Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XX Thường Niên C

Tin mừng  Lc 12:49-53: Thánh Sử Luca thuật lại lời Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ hiểu biết về sứ mệnh đặc biệt của Người đến thế gian là để cứu chuộc thế gian bấng cuộc đời đau khổ, đồng thời Người đòi hỏi những ai theo Chúa thì cũng phải cùng chia sẻ số phận ấy.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA  NHẬT XX THƯỜNG NIÊN NĂM C
 


 

Gr 38,4-6.8-10 ; Dt 12,1-4 ; Lc 12,49-53


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CHÚA GIÊSU TRƯỚC CUỘC TỬ NẠN. CHÚA GIÊSU ĐẦU MỐI BẤT HÒA (Lc 12,49-53)

1. Đoạn này chẳng liên hệ mật thiết với dụ ngôn người quản lý nói trước đây. Nhưng vẫn mang một giọng văn trịnh trọng của cả chương 12. Khi đã cho các môn đệ biết ý kiến về các ngày bắt bớ, CGS lại gợi lên những hình ảnh hãi hùng của sứ mệnh Ngài trên mặt đất này, cái chết đau đớn của Ngài, những chống đối làm cho con người chia rẽ vì Ngài.

2. Câu 49 (CGS nói về lửa mà Ngài sẽ mang đến trên trái đất) đã được chú giải khác nhau. Có người cho đó là thứ lửa đã được đốt lên và dịch là: "Tôi đã mang lửa đến trên mặt đất và tôi còn ước muốn gì nữa, nếu lửa ấy đã được thắp lên ? (Crampon, Jounn..). Như thế CGS không còn ước muốn gì nữa và không còn gì để chu toàn sứ mệnh ngoài việc phải chịu thương khó (c.50). Nhưng phần lớn các tác giả đều nghĩ rằng CGS diễn tả một ước muốn và dịch là: "Tôi đã đem lửa đến trên trái đất, và tôi ước ao biết bao lửa ấy được đốt lên !". Bản Vulgata, có thể đã đọc ei.mê (nisi) thay vì ei.edê (si jam) nên nói lên ý nghĩa sau đây: "tôi muốn gì, nếu không phải là nó trong đốt lên ?" Cách dịch thứ hai này (Segon, Khabanbauer, Zorell, klostermann, Legrange, Bille du Kentaine, Buzy, BJ, TOB...) hình như phù hợp với văn mạch hơn, vì ánh sáng rực rỡ mà CGS nói đến hình như còn đang lệ thuộc vào một điều kiện chưa thực hiện được, đó là rửa bằng máu của cái chết Ngài. Hơn nữa, vì luật song đối của người sêmit thích lập lại cùng một ý tưởng hay một ý tưởng tương tự, nên có thể cho rằng nhắc đến tương lai trong câu 50 thì phù hợp với câu 49b hơn. Người ta thắc mắc vì sao lối chú giải thứ hai gán cho chữ ti ý nghĩa tương tự của tiếng Hy bá bao nhiêu (combien étroit) trong Mt 7,14; hay tiếng Hy lạp Ti cala (cômbien beau).

3. Các nhà chú giải không những bằng lòng về cách dịch câu 49, mà còn thay đổi ý nghĩa của tiếng lửa mà CGS đã đem đến trên mặt đất. Nhiều Giáo phụ có uy tín cho đó là Thánh Thần (Th. Grégoire le Grand, Th. Ambrosiô, th. Syrille d'Alexandie, th. Jérome). Cách chú giải này thấy trong phụng vụ cũ của lễ hiện xuống (lời nguyện thánh lễ ngày thứ 7 lễ hiện xuống), nhưng không phải mọi người đều chấp nhận, có vài tác giả (Maldonat) so sánh câu 49 và 51, dựa vào sự chia rẽ mà Đức Kitô gây nên trong thế gian và thấy lửa mà CGS nói đến là hình ảnh của những cuộc thử thách đang chờ các môn đệ, những thử thách người mong ước vì có sức thánh hóa. Nhưng nếu thế, tại sao CGS lại ao ước thực hiện các thử thách đó như vậy ? Có những tác giả khác (Knabenbauer, BJ) thích hiểu lửa của sự nghiệp Đức Kitô trong trần gian, là sự nghiệp thanh luyện và đổi mới nhắc nhở lại hành động lửa tôi luyện vàng và bạc khỏi han rỉ. Nếu người bảo rằng hành động của Thánh Linh, thì lối chú giải ấy rất gần với lời chú giải của các giáo phụ. Các giáo phụ cắt nghĩa rằng lời sấm ngôn của CGS về ánh sáng đã ném xuống thực hiện rồi, chứ không phần nào bị che dấu, như mạch văn cho thấy.

Vì thế người ta cho rằng khi nói đến ánh sáng ấy, CGS nói đến một thứ lửa tượng trưng ở trong tâm hồn (Lc 24,32, các lữ hành thành Emmaus và nó rất tuyệt hảo, vì CGS muốn nó phải được đốt lên. Các giáo phụ đã không lầm khi nhận ra đó là công việc của Thánh Linh hay là Đức Ái, nhưng tốt hơn là nên để cho lời nói có vẻ úp mở như kiểu nói của các tiên tri (Lagrange).

4. Việc thực thi ý muốn của CGS phải tuân phục theo một điều kiện: Con Người phải lên Giêrusalem và chịu thương khó ở đó. CGS so sánh sự thương khó với phép rửa mà Ngài phải chịu, phải bị dìm xuống, vì Ngài sẽ như bị nhận chìm trong những đợt sóng đắng cay và phiền não (Mc 10,38). Tâm hồn Ngài phải chịu dằn vặt vì nhãn quan ấy. Người ta chú giải cơn dằn vặt ấy như là một vết thương đầu tiên của cơn khắc khoải sẽ đè xuống trên Ngài ở Giêtsimani, hay như một ước vọng mãnh liệt trong sứ mạng Cứu thế của Ngài đạt đến tột đỉnh (TOB).

5. Cũng như con người CGS, sự nghiệp của Ngài cũng đem lại sự trái nghịch: "Các anh có nghĩ rằng tôi đem đến hòa bình cho mặt đất không ?". người ta có thể đã tưởng thế vì lời phúc âm của Ngài là sứ điệp hòa bình (Is 9,5tt; Za 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15) và hòa giải. Nhưng khi thế giờ bị lửa thánh linh đốt lên qua lời giảng dạy của các tông đồ, thì phúc âm sẽ không luôn luôn được con người thiện tâm bình thản đón tiếp. Phúc âm sẽ bị con cái bóng tối đánh bật, xô đẩy, và như thế bình an của Đức Kitô không phải là thứ bình an của thế gian, con người sẽ phân rẽ vì CGS, "để tư tưởng của nhiều tâm hồn phải bày tỏ ra" (Lc 2,35). Ngay trong gia đình, tự bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ xuất phát mối bất hòa bất thuận.

KẾT LUẬN

Sự cứu độ của thời cuối cùng sẽ không đến mà không cần có cố gắng và đau khổ. Mối mong chờ ơn cứu độ bao hàm lòng can đảm chịu đựng gánh nặng và lo lắng khổ sở. Muốn lêm trời phải qua thánh giá (pâque: passage). Nhưng thánh giá, mà các môn đệ sống là dấu hiện tiên báo các biến cố thế mạt đã bắt đầu, các biến cố đó đòi hỏi con người từ đây phải có một lập trường dứt khoát đối với Đức Kitô và sứ điệp của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Đức Kitô đem lửa tình yêu đến nung nấu thế giới không một chút tình người, không mảy may hy vọng vào sự hiệp thông phổ quát đích thực, không có tinh thần vô vị lợi. Chỉ có lửa đó mới nung nấu lòng người, dẹp tan mọi nghi kỵ hận thù và chiến tranh là những mối nguy cho tình bằng hữu giữa người với người, dân này khác với dân kia.

2. Nhưng CGS cũng biết lửa đó chỉ phát xuất từ hy lễ của chính Ngài, Ngài hướng dẫn hy lễ đó không chút âu lo. Trái lại đã ao ước chóng chu tất nó để hoàn tất sứ mệnh cứu độ của Ngài. Vì cái chết của Ngài sẽ mở ra một khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử nhân loại, khai mào cho chúng ta đường cứu độ nhờ thập giá. Và trong mức độ ao ước nung nấu lửa tình yêu đó trên trái đất, thực hiện cuộc cách mạng đổi đời, đổi tâm thức và cơ cấu, chúng ta sẽ chịu một phép rửa như CGS: chúng ta phải bắt chước Ngài khi chịu lo âu, thất bại, từ bỏ, để thực hiện lý tưởng đời mình.

3. CGS ban hòa bình cho chúng ta, như TƯ đã nói: Ngài hòa giải chúng ta với Chúa Cha, với chính chúng ta và với mọi người (x. Ep 2,14-17) bằng cách mời gọi chúng ta trở về với đời sống đích thực là yêu thương. Nhưng Ngài không ban bình an theo kiểu thế gian, nhưng theo kiểu chiến đấu như Ngài đã từng chiến đấu, đến nỗi gây chia rẽ chúng ta với than nhân chúng ta.

4. Ở đây CGS không muốn lên án sự hòa hợp trong gia đình và cổ xúy một tinh thần chia rẽ. Nhưng Ngài luôn nhắc tới giới luật của TC: "Hãy phục vụ cha mẹ ngươi" (Mc 7,10). Nhưng qua các lời nói trên đây, Ngài quả quyết nếu muốn làm môn đệ Ngài, chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả cách tuyệt đối những gì ngăn cản không cho chúng ta theo Ngài, kể cả tình yêu nhân loại cao quí nhất. Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài cách độc quyền, dứt khoát, trọn vẹn. Và sự độc quyền có thể làm người ta chướng tai gai mắt. CGS biết điều đó nên đã nói: "Hạnh phúc cho ai không vấp phạm vì Ta" (Mt 11,6). Tuy nhiên Ngài không ép buộc nhưng mời gọi chúng ta với tư cách là sứ giả của Nước TC sẽ đến đảo lộn mọi trật tự xã hội loài người. Và Ngài đòi chúng ta phải thống hối ăn năn trong mọi lãnh vực của cuộc đời chúng ta, cũng như lãnh vực liên đới gia đình. Một lần nữa CGS không cấm chúng ta yêu thương đồng loại, trái lại còn đòi buộc chúng ta phải yêu thương nhau hơn nữa. Ngài còn phản đối lối yêu thương vụ lợi của chúng ta: "Nếu các ngươi chỉ yêu thương người yêu thương mình, thì còn ân nghĩa gì ?".


Noel Quession - Chú Giải

Hôm nay chúng ta sẽ đọc ba lời của Đức Giêsu : Về "lửa" mà Người đem xuống. . . về một "phép rửa" mà Người phải nhận lãnh. . . về "sự chia rẽ " mà Người gây ra. . . Ba tư tưởng này có thể được công bố ở những thời điểm khác nhau, bởi vì người ta đều tìm thấy chúng hầu như trong các Tin Mừng khác. Và các tư tưởng này độc lập với nhau (Mc 10,38 ; Mt 10,34-36). Khi tập hợp chúng trong khuôn khổ của cuộc hành trình sau cùng lên Giêrusalem, Thánh sử Luca rõ ràng muốn đề nghị một cách giải thích : Cái chết, sự sống lại, ơn của Chúa Thánh Thần sắp hiện ra.

"Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất..."

Dĩ nhiên đây là một hình ảnh không nên hiểu theo nghĩa vật chất nhưng theo nghĩa tượng trưng. Mấy tuần trước, Đức Giêsu đã từ chối khiến lửa từ trời xuống trên một ngôi làng Samari (Lc 9,54-55). Vậy, ý nghĩa tượng trưng của lửa trong Kinh Thánh là gì ?

Lửa là một hình ảnh của Thiên Chúa : Môsê đến gặp Giavê trong một bụi cây bốc cháy gitlạ sa mạc... dân ít-ra-en nhận Luật của Thiên Chúa trong lửa và bão tố trên núi Xinai . . . ở Đền Thờ Giêrusalem, các tư tế đưa các sinh tế vào lửa để thiêu, như đưa các sinh tế vào Thiên Chúa, trước khi xưa lại cho các tự tế còn trừng cử chỉ hiệp thông. Một cách chính xác hơn, lửa có ý nghĩa sự phán xét của Thiên Chúa để thiêu hủy những kẻ xấu và thanh luyện số ít người trung tín còn lại (Sáng thế 19,23-29 ; Lê vi 10,2 - 39,6) Luca đã lấy lại chủ đề này nói về sự phán xét bằng lửa (Lc 3,9-17 - 9,54 - 17,29).

Nhưng, đối với Luca, trước hết lửa là biểu tượng của Thần Khí Thiên Chúa đến thiêu đốt các tông đồ trong ngày Hiện Xuống (Cv 2,3-10). Ngọn lửa tâm linh, tình yêu sôi sục sự sáng rực cao cả của thế gian, sự hiện diện nóng bỏng của Đấng Phục Sinh, ngọn lửa ấy thiêu đốt trong lòng các tín hữu trên đường về Em mau khi họ lắng nghe Đức Giêsu mà chưa nhận biết Người (Lc 24,32 - 24,49 ; Cv 2,33).

Và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên !"

Đức Giêsu mong ước "ban Thần Khí" cho thế gian.

Người nói rằng đó là nhiệm vụ duy nhất của Người : "Thầy đến vì việc đó". Chúng ta hãy thử tưởng tượng Đức Giêsu như một người đang ước mong, mang trong lòng một dự án lớn lao. Đức Giêsu hăng say với dử án đổi mới toàn thể địa cầu. Lấy lại hình ảnh ấy, một bài ca hiệp lễ hát rằng : "Là kẻ ăn mày lửa, tôi nắm tay Chúa trong tay tôi, như người ta cầm trong tay mình ngọn lửa cho mùa đông và Chúa trở thành đám cháy thiêu đốt thế gian". Trong nhân tính của chúng ta, rất thường hay vỡ mộng, Đức Giêsu trở thành một sức mạnh nhiệt thành mới mẻ cho nhiều người hôm nay. Ở giữa những việc tầm thường hằng ngày, chúng ta có thể đốt lên "ngọn lửa nong nàn của tình yêu".

Hỡi ôi ! Ai trong chúng ta đã không có lần dập tắt Thần Khí ? Tin Mừng gây quá nhiều phiền toái . . . nó dẫn chúng ta đi xa quá. . . Thế thì, Người ta cầm lấy bình chữa cháy và dập tắt lời nóng bỏng ấy đang quấy rầy chúng ta.

"Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !"

Từ "phép rửa", tiếng Hy Lạp "baptima" có nghĩa là "sự nhấn chìm trong nước", "sự tắm rửa". Vào thời của Thánh Luca, phép rửa không phải chỉ là một vài giọt nước xối trên trán như phép rửa của chúng ta ngày nay. Phải nhận chìm hoàn toàn thân thể vào trong một hồ nước. Vì thế, đúng ra phải dịch câu nói của Đức Giêsu theo cách sau đây : "Thầy phải được nhận chìm trong một bồn nước...". Cách nói này có tính chất biểu tượng, như cách nói ở trên : Đối với Đức Giêsu đây không phải là một nghi thức. Người nghĩ đến cuộc khổ nạn, đến cuộc tắm máu... hay chính xác hơn, đến những dòng nước cuồn cuộn khổ đau và chết chóc, không bao lâu nữa sẽ mai táng Người như những làn sóng biển khi vùi dập một người chết đuối. Đức Giêsu xao xuyến khi nghĩ dện điều đó. Người hối hả mong cho việc này hoàn tất ! Nhưng, nói như thế, điều đó đối với Người là điều cần thiết : "Thầy phải chịu. . . " . Đây là một công thức thông thường để nói về cuộc khổ nạn khắc khoải ấy qua đó một ý định nhiệm mầu được thực hiện và lý trí không thể nào hiểu được.

Khi đặt chủ đề " ơn ban bởi lửa Thần Khí" và "phép rửa trong cái chết", Luca nhấn mạnh Đức Giêsu phải trả giá đắt biết bao cho sự cứu chuộc thế gian.

Từ đó, làm sao chúng ta còn có thể ngạc nhiên nếu đời sống Kitô hữu đòi hỏi chúng ta một vài sự hy sinh ? "Người đã : cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế : Vậy chúng ta hãy hướng mắt nhìn về Đức Giêsu để anh em khỏi sờn lòng nản chí" (Do Thái 12,1-4).Đối với Luca, môn đệ của Phao lô, chủ đề "phép rửa" đã có những âm hưởng sâu xa hơn những phép rửa thường là hời hợt của chúng ta hôm nay : "Anh em không biết rằng : khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao ? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta cũng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới" (Rôma 6,3-4).

Chúng ta đã không đánh giá thấp phép rửa đó sao ?

Khi nghĩ đến cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, chúng ta hãy tự hỏi :như Đức Gioan Phao lộ II mời gọi chúng ta : "Kitô hữu, bạn đã làm với phép rửa của mình ?" Làm thế nào để đời sống Kitô hữu của bạn, dù là nam hay nữ, có thể trở thành một đời sống mà sự "phát triển" không chỉ có ý nghĩa nhân bản hời hợt. "Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng 'Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất. . ."' . Nhưng nghịch lý thay, đời sống của một người đã chịu phép rửa lại đúng là một "sự phát triển", một "sự hoàn thành"' : Thật vậy, phải đi đến tận cùng của tình yêu hiến dâng tất cả : Đời sống ,trong Đức Kitô" đem lại một ý nghĩa cho cả không gì xem ra vô nghĩa ? Thập giá dấu tốt nhất để chỉ sự tiêu diệt... sự tàn phá... sự thất bại.. . nhưng với Đức Giêsu trở thành dấu chỉ : tích cực của sự viên mãn . . . sự hy sinh . . hiệu quả cùng cực. . . Cũng thế , phép rửa vốn là dấu chỉ của sự nhận chìm, trở thành dấu chỉ của đời sống mới : Tất cả những khắc khoải, xao xuyến nhận chìm chúng ta có thể trở thành một ."lời kêu gọi" : Cũng thế nhưng nỗi đau khổ, vất vả của chúng ta sẽ biến hình nếu chúng ta sống những đau khổ ấy trong sự hiệp thông với Đức Giêsu ! "Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Không gian nạn thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mục, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh" (Côlôxê 1,24).

"Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : Không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ...".

Hòa bình là một trong những điều tốt lành nhất mà người ta chờ đợi từ Đấng Mêsia (Isaia ; Dacaria 9,10 ; Luca 2,14). Trái lại, sự giảng thuyết'và hành động của Đức Giêsu gây ra những phản ứng chống đối mạnh mẽ. Đức Giêsu là một người bị truy đuổi. Người cảm thấy điều đó ở xung quanh Người. Nhưng thay vì từ bỏ hành động và sợ hãi, Người tiến thẳng về cái chết của mình với một lòng can đảm đáng khâm phục. Và Người loan báo cho các bạn hữu Người chính họ cũng phải bị chống đối tương tự. Một số thủ bản Tân ước còn gán cho Đức Giêsu lời này : "Ai ở gần ta là ở gần lửa".

Như những người đồng thời với Đức Giêsu, chúng ta mơ ước hòa bình và chúng ta muốn được hướng hoàn toàn sự hài hòa yên tĩnh ấy vốn là sự nghỉ ngơi của tâm hồn, của đàn ông với đàn bà, của vợ chồng với nhau, của cha mẹ với con cái, của con cái với cha mẹ, của môi trường xã hội với những môi trường khác, của con người với thiên nhiên, môi sinh của con người với Thiên Chúa. . . Hòa bình , "Shalom" là mong ước mà những người Do Thái nói với nhau. Thực tế, đó là một lý tưởng tóm tắt tất cả những gì người ta mong ước.

Thế thì, tại sao Đức Giêsu dường như có vẻ đề cao sự chia rẽ?

Lạy Đức Giêsu, Chúa không phải là hòa bình của thế giới sao ?

Chúa không quy tụ mọi người trong tình yêu của Chúa Cha sao ?

Tại sao có sự chia rẽ trên những bước đi của Chúa ?

Ngọn lửa nào phải đốt cháy địa cầu ?

Đó chính là hòa bình mà Đức Giêsu mang lại. Nhưng không phải là một hòa bình dễ dãi. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng" (Ga 14,27). Có những nền hòa bình lừa dối, phụng sự an ninh nguy hiểm và ru ngủ. Chúng chỉ xây dựng trên những thỏa hiệp và che đậy những sự chống đối trầm trọng, nghĩa là sự trái ngược của hòa bình. Trước Đức Giêsu, các ngôn sứ đã tố giác những nền hòa bình giả tạo, không đòi hỏi một yêu sách đạo đức và tôn giáo nào : "Vì người lớn cũng như trẻ nhỏ, tất cả đều gian tham bớt xén. Ngôn sứ cũng như tư tế, tất cả là một lũ gian phi. Chúng bô bô : "Bình an vô sự" để xoa dịu thương tích của dân Ta (Giêrêmia 6,13-14 ; Mikha 3,5 ; Edêkien 13,8-16 ; Giêrêmia 8,11-14,13,16-2,16-22).

"Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai! hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau : Cha chống lại con trai, con trai chống lại cha, mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng".

Trong lúc Đức Giêsu nói những lời này, Người đặt những người đồng thời với Người trước một lựa chọn quyết định : Cần phải có một lập tường. . . theo hoặc chống Đức Giêsu. Và đức tin vào Đấng Tôn Sư phải vượt hơn những dây liên hệ gia đình thiêng liêng nhất (Lc 9,59-62 -14,26-18,29).
Vào thời của Luca, Giáo Hội là một thiểu số ở giữa thế giới dân ngoại, thường phải sống sự giằng xé giữa những người tin và những người không tin.

Ngày nay, chúng ta không thể không nhận thấy sự sáng suốt tiên tri của những lời Người đã nói : "Các con tôi đã bỏ mọi thực hành tôn giáo. . . X và Y. . . không muốn cưới nhau . . . Họ từ chối phép rửa cho các con họ . . . " . Với những xung đột ấy mà Đức Giêsu đã tiên báo, còn đâu là gia đình Kitô giáo ? Lúc đó, chúng ta bị cám dỗ phạm tội hoặc kết tội những người khác : Nếu Giáo Hội làm điều này... nếu các nhà giáo dục dạy điều kia... và nếu tôi làm điều nọ. . . nếu trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. . . Không lành mạnh và sai lầm khi nghĩ rằng đây là một vấn đề mới. Ngay từ thời Mikha tám trăm năm trước Đức Giêsu, Mikha đã tả lại "sự nổi loạn" của con cái chống lại cha mẹ như một vết thương của thời đại ngài (Mikha 7,6). Và sách Khải Huyền vào thời Đức Giêsu đã nhìn thấy "sự sầu khổ to lớn" trong kiểu xung đột đó, xảy ra trước khi sự cứu chuộc sau cùng của Đấng Mêsia được hoàn tất.

Lạy Chúa, con cầu xin Chúa cho con cái các gia đình đang chia rẽ. Nếu Đức Tin nơi Chúa là một chọn lựa đầy yêu sách, thì xin Chúa làm cho đức tin ấy trở thành có thể, bởi ơn của Thần Khí Chúa : "Lạy Chúa, giữa lòng thế giới xin hãy đốt lên ngọn lửa của Thần Khí Chúa. . . "


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

"Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ " (Lc 18,49-53)


I.Ý CHÍNH :

Thánh Sử Luca thuật lại lời Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ hiểu biết về sứ mệnh đặc biệt của Người đến thế gian là để cứu chuộc thế gian bấng cuộc đời đau khổ, đồng thời Người đòi hỏi những ai theo Chúa thì cũng phải cùng chia sẻ số phận ấy.

II. SUY NIỆM :

1. "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian":

Trong Thánh Kinh, lửa thường biểu tượng sự oán phạt thiêng liêng, nhất là lúc tận thế (Lc 3,9; 16,17;17,29; 9,54-56Ơ đây chúa không có ý nói đến lửa hận thù và phá hoại ấy, những người có ý nói đến lửa thanh luyện tâm hồn.

Lửa này là những đau khổ người sẽ chịu để luyện lọc con cái Israel ( Mc 13,1-4; Is 1,25). Đau khổ luyện lọc người ta như lửa luyện vàng. Chính vì ý nghĩa đó mà "Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên". Chúa Giêsu muốn lửa này cháy lan ra khắp mọi tâm hồn. Chúa Giêsu đòi hỏi những ai muốn theo chúa thì cũng phải cùng chịu đau khổ với người . vì qua Thánh Gía sẽ đến vinh quang, qua tử hạn để đến phục sinh.

2. "thầy phải chịu một phép rửa":

phép rửa ở đây là phép rửa đặc biệt: đó là việc Chúa Giêsu bị chìm ngập trong đau khổ và khốn cùng mà chính người tình nguyện đón nhận. Đó là cuộc thương khó và tử hạn của Chúa . trong Mc 10,37-38, ta thấy Chúa Giêsu đã nói đến phép rửa này với các Tông đồ Giacobê và Gioan: "…Các anh có thể uống chén mà tôi phải uống và phải chịu thanh tẩy bằng một phép rửa mà tôi phải chịu không?". Hình ảnh phép rửa và hình ảnh chén đắng, cả hai đều gợi cho ta ý nghĩa một cuộc thương khó của chúa .

chính phép rửa bằng sự thương khó này là căn nguyên hiệu lực của phép rửa bằng nước, sự chết của Chúa Giêsu trên thập gía là nguồn ơn tha tội của phép rửa sau này (Cv 2,38; 22,16).

"Và lòng thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất": ở đây muồn nòi lên tâm trạng thao thức của Chúa Giêsu muốn chu toàn sứ mệnh của chúa cha giao phó là cứu chuột nhân loại,. Sự thao thức này cũng được biểu lộ qua lời nói trong bửa tiệc ly: "Tôi ao ước ăn lể Vượt Qua này cùng các ông trước khi yôi chịu chết (lc 22,14).

3. "Các con tưởng thầy đến đem sự bình an xuống thế gian ư?…Không phải thế":

Thánh Luca thường ghi chú sự bình an là ân huệ của chúa ban qua Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu thế, ân huệ này được gọi là ân huệ Thiên Sai ( Lc 2,14-19; 7,50; 8,48; 10,5-6;11,21;19,38.42; 24,36

Ơ đây lời phủ nhận nghịch lý của Chúa Giêsu nói lên rằng bình an mà Chúa Giêsu đem đến không phải là thứ bình an xác thịt và dễ dãi mà các sứ ngôn gĩa đã mơ tưởng.(gg 6,16; 8,11; Ed 13,10-16).

"nhưng thầy đến để xem sự chia rẽ!": sự chia rẽ ở đây có ý nói rằng khi đứng trước con người của chúa Kitô, người ta luôn luôn phải lựa chọn dứt khoát, vì chúa Kitô đến sẽ được một số người này mến phục và bị một số người kia chống đối. Tin Mừng của chúa Kitô rao giảng được người này đón nhận, người kia từ chối. Sự lựa chọn có tính cách tương phản này là nguyên nhân gây ra chia rẽ. Sự chia rẽ này xãy ra ngay trong một toán người làm việc trong nhà: "Vì từ nay năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau". Ngay trong gia đình mà từ bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ phát xuất mối bất hòa, bất thuận, vì sự tương phản trong việc đón nhận hay từ chối Tin Mừng của Đức Kitô.

III. ÁP DỤNG:

Ap dụng theo Tin Mừng:


Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn dạy chúng ta rằng muốn lên trời phải qua thánh giá. Muốn được cứu rổi phải qua những đau khổ. Đau khổ này là những đòi hỏi chúng ta phải có lập trường dứt khoát đối với chúa Kitô và sứ điệp của Người.

B.Ap dụng thực hành:

Nghe lời chúa nói: 


1/ "Thầy đã đem lửa xuống thế gian": Chúa Giêsu đã đem lửa là sự thương khó người phải chịu để cứu chuộc thế gian. Ơ đây Chúa muốn nói lên ý nghĩa và gía trị của những đau khổ và thử thách trong cuộc đời của những ai theo Chúa.

2/ "Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên":Chúa khát khao cho nhiều tâm hồn biết đón nhận những thử thách để thanh luyện đời sống.

3/ "Thầy phải chịu một phép rửa":Chúa Giêsu phải chịu cứu nạn để hoàn tất chương trình cứu độ. Chúng ta phải kiên trì chịu đựng mọi thử thách để hoàn tất con đường theo chúa đến cùng.

4/ "Thầy không đến xem sự bình an xuống thế gian": ở đây Chúa muốn nói chúng ta đừng cậy dựa vàoC để được sự bình an theo kiểu thế gian, nghĩa là được an toàn theo kiểu trần thế, thỏa mãn mọi ước vọng theo xác thịt.

Ơ đây lời phủ nhận nghịch lý của Chúa Giêsu nói lên rằng bình an mà Chúa Giêsu đem đến không phải là thứ bình an xác thịt và dễ dãi mà các sứ giả đã mơ tưởng. (Gr6,16 ; 8,11 ;Ed 13,10-16).

"Nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ !". sự chia rẽ ở đây có ý nói rằng khi đứng trước con người của Chúa Kitô,người ta luôn luôn phải lựa chọn dứt khoát, vì Chúa Kitô đến sẽ được một số người này mến phục và bị một số người kia chống đối. Tin mừng của Chúa Kitô rao giảng được người này đón nhận, người kia từ chối. Sự lựa chọn có tính cách tương phản này là nguyên nhân gây ra chia rẽ. Sự lựa chọn này xảy ra ngay trong một toán người làm việc trong nhà: " Vì từ nay năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau". Ngay trong gia đình mà từ bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ phát xuất mối bất hòa, bất thuận ,vì sự tương phản trong việc đón nhận hay từ chối Tin Mừng của Đức Kitô .

III.ÁP DỤNG:

A.Ap dụng theo Tin Mừng :


Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn dạy chúng ta rằng muốn lên trời phải qua thánh giá. Muốn được cứu rỗi phải qua những đau khổ. Đau khổ này là những đòi hỏi chúng ta phải có lập trường dứt khoát đối với Chúa Kitô và sứ điệp của Người.

B. Ap dụng thực hành:

Nghe lời Chúa nói:


1)"Thầy đã đem lửa xuống thế gian":Chúa Giêsu đã đem lửa là sự thương khó Người phải chịu để cứu chuộc thế gian. Ơ đây Chúa muốn nói lên ý nghĩa và giá trị của những đau khổ và thử thách trong cuộc đời của những ai theo Chúa .

2)"Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên":Chúa khát khao cho nhiều tâm hồn biết đón nhận những thử thách để thanh luyện đời sống.

3)"Thầy phải chịu một phép rửa": Chúa Giêsu hpải chịu tử nạn để hoàn tất chương trình cứu độ. Chúng ta phải kiên trì chịu đựng mọi thử thách để hoàn tất con đường theo Chúa đến cùng.

4)"Thầy không đến đem sự bình an xuống thế gian":ở đây Chúa muốn nói chúng ta đừng cậy dựa vào Chúa để được sự bình an theo kiểu thế gian, nghĩa là được an toàn theo kiểu trần thế, thỏa mãn mọi ước vọng theo xác thịt.

5)"Thầy đến để đem sự chia rẽ": Đứng trước sứ điệp của Chúa , giáo lý của Chúa , tinh thần của Chúa … chúng ta phải có lập trường dứt khoát để lựa chọn :Chọn Chúa hay chọn thế gian ? chính sự lựa chọn này sẽ gây ra chia rẽ trong chính bản thân ta, trong gia đình và trong sự hiệp nhất giữa ta với tha nhân, vì có những cái tương phản trong sự lựa chọn này.



HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn