng minh sự hiện hữu và hoạt dộng của Ngài trong thế gian, những bằng cớ buộc chúng ta tin từ bên ngoài, trong lúc Thiên Chúa lại ưa nói cùng chúng ta từ bên trong bằng những dấu chỉ kín đáo vốn để chúng ta được tự do từ chối lời mời gọi của Ngài. Thiên Chúa muốn được những người con tự do mến yêu, chứ không muốn những tên nô lệ sợ hãi thờ kính.

4. "Ai đến với Ta ..." (c.35). Đức tin bao hàm một bước tự ý, một sự dấn thân. Người ta không thể chỉ ngồi nhìn như khán giả say sưa hay phê bình những gì Chúa Giêsu làm và nói để rồi tùy cơ lợi dụng. Chúa Giêsu chỉ cho no thỏa hoàn toàn và dứt khoát những ai dám bước cái bước quyết định của đức tin. Kẻ tài tử thích nhìn người từ xa thôi sẽ luôn đói. Những ai "đến cùng Chúa Giêsu sẽ được tràn đầy hoan lạc và an bình. Kẻ ấy sẽ khám phá hương vị đích thực của cuộc sống, là sống bình dị như con cái Thiên Chúa giữa đại gia đình nhân loại được tụ tập quanh Cha.


Noel Quession - Chú Giải

 
Ga 6,24-35

Bánh Hằng Sống (1)

 
Đức Giêsu đã không nhận vinh quang chính trị Người ta gán cho, sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều.

Vậy khi dân chúng thấy Đức Giêsu cũng như các môn đệ đều không có mặt ở bờ Biển Hồ Galilê thì họ lên chuyến đi Ca-phác-na-um tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ.

Vinh quang chính trị, lương thực trần thế thuộc bến bờ khác, thuộc lãnh vực nhân loại. Muốn gặp được Chúa thực sự, phải tìm Chúa "trên bờ bên kia". Do đó một diễn từ dài về "Bánh hằng sống" sẽ bắt đầu và là nội dung của chương 6 Tin Mừng theo Thánh Gioan. Chúng ta sẽ đọc trong 4 Chúa nhật kế tiếp.

Diễn từ này rất khác với những gì ta thường nghe Chúa nói trong 3 Tin Mừng nhất lãm, như vậy thực sự là của Chúa hay của Gioan ? Câu hỏi này đã được đặt ra từ thời các Giáo phụ tiên khởi trong Giáo Hội. Những nhà chú giải chân chính nhất ngày nay vẫn tôn trọng truyền thống và tóm lại trong câu trả lời như sau : "Chúng tôi luôn nghĩ rằng, bản chất của diễn từ nói về Bánh hằng sống chắc chắn là của Chúa, nhưng tư tưởng của Thầy được truyền lại cho chúng ta qua sự giải thích của Thánh Sử : Chính Thánh Gioan đã cho rằng phải thêm những điều đó vào. Đó cũng là điều Giáo Hội thường làm (A. Feuíllet).

Những gì Đức Giêsu thực sự đã nói, được thuật lại cho chúng ta bằng những ngôn từ, những kiểm nói soạn lại của Thánh sử. Được Chúa Thánh Thần linh hứng để viết Tin Mừng, Thánh Gioan chuyển tải cách trung thực những giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng không theo cách thuỷ như băng ghi âm. Nhờ suy ngẫm lâu dài người môn đệ trung thành, đã thấm nhuần giáo huấn của Thầy và chuyển đạt lại bằng những ngôn từ của chính mình. ông vừa là chứng nhân, ta là người được linh hứng.

Đức Giêsu đáp : "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng các ông đã được ăn bánh no nê".

Đức Giêsu nói chuyện với những nông dân miền Galilê đang vất vả để kiếm sống. Họ biết đói khổ và no đủ là thế nào, khi họ miệt mài làm việc để thùa thu hoạch có kết quả tốt. Cũng như với người đàn bà xứ Samaria bên bờ giếng, Đức Giêsu dựa vào một nhu cầu vật chất của thính giả làm khởi điểm, đó là những biểu tượng thông thường : đói khát bánh nước... Sự chẩn đoán của Đức Giêsu đối với những người nông dân này vừa đúng lài vừa khắt khe : Những gì họ mong đợi không phải là những "dấu chỉ của nước trời" mà là những "lợi lộc vật chất" họ có thể thu nhận được. Sự chẩn đoán này vẫn luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Những nông dân này có lẽ ít "duy vật" hơn chúng ta ngày nay. Nếu chúng ta đón nhận sự chẩn đoán này của Đức Giêsu để duyệt xét lại chính mình chúng ta sẽ khám phá ra rằng, phải chăng chúng ta cũng đói tiền bạc, đói quyền lực, sự kính trọng, an toàn, tiện nghi, và tiêu khiển ? Khi Đức Giêsu "giải gỡ" những vấn đề cho chúng ta, chúng ta sẵn sàng bước theo Người. Nhưng nếu Người thực hiện những "dấu chỉ gây rtgỡ ngàng" của nước Thiên Chúa không phù hợp với chúng ta, thì chắc chắn chúng ta cũng dễ dàng bỏ Người ?

Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận".

Chúa Giêsu dùng lương thục để so sánh, giúp chúng ta hiểu những gì Người mang đến cho nhân loại. Có hai thứ sự sống và hai loại của ăn : của ăn thân xác, cho ta sự sống dễ hư nát" và của ăn từ trời, cho ta "sự sống đời đời " Được Thiên Chúa tạo dựng và được dựng cho Thiên Chúa, nên con người đói khát Thiên Chúa. Ngoài Thiên Chúa, không gì có thể làm con người hoàn toàn thỏa mãn. Tất cả những lương thực trần gian không làm con người no thỏa. Đức Giêsu không dạy chúng ta khinh thường "lương thực hằng ngày" nhưng hãy ao ước "Bánh ban sự sống vĩnh cửu". Đức Giêsu không xúi chúng ta biếng nhác trong công việc cần thiết cho sự sống nhân thế, nhưng Người muốn chúng ta "làm việc" cùng với sự nhiệt tình như thể để tìm kiếm sự sống không thể hư mất được. Khác với Bouddha, Đức Giêsu không bảo chúng ta phải diệt dục, nhưng ngược lại phải thăng hoa nó : Anh em chớ hài lòng với cuộc sống chẳng qua của anh em... Anh em hãy ước muốn sự sống đời đời Hãy làm những gì cần thiết để chiếm được sự sống đó, và hãy sống sự sống vĩnh hằng ngay từ bây giờ .

Họ liền hỏi Người : "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những điều Thiên Chúa muốn ?" Đức Giêsu trả lời : "Việc Thiên Chúa muốn các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến".

Ở đây bắt đầu một mạc khải lạ lùng. Lương thực cốt yếu mà con người đói khát, đó chính là Đức Giêsu. Một quyết đáp có vẻ táo bạo và điên rồ, nhưng đã được kiểm chúng hằng triệu lần từ 2.000 năm qua. "Anh em hãy tin". Đó là công trình của Thiên Chúa nơi chúng ta. Tin, có đức tin đó là làm việc với Thiên Chúa, là cộng tác với Thiên Chúa Đấng muốn ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu của Người .

Họ lại hỏi : "Vậy chính ông, Ông đã làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? ông sẽ làm chi đây ? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép : Người đã cho họ ăn bánh bởi trời". Đức Giêsu đáp : "Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực".

Họ vẫn còn dừng lại tại chân trời quen thuộc của họ, họ vẫn luôn ở bờ bên này, Đức Giêsu tìm cách gợi lên trong họ những khát vọng cao siêu, khởi đi từ những nhu cầu vật chất. Nhưng ngày nay, chúng ta đang đói cái gì ? Mỗi ngày người ta nói với chúng ta rằng, con người sẽ có hạnh phúc khi mua một cái máy nào đó để làm việc nội trợ, ngậm một viên kẹo, dùng một thuốc khử mùi hay dầu gội dầu nào đó.. . Còn Đức Giêsu lại nói với chúng ta, những thứ "man-na" đó chỉ là một thứ thức ăn vật chất rất thô thiển, có thể nói là dành cho loài vật, nếu so với hạnh phúc mà Chúa muốn ban tặng cho ta. Các bạn có để ý đến một hiện tượng trong xã hội Tây phương mà chúng ta có thể gọi là hiện tượng "bú mút" : Suốt ngày, trên các đường phố, chúng ta thấy người ta ăn, nhai, ngậm, nuốt kẹo, đặc biệt là mọc lên rất nhiều hiệu bánh kẹo đủ loại. Những nhà phân tâm học nhận thấy trong hiện tượng này một sự thoái hóa, trở về tình trạng trẻ nít : Đứa bé thường tự giải buồn bằng cách mút ngón tay cái của nó. Nhưng đó không phải là dấu hiệu biểu lộ con người chỉ thích thỏa mãn với những lạc thú phiếm diện, hời hợt sao ?

Dĩ nhiên, Đức Giêsu đang đứng ở mức lãnh vực khác hẳn.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đói khát lường thực cốt yếu.

Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.

Chúng ta nên suy gẫm về sự lạ lùng mà những chữ này gợi ra cho ta không ? Chúng ta đã được tạo dựng cho Thiên Chúa. Dù muốn, dù không, cơn đói của chúng ta, chính là đói Thiên Chúa. Tiên tri I-sai-a đã nói "Tại sao phí tiền vào những của không làm no bụng". Sau khi đã đi tìm tất cả mọi lạc thú trần gian, Thánh Angustinô đã thú nhận rằng : "Lạy Chúa, tâm hồn con không nghỉ yên khi nó chưa được an nghỉ trong Chúa". Vâng, tâm hồn chúng ta rất rộng lớn, đến nỗi không gì có thể lấp đầy được ngoài một mình Thiên Chúa mà chúng ta được dựng nên vì Người. Sau mỗi lạc thú dục vọng lại sinh ra dục vọng, đó là dấu hiệu của sự đòi hỏi vô biên này.

"Bánh từ trời xuống" đó là man-na lương thực huyền siêu như bài đọc một Chúa nhật này đã nhắc cho chúng ta : Cái gì đây ? Man-na ? Người ta chờ đợi sự tái xuất hiện lương thực lạ lùng làm no thỏa, vào thời Đấng Mêsia. Nhưng khi lặp lại cách diễn tả truyền thống xa xưa, Đức Giêsu đã coi Man-na của thời Môisen chỉ là biểu tượng của "quà tặng từ trên cao", "lương thực bởi trời". Lời của Thiên Chúa. Theo sách Đệ nhi luật, mục đích sâu xa của phép lạ thời xuất hành không phải là để nuôi những người Do Thái về mặt vật chất trong sa mạc, nhưng nhằm giúp họ quen "tin tưởng" vào Chúa : "Con người không chỉ sống nhờ bánh mà còn nhờ những gì từ miệng Thiên Chúa phán ra" (Đnl 8,2-3) Đức Gtêsu đã mượn câu này của sách Đệ nhị luật để nói với Satan : "Bánh vật chất" không đủ. Sự liên hệ này cho thấy, "Đấng Kitô" của Tin Mừng thứ 4 theo Thánh Gioan không khác với Đức Giêsu lịch sử đã được mô tả trong 3 Tin Mừng kia (Mt 4,4 : Lc 4,4). Đức Giêsu cũng tuyên bố giáo thuyết của Người, hay hơn nữa, chính bản thân Người là lương thực : Con người không chỉ sống bằng bánh mà còn bằng lời Chúa.

Họ liền nói : "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy". Đức Giêsu bảo họ ? "Chính tôi là bánh trường sinh".

Quan niệm cho rằng lời Chúa, giới răn của Chúa là thức ăn thiêng liêng bổ dưỡng cho con người, cao quý hơn thức ăn thông thường đã có trong suốt Cựu Ước.

- A-mốt 8,11 : "Sắp tới những ngày, Ta sẽ cho nạn đói đến trong xứ, không phải đói bánh, không phải khát nước, mà là đói khát nghe Lò Thiên Chúa".

- Giêrêmia 15,16 : "Khi nghe lời của Người, tôi đã ăn ngấu nghiến. Lời Chúa là sự vui sướng hạnh phúc cho lòng tôi".

- Đức Giêsu theo Thánh Gioan (4,32-34).

Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết, đó là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy. 

Ai đến với Tôi, không hề phải đói ; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ.


Trong bài Thánh thư Chúa nhật hôm nay, Thánh Phaolô nói với chúng ta về những người dân ngoại đã để cho sự hư vô dẫn đắt họ (Ep 4,17-24). Nếu những hiệu bánh ngọt cũng đủ làm thỏa mãn chúng ta, thì thật là đáng tiếc ! Lạy Chúa, xin ban cho chúng con thứ bánh của Chúa, Này đây, tay con đang giơ lên cao...


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
" Ai đến với Ta sẽ không hề đói,

Ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ " .

 

BÀI TIN MỪNG : Ga 6, 24 - 35 

I. Ý CHÍNH 

Bài Tin Mừng hôm nay là phần đầu của bài giảng về Bánh Hằng Sống ( Ga 6, 22 - 72 ) . Trong phần đầu này Chúa Giêsu phân biệt hai thứ bánh : Bánh vật chất nuôi xác tức là Manna trong Cựu ước, bánh thiêng liêng nuôi hồn tức Thánh Thể Chúa Kitô trong Tân ước .

II. SUY NIỆM : 

1 / " Lúc đám đông không thấy Chúa ở đó " : 

Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu và các tông đồ bỏ đảo Giênêzarét trở về Capharnaum, nhưng Chúa không đi cùng thuyền với các Tông đồ vì Người còn lên núi cầu nguyện một mình ( Ga 6, 15 ) . Dân chúng biết rõ Chúa Giêsu không đi thuyền đó, nên họ đổ xô đi tìm Người, nhưng không gặp, một số xuống đò từ bên kia bờ hồ Tibêria để trở về . Khi về tới Capharnaum gặp Chúa, họ hết sức ngạc nhiên vì gặp Người ở đó rồi .

2 / " Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ " : 

Một câu hỏi rất ngạc nhiên, đơn sơ, tỏ lòng tha thiết với Chúa và muốn biết Người đến đây cách nào .

3 / " Thật, Ta bảo thật các ngươi " : 

Đây là kiểu nói biểu lộ sự xác tín của một người biết rõ và nắm vững vấn đề, Chúa Giêsu tỏ ra biết rõ và nắm vững điều Người sắp nói .

+ " Các ngươi tìm Ta không phải vì các ngươi đã thấy dấu lạ " Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi của dân chúng, nhưng nhân cơ hội này, Người đã giảng một bài dài và quan trọng quen gọi là bài giảng về Bánh Hằng Sống . Chúa Giêsu thấy rõ nhiều người trong đám đông tìm Người chỉ vì đã được ăn bánh no nê và trong thâm ý họ chỉ mong Người làm vua để nhờ Người ban cho hạnh phúc ở đời . Họ không tin Người vì Người, nhưng vì bánh Người cho : Vụ lợi .

4 / " Các người hãy gia công làm việc ..." : 

Người khuyên họ nên tìm thứ của ăn tồn tại không hư nát mà Người sẵn sàng ban cho họ . Vì đó là sứ mệnh của Người, sứ mệnh đã được Thiên Chúa đóng ấn nhận thực . Ấn tín này là các phép lạ Người làm .

5 / " Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa ? " : 

Nghe nói đến thứ của ăn lạ, những thính giả này cũng như người thiếu phụ Samaria ( Ga 4, 1 - 30 ) đem lòng thèm muốn vì thế họ muốn biết phải làm gì để được ăn thứ bánh đó .

6 / " Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng mà Người sai đến " : 

Chúa Giêsu chỉ cho họ thấy công việc họ phải làm là hãy tin vào Người là sứ giả của Thiên Chúa tức là Đấng thiên sai . Chữ tin ở đây hiểu theo thánh Gioan là trí vâng phục, lòng tin, cậy và yêu mến Chúa Giêsu ( Ga 3, 21 ; 14, 21 ) .

7 / " Ngài sẽ làm dấu lạ gì để chúng tôi thấy và tin Ngài ? " : 

Chúa Giêsu vừa nói dứt lời họ hiểu ngay Người tự xưng là Đấng thiên sai . Dù mới chứng kiến phép lạ bánh hóa nhiều hôm trước, nhưng họ chưa thoả mãn vì thế họ đòi một phép lạ đặc biệt làm chứng sứ mệnh của Người, như Môisen xưa đã làm cho Manna từ trời rơi xuống vậy .

8 / " Không phải Môisen đã ban cho các ngươi bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban ..." : 

Ở đây Chúa Giêsu muốn phân biệt : không phải Môisen đã ban Manna mà là Thiên Chúa ban, Môisen chỉ là người trung gian của Thiên Chúa . Hơn nữa Manna không phải là bánh đích thực từ trời ban xuống .

9 / " Vì bánh của Thiên Chúa phải là vật từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian " : 

Ở đây Chúa Giêsu muốn nêu lên hai đặc tính bánh của Thiên Chúa .

+ " Vật từ trời xuống " có ý nói đến chính Chúa Giêsu là Đấng từ trời xuống . Chính Người là bánh của Thiên Chúa vì Người không đến từ một trung gian nhân loại, như Manna được ban xuống qua trung gian Môisen, nhưng trực tiếp từ Thiên Chúa .

+ Ban sự sống cho thế gian : Bánh này ban sự sống đời đời, chứ không như Manna ăn rồi lại đói và không giải thoát con người khỏi cái chết ( Ga 6, 49 ) . Bánh của Thiên Chúa ban sự sống cho mọi người chứ không riêng gì cho dân Do thái sống ở Sinai xưa .

10 / " Xin cho chúng tôi bánh luôn mãi " : 

Nghe Chúa Giêsu giải thích về bánh đích thực nhưng họ vẫn còn hiểu về bánh vật chất nên họ xin Chúa bánh đó .

11 / " Chính Ta là bánh ban sự sống " : 

Kiểu nói " Ta là " xác quyết về sự đích thực : chính Người thực sự là bánh ban sự sống đời đời . Kiểu xác quyết Chúa Giêsu thường dùng mà Gioan nghi lại :

- Ta là ánh sáng thế gian ( Ga 8, 12 ; 9, 5 ) .

- Ta là cửa chuồng chiên ( Ga 10, 7 - 8 )

- Ta là Mục tử tốt ( Ga 10, 11 - 14 )

- Ta là sự sống ( Ga 11, 25 )

- Ta là cây nho đích thực ( Ga 15, 1 - 15 )

- Ta là đường là sự thật và là sự sống ( Ga 14, 6 )

12 / " Ai đến với Ta ... ai tin vào Ta ..." : 

Điều kiện để được bánh của Thiên Chúa là tin vào Chúa Giêsu Kitô, ở đây muốn diễn tả :

+ Chính Chúa Giêsu là sự no thoả cho những ai tìm đến Người .

+ Chính Chúa Giêsu là sự thoả mãn khát vọng cho những ai tin vào Người .

+ Chính Chúa Giêsu Kitô Đấng tự hiến trong mầu nhiệm Thánh Thể có khả năng thỏa mãn mọi khát vọng tôn giáo cho những ai đến và tin vào Người .

III . ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

1 / Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn so sánh cho chúng ta nhận ra giá trị và ý nghĩa khác nhau về nhu cầu của ăn phần xác và nhu cầu của ăn phần hồn để nhờ đó chúng ta biết " Ra công làm việc" vì của ăn phần hồn hơn của ăn phần xác, điều này đòi hỏi chúng ta phải thực sự đem lòng tôn kính yêu mến và tha thiết với Bí tích Thánh Thể hơn .

2 / Manna là hình bóng Bí tích Thánh Thể : 

Manna là của ăn nuôi dân do thái trong thời kỳ đi vào đất hứa . Thánh Thể là của ăn nuôi ta trên đường về trời .

3 / Giá trị của việc rước lễ : 

Chúa Giêsu lấy Mình Máu Người làm của ăn, của uống cho ta để ta được tham dự vào đời sống vô cùng của Thiên Chúa, như Người đã nói : cũng như Cha Đấng hằng sống đã sai Ta và Ta sống nhờ Người, thì kẻ ăn Ta cũng vậy, nó sẽ sống nhờ ta . ( Ga 6, 57 ) .

Thịt máu Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể bảo đảm cho xác ta sẽ được sống lại để cùng với hồn sống chung hưởng hạnh phúc của Thiên Chúa như Người đã phán : " Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời và Ta sẽ cho nó sống lại ngày sau hết " ( Ga 6, 54 ) .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a / Xem việc Người làm : 

Qua cuộc đối thọai rất tài tình và linh động để giáo dục dân chúng về Bánh Hằng Sống, Chúa Giêsu đã cho chúng ta nhận ra Người là một ông thầy dậy giỏi, một nhà dẫn giải sành tâm lý, một người giải quyết đại tài và hấp dẫn . Muốn noi gương Người chúng ta cần suy niệm :

- Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và dân chúng về Bánh Hằng Sống ( Ga 6, 24 - 72 ) .

- Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và thiếu phụ Samaria về nước hằng sống ( Ga 4, 1 - 30 ) .

b / Nghe Lời Chúa nói : 

    1 / Các ngươi tìm ta không phải vì dấu lạ nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê : Chúa cũng nói với ta lời này khi ta theo Chúa vì vụ lợi, muốn được ơn này ơn kia chứ không phải vì thực tình mến Chúa hoặc khi chúng ta cần ơn Chúa thì sốt sắng đạo đức, nhưng khi bình thường, đặc biệt không cảm thấy nhu cầu ơn Chúa thì trễ nãi, nguôi lạnh trong việc thờ phượng Chúa .

    2 / Các ngươi hãy ra công làm việc : Chúa cũng nhắn nhủ với ta mỗi ngày đừng có mê mải với những công việc trần gian mà uổng phí cuộc đời . Cần đặt đúng bậc thang giá trị của cuộc sống toàn diện con người : Tinh thần quý hơn vật chất, sự sống siêu nhiên trọng hơn sự sống tự nhiên ...

    3 / Công việc của Thiên Chúa là hãy tin vào Đấng Người sai đến : Công việc Chúa đòi hỏi ta làm mỗi ngày là tin vào Thiên Chúa :

- Là Đấng Toàn năng để ta hoàn toàn tin cậy và phó thác nơi Người .

- Là Đấng Vô biên để ta có thể gặp gỡ Người mọi nơi mọi lúc 

- Là Đấng Vĩnh cửu để ta găn bó với Người .

- Là Đấng Thánh để ta chê ghét tội và giữ lòng trong sạch .

- Là Đấng Chân thật để ta hoàn toàn tin tưởng vững chắc vào Người .

- Là Đấng Chân Thiện Mỹ và nhân từ để ta yêu mến Người trên hết mọi sự ...

     4 / Chính Ta là bánh ban sự sống : Lời này thúc đẩy ta tin tưởng vào Thánh Thể và tha thiết với Thánh Thể bằng cách chăm chỉ tham dự Thánh lễ để rước lễ mỗi ngày và không quên viếng Thánh Thể khi có cơ hội .

2 / Nhìn vào đám dân chúng : 

a ) Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ ? Chúng ta cần phải biết đặt ra câu hỏi về Chúa trong mỗi công việc mỗi biến cố hay mỗi khi tiếp xúc với sự vật chung quanh để học hỏi tìm hiểu về Chúa hầu giúp ta gặp gỡ Người .

b ) Chúng ta phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa ? Trong mỗi công việc, chúng ta cũng phải biết đặt ra câu hỏi như vậy để phân biệt thế nào là đẹp lòng Chúa, và thế nào là phản lại Chúa . Nhờ đó chúng ta thực hiện công việc sao cho xứng đáng là con cái Chúa hay con cái thế gian .

c ) Ngài đã làm dấu lạ gì để chúng tôi thấy mà tin ? Chúng ta cũng thường đòi hỏi Chúa làm phép lạ để chúng ta tin, đó là đòi hỏi của những kẻ kém lòng tin vì " phúc cho những ai không thấy mà tin " ( Ga 20, 29 ) .

d ) Xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi : Dân chúng xin bánh ăn, nhưng chúng ta hãy khao khát xin Chúa thêm đức tin, cậy, mến Chúa luôn mãi .


Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

Phép lạ hoá bánh làm dân Do Thái nghĩ Đức Giêsu là vị Tiên Tri mà Môsê đã nói đến trước trong Đnl 18, 15. Họ nhìn ra dấu chỉ, nhưng giải thích theo chiều hướng trần thế. Đức Giêsu muốn nâng cao tầm nhìn của họ qua lời hứa sẽ ban "bánh trường sinh". Người Do Thái liên tưởng đến Manna trong sa mạc nhưng Đức Giêsu tự mặc khải "Chính Tôi là Bánh Trường Sinh".

I. Tìm Hiểu Lời Chúa: Tin Mừng Ga 6, 24- 35

Những người Do Thái chạy theo Đức Giêsu vì dấu lạ hoá bánh. Đức Giêsu trách cứ họ vì chạy theo lương thực trần thế chóng qua, khuyên họ nên tìm "lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh". Người Do Thái đòi hỏi dấu lạ (Gc 2, 18). Họ hy vọng Đức Giêsu sẽ ban cho họ Manna, để minh chứng mình là Môsê mới, nhờ đó có thể tin theo Người. Đức Giêsu trả lời :

1. Môsê đã không ban cho anh em Manna mà là Thiên Chúa.

2. Manna không phải là Bánh Trường Sinh, vì những người ăn nay đã chết cả. Đức Giêsu cho thấy Bánh Trường Sinh có những đặc tính như sau :

a – Nguồn gốc từ trời.

b – Do chính Thiên Chúa ban.

c – Đem lại sự sống đời đời.

Bánh trường sinh được Thiên Chúa ban không do công nghiệp của con người, nhưng hoàn toàn là hồng ân của Thiên Chúa. Đức Giêsu khẳng định với họ : "Chính tôi là Bánh Trường sinh" là hồng ân Thiên Chúa trao ban cho cuộc sống trần thế. Việc lãnh nhận không do công nghiệp, nhưng phải mở tâm hồn ra đón nhận thực tại Thiên Chúa trong Đức Giêsu. Đó là việc đón nhận Đức Giêsu, là con Thiên Chúa, là mặc khải đích thực của Thiên Chúa tỏ lộ cho loài người.

II. Gợi Ý Suy Niệm

1. Kitô Hữu Phải Chăng Là Người Sống Siêu Thực ?

Sau khi được Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều cho ăn no nê, dân chúng đổ xô đi tìm Ngài. Họ tìm Ngài không phải vì tin. Chúa đã biết rõ ý muốn của họ nên Ngài đã khẳng định : 'Các ngươi tìm ta vì đã được ăn no nê.' Và Chúa đã mời gọi họ hãy ra công làm lụng không phải vì của ăn hay hư nát ở đời này nhưng hãy vì của ăn mang lại sự sống trường sinh. Những lời của Chúa Giêsu chắc hẳn làm những người Do thái khi xưa và nhiều Kitô hữu hôm nay thấy có vẻ ngỡ ngàng và không thực tế. Làm gì có thứ lương thực mang lại sự sống bất diệt? Không tìm kiếm cái ăn cái măc bây giờ thì chỉ có chết đói. Ngày nay, thời buổi kinh tế thị trường, hố phân cách giàu nghèo ngày càng gia tăng. Biết bao nhiêu người đang sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trước mắt họ chỉ là miếng cơm manh áo thì rõ ràng với họ, câu nói của Chúa xem ra không thể chấp nhận được. Ngay trong đời sống đức tin, đời sống Giáo Hội vẫn phải cần đến đồng tiền, của cải vật chất hay hư nát, ' có thực mới vực được đạò'. Không có tiền làm sao làm việc bác ái, giúp đỡ người nghèo khó? không có tiền làm sao lo liệu được việc nhà thờ, việc mục vụ? Ngay cả việc cầu nguyện với Chúa đa số vẫn là những lời cầu xin cho nhu cầu vật chất … Lời mời gọi của Chúa có vẻ đưa người Kitô hữu vào một lối sống siêu thực, mơ mộng viễn vông, nếu không muốn nói là hão huyền ?

Thực ra, mơ ước trường sinh bất tử hay mơ ước sản xuất được loại thức ăn giàu năng lượng giúp con người ăn ít no lâu … là mơ ước có thực của con người bao đời nay. Khoa học ngày nay vẫn đang nỗ lực nghiên cứu rất nhiều. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu không phải Chúa muốn cho người tin theo Ngài chạy theo điều mơ mộng hão huyền, phi thực tế, nhưng Chúa mời gọi họ hãy nghĩ đến cuộc sống vĩnh cửu bên Chúa, cuộc sống đời sau. Cuộc sống này và cuộc sống tại thế ở hai bình diện khác nhau nhưng lại liên kết mật thiết với nhau. Cuộc sống tại thế chuẩn bị cho cuộc sống mai sau. Kitô hữu vẫn phải vất vả mưu sinh cho cuộc sống thực tại nhưng lại làm với ý hướng về Thiên Chúa, về sự sống đời đời bằng một cách sống và làm việc theo những đòi hỏi của Tin Mừng và thấm nhuần niền tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nói như Phaolô : dù ăn, dù uống hay làm gì bất cứ luôn làm vì danh Đức Kitô.

2. Kitô Hữu Phải Làm Gì Để Gọi Là Làm Việc Của Thiên Chúa ?

Đặt câu hỏi này xem ra có lẽ thừa vì Chúa đã trả lời cho những người Do thái ngày xưa : " Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến". Thừa có thể đúng vì người Kitô hữu sao lại không tin vào Chúa Giêsu Kitô Đấng được Chúa Cha sai đến chứ. Thật ra đặt câu hỏi này trong bối cảnh ngày nay không thừa chút nào. Mỗi người, mỗi thời luôn luôn phải tự hỏi lại lòng mình câu hỏi này và tự trả lời trước Chúa. Ngày nay không ít người danh nghĩa là Kitô hữu nhưng thực chất lại là người không tin vào Chúa Kitô nữa, đời sống như là những người vô thần. Vỏ bọc bên ngoài là người có đạo nhưng lại không sống đạo hoặc sống đạo cách khô khan hờ hững. Ngay cả những việc thuần túy tôn giáo là dâng lễ, cầu nguyện cũng không có một tâm tình, có một thực tâm nào mà chỉ như cái máy, một thói quen hay một tâm lý nệ luật mà thôi. Cũng như người Do thái khi xưa, Chúa đã trả lời là phải tin vào Ngài vậy mà họ vẫn còn cố đòi hỏi Ngài làm phép lạ để tin dù đã chứng kiến biết bao phép lạ nhất lạ phép lạ hóa bánh ra nhiều. Không hiếm những Kitô hữu ngày này trong tương giao với Chúa vẫn mang nặng thái độ trao đổi quá sòng phẳng với Thiên Chúa : Ngài hãy làm gì cho tôi để tôi tin chứ? Thận chí còn là một sự mặc cả với Chúa : con tin, con cầu nguyện hoài, con sống đạo đức chịu khó lễ lạy cầu nguyện hơn người khác mà chẳng được gì cả.

Cần phải tự đặt lại câu hỏi : 'Tôi phải làm gì để được gọi là làm việc của Chúa?' để luôn cảnh tỉnh mình trước những nguy cơ, cám dỗ làm mình xa rời đức tin. Cảnh tỉnh mình trước những thái độ tính toán với Chúa, trong khi mọi ân huệ Chúa ban đều là nhưng không. Cảnh tỉnh mình luôn phải biết trau dồi phát triển đức tin mỗi ngày một trưởng thành hơn để có thể trung tín đến cùng trong ơn gọi Kitô hữu của mình.

3. Đến Với Đức Kitô, Kitô Hữu Có Thực Sự Được No Thỏa?

"Ai đến với ta sẽ không hề đói. Ai tin và Ta sẽ không hề khát bao giờ" Lời mời gọi của Chúa mở ra cho mỗi người một niền hy vọng, một tương lai sáng lạn vì được no thỏa ân tình của Chúa. Tất nhiên niền hy vọng này chỉ thực sự trở thành hiẹn thực đối với ai tin tưởng vào Thiên Chúa còn không đó chỉ là một lời hứa hão, một thứ quảng cáo, đánh bóng bản thân mình. Đứng trước lời mời gọi đó của Chúa, tâm trạng của người Kitô hữu ngày nay như thế nào : Có thực sự tin tưởng và hy vọng hay không? Hay cũng có thể là một hồ nghi nào đó. Ngày hôm nay áp lực quảng cáo đang đè nặng trên tâm lý của con người. Ai cũng muốn tự đánh bóng cá nhân mình, công việc của mình để cạnh tranh. Biết bao chiêu bài quảng cáo khuyến mãi của các công ty để chứng tỏ mình là nơi đáng tin cậy, làm việc có uy tín … Thế nhưng, thực chất thường khá xa với những gì quảng cáo, cho nên, không ít người đã rất cẩn thận với những thứ quảng cáo đó. Độ tin cậy vì thế cũng giảm đi và điều trớ trêu là đã gây nên một nghi ngờ trong mọi vấn đề của cuộc sống ngay cả trong lãng vực đức tin. Một thái độ rất duy thực trong cuộc sống, thấy mới tin, thử mới biết …

Con người hôm nay bị chủ nghĩa thực dụng và hưởng thụ chi phối rất nhiều. Họ chỉ thấy cái lợi vật chất trước mắt, cho nên, tìm kiếm được sự no thỏa nơi Chúa Giêsu quả không dễ dàng. Tất cả chỉ là danh vọng, tiền tài và hưởng thụ xác thịt, trong khi đó những thứ này chắc chắn Chúa không thể làm no thỏa một ai cả. Tìm đến Chúa là để được Ngài làm no thỏa một thứ hạnh phúc, bình an vì được sống làm con cái Chúa giữa đại gia đình Thiên Chúa và nhân loại. Phải mạnh tin và can đảm dấn thân theo Chúa, phải chấp nhận vác thập giá mới thấy được Chúa làm no thỏa mình như thế nào. Phải chấp nhận lên đường đến với Chúa bằng tất cả cuộc sống mới no thỏa hoan lạc trong Chúa. Nếu không mãi mãi chỉ thấy lời Chúa mời gọi đến với Ngài chỉ là một lời quảng cáo mà thôi. Hãy trải lòng mình ra nghiệm xem tôi đã đến với Chúa và được Ngài làm no thỏa gì chưa?

III. Lời Nguyện Chung

* Lời Mời Gọi : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi mỗi người hãy tin và chạy đến với Ngài sẽ tìm kiến được lương thực ban sự sống trường sinh. Trong niền tin tưởng chúng ta cùng dâng lên Chúa những ước nguyện của chúng ta.

1. Hãy ra công vì của ăn mang lại lương thực trường tồn. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong Hội Thánh luôn sống và làm mọi việc vì cùng đích là sự sống viên mãn trong Nước trời.

2. Dân chúng tìm đến Chúa vì được ăn no nê. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em đói nghèo và gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống biết tìm đến Chúa để được Ngài làm no thỏa mọi khát khao trong cuộc sống.

3. Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn tin tưởng tìm đến Chúa trong mọi hòan cảnh của cuộc sống và thực sự tìm kiến được hoan lạc và bình an của Chúa.

* Kết Nguyện : Lạy Chúa Giêsu là nguồn mạch thỏa mãn mọi khát vọng của nhân loại chúng con. Xin Chúa thương đón nhận những lời khẩn nguyện của chúng con mà ban cho chúng con những gì cần thiết cho đời sống đức tin để chúng con đạt được sự sống vĩnh cửu nơi Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn