Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXI Thường Niên A

Tin mừng Mt 16: 13-20: Phụng vụ Lời Chúa trong Chúa nhật này mời gọi chúng ta suy tư về mầu nhiệm và quyền bính của Hội thánh. Hội thánh chính là gia đình của Thiên Chúa, là nơi qui tụ mọi người trở nên con cái Chúa. Mọi quyền bính trong Hội thánh đều được thừa ủy từ chính Thiên Chúa, nhằm để phục vụ con người, phục vụ công trình loan báo Tin mừng và mưu cầu lợi ích đức tin cho nhân thế...


CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN A
 

NGÀY 27/08/2017
 



Tin mừng Mt 16: 13-20


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

PHÊRÔ TUYÊ N TÍN VÀ NHẬN QUYỀN TỐI CAO

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Hãy so sánh với Mc 8,29 và Lc 9. 20 cùng ghi nhận các điểm đặc thù của Mt.

2. Lời tuyên tín của Phêrô phải chăng là đề cập đến tử hệ thần linh theo nghĩa thần học hiện đại của hạn từ? Phêrô có xác quyết điều ấy như chúng ta xác quyết ngày nay không?

3. Làm sao đặt đoạn văn vào trong toàn bộ phần này (Ch. 14- 17)?

4. Đâu là những yếu tố chung của các tước hiệu khác nhau người ta gán cho Chúa Giêsu mà các môn đồ đã tường trình lại?

5. Tại sao người ta liên kết Chúa Giêsu với Giêrêmia hơn là với Isaia hoặc Edêkien chẳng hạn?

6. Phải chăng đây là lần đầu tiên, trong Tin Mừng Mt, Chúa Giêsu chất vấn cá c môn đồ về con người mình? Tại sao Người lại hỏi họ trong lúc này?

1. Với đoạn văn này, chúng ta đi đến đoạn mà từ lâu người ta vẫn xem như là trung tâm hoặc bản lề của Tin Mừng Mt. Cách nhìn đó không thiếu chỗ dựa trong bản văn: đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu chất vấn các môn đồ về con người mình và Phêrô minh nhiên tuyên xưng Người thật là Đấng Messia; đàng khác đây cũng là lần đầu tiên Người loan báo mình sẽ chịu nhiều đau khổ và sẽ phục sinh; cuối cùng, tiếp ngay sau đoạn văn này, ta thấy trình thuật tập trung vào chủ đề tử nạn: Chúa Giêsu tái loan báo các đau khổ của Người (17, 22- 23; 20, 17- 19) và "lên Giêrusalem" (20, 17). Rõ ràng là ở đây ta đi đến một khúc ngoặt trong trình thuật Ml. Xét về phương diện tư tưởng, chắc hẳn điểm bất ngờ nhất và quan trọng nhất là sự trùng phùng, chỉ cách nhau một vài câu (cc. 16. 21) của hai trình thuật: Phêrô tuyên xưng chức vị Messia và Chúa Giêsu loan báo cuộc khổ nạn của Người. Từ đây, Chúa Giêsu dần dần rời bỏ Galilê và trên đường tiến lên Giêrusalem, Người hầu như dành mọi thời giờ cho nhóm Mười hai. Hẳn nữa, trong lúc từ trước đến nay ý niệm Nước Trời chiếm một vị trí chủ yếu, thì bây giờ chính con người của Đấng Messia đau khổ và chịu sỉ nhục lại trở thành tâm điểm rao giảng của Chúa Giêsu. Và trong giáo huấn đó, thập giá sắp được trình bày như một sự cần thiết vừa đối với Đấng Messia vừa đối với những kẻ muốn theo Người. Ta biết điều ấy là vì Mt có chèn vào trong phần này hai đoạn văn liên hệ đến Giáo Hội (16, 17- 19; 18, 17- 20). Quả vậy, chính cho Giáo Hội mà việc mặc khải Con Thiên Chúa trong bản vị của Con Người bị đóng đinh đã được ban. Chính số phận của Giáo Hội, được liên kết với số phận của vị thủ lãnh mình, được mô tả suốt các chương này mà ta nên đọc như một lời chú giải câu nói ở 10, 25: môn đồ được như thầy và tôi tớ được như chủ là đủ rồi ".

2. Câu hỏi thứ nhất Chúa Giêsu đặt ra rõ ràng chỉ có mục đích dẫn vào câu hỏi thứ hai và làm xuất hiện điểm khác biệt cơ bản giữa điều thiên hạ tưởng nghĩ về Người và điều mà các môn đồ phải nghĩ và phải nói.

Theo Mt, Chúa Giêsu một lần nữa tự gọi mình bằng tước hiệu "Con người" (8, 20; 9, 6 v.v...). Chính sự kiện Người chất vấn các môn đồ về dư luận của kẻ đương thời cho thấy Người đã có dụng ý khi dùng thành ngữ mơ hồ ấy, một thành ngữ mượn ở sách Đanien và sách Khải huyền Do thái, có khi để nhấn mạnh sự khiêm nhường và tự hạ của Đấng Messia (8, 20; 17, 22), có khi để loan báo việc tái lâm vinh quang của Người (16, 28; 26, 63). Câu trả lời của các môn đồ cho ta biết dư luận công khai chung chung xem Chúa Giêsu như là một ngôn sứ. Giả thuyết cho rằng người là Gio-an Tẩy giả đầu thai đã có để thịnh hành trong giới thân cận của Hêrôdê (14, 2). Giả quyết xem Người như là Elia phát xuất từ sấm ngôn Ml 4, 5 và cho thấy thiên hạ coi Chúa Giêsu như là vị tiền hô của Đấng Messia. Còn việc đề cập đến Giêrêmia, riêng của Mt, có thể là phát xuất từ một truyền thuyết Do thái mà 2Mcb còn giữ lại dấu vết (2Mcb 2, 1- 8; 15, 13- 16); việc đồng hóa Chúa Giêsu với vị ngôn sứ bị bách hại cũng có thể cắt nghĩa được là vì cả hai cùng chung số phận "làm người đau khổ". Tuy nhiên Chúa Giêsu không mấy quan tâm đến các dư luận, dù rất thuận lợi, mà thiên hạ có về Người. Khi xem Người như một ngôn sứ, thiên hạ tỏ ra không biết Người như ý Người mong; vì thực sự Người không phải là một ngôn sứ theo nghĩa thông thường; vì trong lúc ngôn sứ "bởi đất mà ra" (Ga 3, 31) thì Người trái lại "tự trời mà đến". Người là Đấng mà mọi ngôn sứ đều làm chứng cho (Cv 3, 18), và các tư tưởng nhân loại về Chúa Giêsu không thể chọc thủng mầu nhiệm Con Người, cũng chẳng khám phá ra được là Người đồng hóa với Con Thiên Chúa hằng sống! Chính đó là điểm mới mẻ hoàn toàn khiến con người Chúa Giêsu được đặt trên một bình diện khác so với con người Gioan Tẩy giả, Elia hay Giêrêmia. Điểm mới mẻ này chỉ có kẻ được chính Thiên Chúa mặc khải cho mới thấu hiểu tường tận.

Vì thế câu trả lời của Phêrô hoàn toàn khác biệt với mọi dư luận về Chúa Giêsu, như câu phê bình tiếp đó của Người cho thấy. Phêrô tuyên bố Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Ông nhận ra, dưới nhân tính của Người, Đấng Messia của Israel, vua của Nước Trời mà Cựu ước đã loan báo.

Việc tuyên tín này cho phép Chúa Giêsu nhận ra một cách chắc chắn nhóm Mười hai là nhóm còn lại mà các ngôn sứ đã loan báo, và vì thế đương nhiên Người công bố thiết lập Giáo Hội, mà chính Phêrô sẽ là viên đá làm nền.

3. Ta biết rằng bản văn này (cc. 17- 19) đã bị một số nhà phê bình nghi ngờ không phải do Mt viết. Vì người ta thấy chẳng hạn như trên (khoảng năm 180) đã không có câu 18 trong cuốn Tin Mừng ông dùng; tuy vậy chỗ khuyết này không ngăn cản ông dựa trên toàn bộ Tin Mừng để xern việc kế nhiệm sứ đồ như là một thể chế do Chúa Kitô thiết lập, vì quả thực học thuyết về Giáo Hội của Mt không chỉ dựa trên câu đó mà thôi. Các nhà chú giải đều đồng ý câu đó có một âm điệu sêmita mà vài kẻ cho là bắt nguồn từ một câu nói bằng tiếng Aram của Chúa Giêsu. Nhưng nếu đây là một đoạn mới thêm vào trong Tin Mừng, thì nó được thêm trước hay sau thời của soạn giả Tin Mừng Mt? Vấn đề vẫn còn bỡ ngỡ vì các bằng chứng không quyết liệt chống lại xác thực tính của nó đến nay vẫn chưa tìm được. Dù vấn đề sẽ ngã ngũ thế nào, ta vẫn có thể hiểu rằng cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, khi nhờ Thánh Thần, soi sáng mà tự nhận biết mình là cộng đoàn tông truyền của Chúa Giêsu Kitô, đã khám phá thấy rằng câu nói đó thực sự diễn tả chủ ý Chúa Giêsu muốn thành lập Giáo Hội.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Họ thưa: Có kẻ thì nói là Gioan Tẩy giả, nhóm khác: Elia": Trong câu trả lời của các môn đồ, cái đập vào mắt trước tiên là sự tạp đa dư luận về Chúa Giêsu; tuy nhiên mớ dư luận này đều có chung một yếu tố mà ta chỉ gặp trong tư tưởng Do thái và tư tương Thánh kinh: đó là không ai tin rằng Chúa Giêsu là một cá nhân đặc biệt tách rời với lịch sử Israel. Nhưng hết thảy đều nghĩ Người rất có thể là một sứ giả của Thiên Chúa, một kẻ nhắc lại và hoàn tất các lần can thiệp có tính cách lịch sử của:Ngài trong quá khứ (Về Chúa Giêsu như là ngôn sứ ", xin xem chú thích của BJ).

"Ta là ai ": Đừng mặc cho động từ là một nghĩa Hy lạp hay nghĩa hiện đại: Chúa Giêsu không chất vấn các môn đồ về yếu tính trường cửu của Người nhưng là về sứ mệnh lịch sử của Người đối với Thiên Chúa và dân Người, điều mà câu trả lời của Phêrô sẽ xác quyết; bản tính của Chúa Kitô, chính là cái mà Người có trách vụ chu tất ở trần gian để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại.

"Con Thiên Chúa hằng sống": Câu thêm này của Mt được các nhà chú giải lượng glá rất khác nhau. Một số người xem đấy là lời tuyên xưng thần tính của Chúa Giêsu (Vd. Benoil, trong chú thích của BJ), kẻ khác lại coi là một thành ngữ tương ứng với Đấng Messia". Ý kiến thứ nhất dựa trên các lý do như sau:

1/ Trong lúc các chỗ khác trong Mt, người ta gọi Chúa Giêsu là "Con Thiên Chúa" (Fils de Dieu) (4, 3; 8, 29; 14, 33; 27, 43. 54) với ngụ ý đơn giản rằng Người là một hữu thể siêu việt thì ở đây Phêrô lại gọi Chúa Giêsu là "Người Con của Thiên Chúa" (Le Fils de Dieu), nên rõ ràng là qua đó ông muốn công bố nguồn gốc thần linh của Người.

2/ Câu Chúa Giêsu long trọng thừa nhận lời tuyên tín ấy sẽ khó hiểu nếu đây không phải là một lời tuyên xưng thần tính về phía Phêrô: điều này được xác quyết qua sự kiện Chúa Giêsu đã không thừa nhận như thế, khi các môn đồ tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa trong giai thoại đi trên mặt biển trước đây (14, 33); trong giai thoại này, việc thiếu mạo từ trước chữ Con fils de Dieu chứ không phải là Le Fils de Dieu) cho thấy cùng lắm nó chỉ là một xác quyết về thiên sai tính mà thôi.

3/ Có một trường hợp duy nhất khác trong Mt nơi ấy Chúa Giê-su tự gọi là "Người Con của Thiên Chúa" (Le fist de Dieu) câu trả lời lần này bị viên thượng tế xem là phạm thượng (26, 63).

4.Ta không hiểu được tại sao một mặc khải của Chúa Cha mà chỉ giúp Phêrô tuyên tín được về tính cách thiên sai của Chúa Giê-su thôi (c.17 ).

5.Người ta không bao giờ minh chứng thành ngữ "Con Thiên Chúa" là đồng nghĩa với "Đấng Mê-si-a" (Lagrange), nên do đó đừng quá vội vàng khẳng định Phê-rô đã chỉ công bố thiên sai tính, chứ không phải thần tính của Chúa Giê-su.

Chắc hẳn còn nhiều lập luận khác bênh vực ý kiến thứ nhất này, nhưng trình bày tất cả ở đây thì sợ đài quá.

Ý kiến thứ hai dựa trên các lý do như sau:

1/ Độc thần giáo đã quá bén rễ sâu vào não trạng Do thái nên chỉ có việc sống lại thân xác của Chúa Giê-su và việc tuôn ban Thánh Thần trong ngày Lễ Ngũ Tuần mới có thể cho phép các môn-đồ nghĩ đến thần tính Người theo nghĩa mạnh của từ ngữ, nhưng ngay cả lúc ấy việc đào sâu thần học cũng mất nhiều thời gian mới tìm ra cách diễn tả xứng hợp, như ta thấy trong bước tiến triển giữa các thư đầu tiên của Phaolô và tổng hợp vĩ đại của Gio-an.

2/ Nếu Phêrô nhận ra rõ ràng thần tính của Chúa Giêsu trong Mt 16, 16, làm sao lập tức ngay sau đó (16, 22) ông mạnh mẽ chống lại chương trình cứu độ Người sẽ thực hiện?

3/ Xem ra hơi táo bạo khi gán quá nhiều ý nghĩa cho mạo từ "Người " (Lc) trong thành ngữ "người Con của Thiên Chúa" (Le Fils đe Diêu): Làm sao ta dám nghĩ rằng các ngư phủ vô học xứ Galilê lại có thể phân biệt tế nhị như thế được.

4/ Cái mà vị thượng tế xem là phạm thượng, không phải là thành ngữ người Con của Thiên Chúa" (te Fils de Dieu), nhưng đúng hơn là điều Chúa Giêsu nói thêm về việc người ngự bên hữu Thiên Chúa với tư cách là "Chúa" của Tv 110, và với tư cách là nhân vật có nguồn gốc thiên giới mà Đanien đã thoáng thấy trong thị kiến của ông (x. chú thích của BJ); v.v...

Thật khó mà chọn theo ý kiến nào. Và vấn đề lại rắc rối thêm bởi sự kiện là: lời tuyên tín ấy của Phêrô thoạt đầu có thể có nghĩa thuần túy thiên sai (điều mà Mc 8, 29 và Lc 9, 20 có phản ánh), nhưng sau đấy "được đọc lại " dưới ánh sáng Phục sinh và được giải thích trong chiều hướng một lời tuyên xưng về thần tính Chúa Giêsu. Lại nữa, là không thể dựa vào sự kế tiếp hiện nay của các đoạn văn để tội lập sự tiến triển về mặt thiêng liêng của các môn đồ: Mt đã chẳng biên soạn Tin Mừng trong một viễn trong tiểu sử (theo nghĩa hiện đại của hạn từ) nhưng trong một viễn tượng thần học, và đã sửa đổi, khi có dịp, thứ tự thời gian của các biến cố để đạt đến mục tiêu riêng. Suy luận cuối cùng này không phải là không quan trọng trong trường hợp ta đang cứu xét. Vì nếu Chúa Giêsu đã thốt lên câu nói kiểu Gioan" (logion johannique) (Mt 11, 25- 27) về mầu nhiệm hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con trước khi Người hỏi các môn đồ ở Kaisaria của Philip, thì rất có thể Phêrô đã trực giác được một cái gì đó về thần tính của Chúa Giêsu và thoáng thấy Người không chỉ là Đấng Messia thiên hạ trông chờ mà còn là Đấng tham dự cách bí nhiệm vào chính hữu thể của Thiên Chúa. Tuy nhiên về vấn đề này, có lẽ sẽ không bao giờ ta thấy rõ hoàn toàn được.

"Ngươi là Đá và trên Đá này, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta": Lối chơi chữ thật lý thú, sít sao trong Việt ngữ và Pháp ngữ (piene) nhưng lại không như thế trong La ngữ (Potrus và petra) và hy ngữ (Potros và po tra); nó xuất phát từ tiếng Aram trong đó hạn từ képha (tảng đá, khối đá chứ chẳng phải là viên đá tách rời được) là một tiếng không thay đổi. Cách chơi chữ này đã do Chúa Giêsu sáng chế, vì ta không hề gặp một ví dụ nào khác trong đó képha là một tên riêng. Cũng vậy đối với Poros trong hy ngữ và Potrus trong La ngữ, là những cách chuyển dịch tương đương nhưng đã sớm được chấp nhận. Biệt danh này sẽ gắn liền với Simon như tên riêng của ông: ông đã được cộng đoàn tiên khởi biết đến dưới cái tên Kôphas, là một chính thức lai Hy ngữ ( 1 Cr 1, 12; 15, 5; Gl 1, 18; 2, 9; 2, 11. 14).

Đổi tên như vậy là một chuyện thường xảy ra trong Cựu ước: nó cho thấy có mối liên hệ mới mẻ giữa người đổi tên và kẻ được đổi tên, đồng thời còn mặc một ý nghĩa nữa (St 17, 5. 15; 33, 10; Ds 13, 16; 2V 23, 34; 24, 17). Ở đây ý nghĩa thật quá rõ ràng: Simon sẽ là tảng đá móng, tảng đá vững bền trên đó Chúa Giêsu sẽ xây Hội Thánh của Người.

Các thành ngữ tảng đá móng và xây, theo nghĩa bóng, được dùng nhiều trong Thánh kinh. Is 28, 16 nói Giavê đặt một tảng đá móng tại Sion. Thần học của các giáo sĩ, dựa trên Is 31, 1 dạy rằng, Abraharn là nền móng trên đó Thiên Chúa xây thế giới. Chắc hẳn Chúa Giêsu là nền móng vô hình của Giáo Hội (1Cr 3, 10- 11; 1 Pl: 2, 6- 8; Ep 20), nhưng chính Phêrô sẽ là nền móng hữu hình sau cuộc ra đi của Người. Thì tương lai "Ta sẽ xây" có vẻ quy về thời gian sẽ đón sau cái chết và Phục sinh của Chúa Giêsu.

"Và quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi". Chúa Giêsu hình như muốn nói quyền môn âm phủ (nơi các người quá cố tạm trú chờ ngày phục sinh cuối cùng, chứ chẳng phải là hỏa ngục) sẽ không thể kìm giữ trong sự chết những kẻ sẽ thuộc về cộng đoàn thiên sai; đây là một ý niệm Do thái khá phổ biến cho rằng, dù chết hay sống, các phần tử của cộng đoàn thiên sai thời sau hết sẽ không bị sự chết kìm giữ (Is 38, 10; G 38. 17; Tv 9, 14; Kn 16, 13)

Các nhà chú giải ngoài công giáo đã luôn có khuynh hướng giới hạn vào con người Phêrô các lời Chúa Giêsu đã hứa với ông và cho rằng các lời hứa ấy chẳng hề có giá trị như là việc thiết lập một chức vụ trường tồn. Dĩ nhiên, nếu hiểu sát mặt chữ, thì văn bản câu này chỉ nói đến Phêrô. Nhưng nó cũng nói đến Giáo Hội, mà Phêrô được đặt làm thủ lãnh, và Giáo Hội này phải trường tồn, trường tồn như Chúa Kitô đã thiết lập (x. Mt 28, 20): nó bất diệt, vì ngay cả sự chết cũng không thể làm gì chống lại nó.nhưng tính cách bất diệt này làm sao có được nếu các lời hứa với Phêrô không được lưu truyền cho những kẻ kế nhiệm ông? Vì thế học thuyết công giáo về sự kế nhiệm sứ đồ là sự minh giải cách hợp lý lời hứa của Chúa Giê-su.

"Bấy giờ người căn dặn môn đồ không được nói cho ai hay Người là Chúa Ki-tô": có lẽ Chúa Giê-su sợ rằng một việc tiết lộ không phải lúc phẩm chức thiên sai của Người sẽ khơi lại cơn sốt quốc gia chủ nghĩa. Người ta đã chẳng muốn tôn phong Người làm vua sau phép lạ hoá bánh ra nhiều đó sao (Ga 6, 15)? Nhưng việc phong vương của Người sẽ chỉ thực hiện qua cái chết điều mà những, kẻ đương thời và ngay cả các môn đồ Người (dù đã được mạc khải của Chúa Cha soi sáng) không thể nào hiểu được.

(Về đoạn văn này, xin đọc thêm các chú thích phong phú và sáng sủa của BJ, ngoại trừ các chú thích c và g có mặt số yếu tố đáng bàn cãi).

KẾT LUẬN

Nhờ khám phá qua trung gian Phêrô ý nghĩa của tước hiệu bí nhiệm của "Con Người" và nhờ nhận ra trong Chúa Giê-su Đấng Mê-si-a siêu việt như Người đã tự xưng ngay từ đầu sứ vụ, các sứ đồ đã tách khỏi đám người Do-thái cứng tin cùng làm thành nhóm còn lại mà các ngôn sứ từng hứa ơn cứu độ cánh chung cho; và từ đó Chúa Giêsu mới có thể ủy thác cho Phêrô quyền cầm buộc" và tháo cởi", nghĩa là quyền thu nhận vào hoặc loại trừ khỏi Nước thiên sai, hay hơn nữa quyền quy định trong tất cả những gì liên quan đến tín lý và luân lý mà đời sống cộng đoàn thiên sai đòi hỏi, y như trong sách Đanien, các thánh của Đấng tối cao đã được thông ban các đặc quyền của Con người. Quyền cầm giữ chìa khóa này, do Thiên Chúa thương ban, dựa trên niềm tin của Phêrô, một con người tội lỗi nhưng đồng thời là một kẻ tin.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Chắc chắn Giáo Hội, cộng đoàn các kẻ tin, không thuộc về Phêrô, nhưng thuộc về Chúa Kitô, vì chính Người quy tụ, xây dựng và điều khiển Giáo Hội; tuy nhiên Phêrô là nền tảng trên đó các yếu tố khác biệt của Giáo Hội được quy tụ vào và hòa hợp với nhau. Hơn nữa, ông còn được quyền cầm buộc. Trong Giáo Hội trần thế, đường tiến về Nước Trời, chẳng phải tất cả đều tinh sạch và hoàn tất đâu; Phêrô sẽ thi hành dịch vụ phân biệt trong đó. Chính ông sẽ có khả năng phê phán xem các phần tử của Giáo Hội có sống phù hợp với chương trình của Chúa Kitô hay không. Sứ mệnh được ủy thác cho Phêrô là như vậy.

2. Sau khi nghe những lời Chúa Kitô phán đây, ta thấy không thể nào cho rằng mình có thể đi đến Chúa Kitô mà không ngang qua Giáo Hội, một xã hội vừa nhân loại vừa siêu nhiên, rằng mình có thể đơn độc và trực tiếp tìm gặp Chúa Kitô và chẳng cần Giáo Hội Vì như thế là tự xây dựng một Chúa Kitô theo khuôn mẫu của mình, là tưởng tượng ra một vị Chúa hợp sở thích của mình là từ chối chấp nhận Chúa Giêsu như Người đã tự mặc khải cho ta.

3. Giáo Hội không phải là người che chở một nền văn minh hay văn hóa nhân loại dù rất khả kính, cũng chẳng phải là kẻ ban phát một nền an ninh hay ổn định về mặt tôn giáo, hoặc là người bảo vệ một trật tự chính trị hay xã hội nào. Giáo Hội được thiết lập là để giúp ta khám phá hành động của Chúa Kitô trong ta và trong thế giới, làm cho ta sống phù hợp với hành động đó hầu được vào Nước Trời, và gìn giữ trong lòng ta một niềm tin khiêm nhu vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống.

4. Dù khuôn mặt nhân loại của Giáo Hội đôi lần có thể làm ta tức giận hay lấy làm gương xấu, thì Giáo Hội vẫn luôn là người duy nhất nắm giữ những lời hằng' sống, sử dụng năng lực sáng tạo của các bí tích và mở được cửa Nước Trời. Và ngay cả người vô thần vốn từ chối Giáo Hội hay lương dân không biết Giáo Hội, cũng chỉ nhận được trong âm thầm ơn sống phù hợp với tiếng nói lương tâm của họ nhờ sự trung gian không ngừng của Mẹ Giáo Hội, mà hành động vô hình lan rộng trong khắp cả thế gian.

5. Giáo Hội là thực tại nhỏ bé nhất, nghèo hèn nhất, ít được chú ý nhất, ít hùng mạnh nhất so với các thực tại khác dưới bầu trời, vì Giáo Hội được quy tụ quanh một máng cỏ và một cây thập giá. Ai nghe thế mà không sợ? Nhưng Giáo Hội cũng là thực tại cao quí nhất, giàu sang nhất, vinh quang nhất và hùng mạnh nhất trong mọi thực tại dưới bầu trời, vì Hài Nhi sinh ra trong máng cỏ, Con Người bị đóng đinh trên đồi Canvê đã phục sinh và đang hiển trị. Ai nghe vậy mà lại không vui.

6. Dù Giáo Hội còn phải chịu nhiều thử thách và bách hại, Kitô hữu vẫn không nên ngã lòng trông cậy, vì quyền lực của sự chết thế nào cũng sẽ bị Giáo Hội chiến thắng.


 
Noel Quession - Chú Giải


Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê…

Đây là những vùng phụ cận của Tia và Xi-đon trên bờ biển xứ Li-băn... Mát-thêu dẫn Đức Giêsu và các môn đệ Người đến chân núi Héc-mon mà đỉnh có tuyết phủ nhìn xuống toàn bộ hồ Galilê. Gần những suối nguồn của sông Gio-đan, trong một phong cảnh diễm lệ tươi mát với tiếng chim hót, ở giữa những tiếng cây cối xào xạc, gần động của Thần Păn (ngày nay là Ba-ni-a) Vua Hê-rô-đê Phi-líp-phê đã cho xây một thành phố nghỉ mát ở đó. Để tôn vinh ông chủ đứng đầu đế quốc Rôma, nhà vua đã cho thành phố này cái tên hoàn toàn mới: Xê-da-rê!

Ngày nay, thành phố này không còn lạ gì ngoại trừ dòng suối tiếp tục trào ra từ "tảng đá" dưới chân núi.

Người hỏi các món đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai?"

Xa khỏi các đám đông, để tránh mọi xáo trộn mà một Đấng Mê-si-a có thể gây ra, Đức Giêsu một cách rõ ràng tự đặt ra một câu hỏi về "căn tính" của Người. Đối với từng người đàn ông và đàn bà mà chúng ta sống kề bên họ, than ôi chúng ta chỉ hiểu được ngoại diện của nhân cách họ. Trong mỗi con người có một thứ bí mật mà người ta chỉ khám phá được với thời gian, vì nó được giấu kín đàng sau mọi thứ mặt nạ.

Nhân cách sâu thẳm của Đức Giêsu cắm sâu vào điều không thể diễn tả được: Người là gì?

Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ".

Dư luận của dân chúng khác nhau trong khi tiết, nhưng nhất trí về điểm cơ bản: Đức Giêsu không phải là một con người bình thường?.... ngôn hành của Người làm cho Người thành một nhân vật tôn giáo phi thường. Về chủ đề này, người ta kể ra những ngôn sứ nổi tiếng của quá khứ.

NGÀY NAY cũng thế, đa phần nhân loại đều thừa nhận Đức Giêsu là một nhân vật phi thường: Người đã đóng ấn vào lịch sử phổ quát như rất ít người đã có thể làm được.

Đức Giêsu lại hỏi:."Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?"

Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Người nhiều hơn dư luận chung. Phản ánh những ý kiến thường ngày không đủ. Phải có một thái độ của bản thân.

Còn bạn, Huy Phương... Bạn, Duyên.... Bạn, Minh Hạnh... Bạn Hằng... Bạn nói gì về Đức Gíêsu? Đối với bạn, Đức Giêsu là ai?

Ông Simon Phêrô thưa: "Thầy là Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống!"

Tất cả các nhà chú giải thừa nhận sức mạnh trong cách diễn tả mà Mát-thêu đã nhấn mạnh bằng sự nối tiếp dồn dập của bốn danh từ và mạo từ: Đấng Kitô, Con, Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống. Dĩ nhiên là không chắc, cũng trong ngày ấy, Phêrô có trong trí óc mình mọi sự xác định về mặt thần học. mà các từ ngữ ấy có được sau khi Chúa sống lại và sau một thời -gian dài nghiền ngẫm về mặt trí tuệ bởii các Công đồng của thế kỷ thứ IV và thứ V Tuy nhiên, người ta không có quyền "làm giảm nhẹ" lời tuyên xưng đức tin" của Phêrô theo nghĩa thông thường của từ ngữ: "Con Thiên Chúa", "ben Elohim". Thật vậy, trong Cựu ước, tước hiệu này được áp dụng cho Đấng Kitô (Đấng Mê-si-a), nhưng cũng được áp dụng cho mọi con cái ít-ra-en (Xuất hành 4,22; Đệ Nhị Luật 14, 1; Khôn Ngoan 2,16 - 18,13; Giê-rê-mi-a 31,20; 2 Sa-mu-en 7,14; Thánh Vịnh 2,7 - 89,27).

Đối với Phêrô, rõ ràng Đức Giêsu không chỉ là một người con của Thiên Chúa như mọi người khác! Nếu nói như thế thì cũng như không nói gì. Phêrô đã nhận thấy rằng Đức Giêsu không chỉ là "một ngôn sứ" nào đó, một trong số những người mà Thiên Chúa sai đến... nhưng là Đấng Thiên Sai, Đấng Mê-si-a, Đấng Con... và chữ Con trong một ý nghĩa chỉ thuộc về một mình Đức Giêsu.

Đức Giêsu nói với ông: "Này anh Simon con ông Giô-nai anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời…"

"Phàm nhân"... từ ngữ rất lâu đời này trong Kinh Thánh đánh dấu tính xác thực của lời nói... một công thức đẹp được tưởng tượng để gợi lên sự yếu đuối tự nhiên của con người nếu chỉ để cho ánh sáng duy lý hướng dẫn. Trong ngôn ngữ quen thuộc hôm nay, hẳn chúng ta sẽ nói: "Không phải cái lương tri nhỏ bé của anh cho anh nói ra điều đó!".

Để đạt đến những thực tại thánh thiêng thuộc về Thiên Chúa, phải có một sự "mạc khải".

Trí tuệ con người dứt khoát không thể định nghĩa Thiên Chúa, Đấng Tối Cao, bên trên mọi sự như lời hát trong bài thánh ca của Thánh Grê-gô-ri-ô Na-di: "ôi Lạy Chúa, Đấng Tối Cao trên hết mọi sự, chẳng phải đó là tất cả những gì mà người ta có thể ca ngợi Chúa sao? Ngôn ngữ nào sẽ nói được về Chúa? Không một từ ngữ nào diễn tả được Chúa. Thần Khí sẽ bị trói buộc vào cái gì? Chúa vượt qua mọi trí tuệ. Chỉ có Chúa không thể diễn tả được bởi vì mọi điều được nói ra đầu từ Chúa mà ra... Chúa là cùng đích của mọi sụ vật; Chúa là tất cả mọi sự vật nhưng không phải là một sự: vật nào... Chúa có tất cả mọi tên, nhưng làm sao gọi được tên Ngài, Chúa là Đấng Duy Nhất mà người ta không thể gọi tên? ôi lạy Chúa, Đấng trên hết mọi sự, chẳng phải đó là tất cả những gì mà người ta có thể ca ngợi Chúa sao?"

Phải, Đức Giêsu khẳng đinh, với sự đơn giản táo bạo làm người ta ngỡ ngàng, rằng không ai có thể biết được căn tính của Người nếu không được Thiên Chúa mạc khải. "Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho" (Mát-thêu 11,27). Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh sự bất lực của con người khi nói về "Thiên Chúa": "Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mạc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các "lý do tự nhiên" (Ga-lát 1,15-16).

Chính Cha của Thầy mạc khải cho anh điều anh vừa nói!" Hai chữ Cha Thầy tuy nhỏ nhưng cho chúng ta thấy được vực thẳm vô cùng mà Đức Giêsu tuyên bố "thật có phúc" (đây là một mối phúc thật mới) tất cả những ai thoáng thấy điều bí ẩn của ngôi vị Người.

Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: "Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy"

Tin Mừng của Máccô (8,27-30) và của Lu ca (9,18-21) đã thuật lại lời tuyên xưng đức tin của Phêrô. Chỉ có Mát-thêu là người đã tiếp nối lời tuyên xưng ấy bằng một lời tuyên bố của Đức Giêsu về những trách nhiệm của Phêrô đối với Giáo Hội. Cách chơi chữ này trên chữ Phêrô, đích xác là của Đức Giêsu vì nó rất Sê-mít và trông tiếng Do Thái cách chơi chữ ấy tự nhiên hơn trong tiếng Hy Lạp.

Thật vậy từ "Tảng Đá" (tiếng Do Thái la Képhas) ở trong tiếng Hy Lạp, cũng như trong tiếng Pháp, người ta có một công thức kém tự nhiên hơn vì có sự đổi giống Pierre: tiếng Pháp, giống cái hoặc sự biến dạng pétros/pétra: tiếng Hy Lạp). vậy chúng ta thử suy nghĩ về lời mà Đức Giêsu tuyên bố về Phêrô. Có năm hình ảnh, cũng rất Sê-mít, cấu trúc lời hứa này:

1 Tảng đá: tượng trưng cho sự vững chắc, tượng trưng cho Thiên Chúa...

2. Giáo Hội: có nghĩa là " cộng đoàn" , được Thiên Chúa triệu tập

3. Những cánh cửa: tượng trưng cho sức mạnh của một thành phố có tường thành thời Cổ Đại...

4. Những chìa khóa: tượng trưng cho quyền bính.

5. Cầm buộc và tháo cởi tượng trưng cho tính tổng thể hiệp nhất các điều trái ngược.

Những trích dẫn trong Kinh Thánh để khẳng định rằng Thiên Chúa là "Tảng Đá". Chúng ta , chỉ cần trích dẫn: "Chúa là tảng đá của tôi, là thành trì của tôi" (Thánh Vịnh 71,3). Chúng ta đều đã nhìn thấy những hình ảnh của các lâu đài hay các ngôi làng có tường thành xây ngất ngưỡng trên những tảng đá cao. Đức Giêsu đã có ý định xây dựng... một cách vững chắc như thế!

Từ "Giáo Hội" dịch chữ "Qahal" trong tiếng Do Thái có nghĩa là "Cộng đoàn". Điều Đức Giêsu muốn xây tảng, do đó là một "Cộng đoàn: những người đàn ông và đàn bà có một điều gì chung, và quy tụ để cùng nhau thực hiện một điều gì đó. Công Đồng Va-ti-căn II đã định nghĩa Giáo Hội là dân Thiên Chúa và ơn cứu độ có tính chất cộng đoàn chứ không dành cho một Kitô hữu "lẻ loi"... Không thể có đức tin một cách cá nhân... Tấn bi kịch của người không hành đạo là không chịu tham gia vào cộng đoàn ngày Chúa nhật vì thế đức tin suy yếu dần và chết.

Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nỗi...

Bản văn theo nghĩa đen dùng một hình ảnh: "Những cửa Hadès (hỏa ngục) sẽ không chống cự nổi". Nếu chúng ta hiểu công thức này trong tất cả sức mạnh của nó thì vấn đề không chỉ là sự vững.chắc của Giáo Hội có thể phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của sự chết…nhưng còn có khả năng tấn công vào "ngục tù của sự chết" để lôi con người ra khỏi đó. Tranh thánh phương Đông tả cảnh sống lại cho chúng ta thấy Đức Giêsu vinh quang chiến thắng, đứng trên hai cánh cửa của âm ty bị phá vỡ hành hình thập giá và Người cho A-đam và ê-va tham dự vào chiến thắng của Người trên sự chết. Đó là mục đích của Giáo Hội: Cứu chuộc! Đức Giêsu thật sự đã dự tính điều đó: Một "cộng đoàn" những người sống lại... với Người?

Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời.

Đây cũng là một hình ảnh rất cổ xưa, dấu chỉ sự chính thống (I-sai-a 22,22). Người nào giữ chìa khóa của một ngôi nhà, người ấy có toàn quyền trên ngôi nhà đó.

Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy! dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

Ngày nay, người ta thấy có nhiều người sẵn sàng nói: Đức Giêsu thì tôi tin... Giáo Hội thì không... ". Sau một thời kỳ tập trung thái quá các Giáo Hội, cũng như các quốc gia, cảm thấy xu hướng bung ra: Người ta xem ra bằng lòng với những "cộng đoàn nhỏ sống động và nhiệt thành" mà không cần những cơ chế lớn... người ta muốn tương đối hóa những quy phạm về học thuyết, không can đến những điểm quy chiếu khách quan... Tác vụ của Phêrô mà Đức Giêsu muốn có, nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Tin là một ơn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, và chúng ta, không thể phát minh đức tin theo sở thích cho một số nhỏ môn đệ quyền bính để thay mặt Người gìn giữ và ban phát ơn đức tin cùng các ơn khác. Đó chính là vai trò của Giáo hội.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

QUYỀN BÍNH HỘI THÁNH

Phụng vụ Lời Chúa trong Chúa nhật này mời gọi chúng ta suy tư về mầu nhiệm và quyền bính của Hội thánh. Hội thánh chính là gia đình của Thiên Chúa, là nơi qui tụ mọi người trở nên con cái Chúa. Mọi quyền bính trong Hội thánh đều được thừa ủy từ chính Thiên Chúa, nhằm để phục vụ con người, phục vụ công trình loan báo Tin mừng và mưu cầu lợi ích đức tin cho nhân thế.

Phẩm trật và quyền bính của Hội thánh được trao phó trên nền tảng của đức tin khởi đi từ các Tông đồ mà đại diện là Thánh Phêrô.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Is 22,19-23

Những thủ lĩnh trong nhà Chúa

Những lời của Tiên tri Isaia liên quan đến việc cách chức Sobna, một viên quan cai đền thờ, để trao quyền lại cho một tôi tớ được Đức Chúa tuyển chọn. Người này sẽ như là cha của dân Irsael, được quyền đóng mở chìa khóa nhà Đavít.

a. Bản văn như một tóm tắt về một vụ rắc rối nhỏ, cách chức và thay thế một viên quan không làm tròn trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, lại là một mạc khải về quyền hành trong nhà Chúa: Dân Israel là dân Thiên Chúa, mang chiều kích Thiên Chúa và Thiên Sai. Do đó, mọi sự đều do Thiên Chúa cắt đặt, trao ban quyền bính.

b. Trong con cái những tôi tớ, Thiên Chúa sẽ đặt những người làm thủ lĩnh của dân theo ý Ngài muốn. Vị thủ lĩnh này sẽ được coi như cha của dân.

c. Đức Kitô, sau này, đã chọn Phêrô và trao quyền làm thủ lĩnh một dân mới, một vương quốc mới Người thiết lập là Hội thánh.

2. Bài đọc II: Rm 11,33-36

Tình Yêu Thiên Chúa thẳm sâu không dò thấu

Trong các chương đầu của lá thư gửi tín hữu Rôma, Thánh Phaolô đã phân tích, suy tư và trình bày về các công trình tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại không phân biệt Do Thái hay dân ngoại. Ở đây, như là phần tóm kết nhấn mạnh tất cả mọi sự đều do Thiên Chúa thực thi.

a. Rm 11,33-36 là phần kết của các chương 1-11, Thánh Phaolô chiêm ngưỡng kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa và bày tỏ sự thán phục của mình.

b. Qua công trình của Thiên Chúa dành cho con người, cho thấy tình thương của Ngài thật bao la không thể nào dò thấu.

c. Tất cả mọi sự đều do Thiên Chúa, nhờ Người và trở về với Người. Thiên Chúa là nguồn gốc và tận cùng của vạn vật. Nhờ Người mà vũ trụ và con người tồn tại mới có ý nghĩa.

3. Tin mừng: Mt 16,13-20

Phêrô tuyên xưng đức tin và nhận quyền lãnh đạo Hội thánh

Sau khi tuyên xưng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hàng sống", Phêrô được tuyển chọn đứng đầu Hội thánh của Chúa Kitô: "Anh là đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy".

a. Khung cảnh của câu chuyện diễn ra ở Césarê Philipphê, một thị trấn nhỏ miền bắc Galiêa. Chúa Giêsu muốn thăm dò niềm tin của các Tông đồ.

b. Câu hỏi thăm dò về suy nghĩ của dư luận về Người như thế nào nhằm mục đích đưa các môn đệ đến với câu hỏi thứ hai: "Còn các con, các con bảo Thầy là ai?" Khi đặt ra câu hỏi này, Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Người phải hiểu khác và phải nói khác, một cách chính xác về Người.

c. Phêrô đã đại diện anh em lên tiếng tuyên xưng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Một suy nghĩ, một cái nhìn hoàn toàn khác với dư luận quần chúng. Một lời tuyên xưng chính xác, đủ để Chúa Giêsu thiết lập Hội thánh trên nền tảng đức tin của các môn đệ; đủ để Người trao quyền lãnh đạo tối cao trong Hội thánh cho Phêrô.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Đức tin, nền tảng cho mọi quyền bính trong Hội thánh:

Sau khi nhân lời tuyên tín của Phêrô, Chúa Giêsu trao cho ông quyền lãnh đạo Hội thánh của Người. Tất cả mọi quyền bính trong Hội thánh đều đặt trên nền tảng của đức tin. Trước khi lãnh nhận bất cứ một tác vụ nào trong Hội thánh, ứng viên luôn được đòi hỏi phải tuyên xưng niềm tin của mình. Quả vậy, chính niềm tin giúp cho các môn đệ và mỗi Kitô hữu nhận ra chân dung, chân tính đích thực của Chúa Giêsu, Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Có tin tưởng mới có thể can đảm đi theo Người, thực hiện sứ mạng Người ủy thác. Nếu không tin thì chắc chắn không thể nào vác thập giá theo Người. Sứ mạng Người trao dù có vinh quang, dù có quyền lực vẫn luôn là thập giá. Hơn nữa, nếu không tin thì sẽ đưa tới nguy cơ biến Hội thánh thành sở hữu của riêng mình, lãnh đạo Hội thánh theo ý người phàm. Hội thánh là cộng đoàn những người tin, không thuộc về Phêrô hay một ai nhưng thuộc về Đức Kitô.

Mọi quyền bính trong Hội thánh đều nhằm mục đích phục vụ cho đức tin của dân Chúa, vì thế tin là điều kiện tiên quyết. Không chỉ có những ai được ủy thác sứ mạng mới cần phải tin mà mọi thành phần dân Chúa cũng phải tin tưởng và vâng phục theo sự hướng dẫn của các vị chủ chăn. Chính nhờ đức tin mà sự cộng tác giữa vị lãnh đạo và cộng đoàn trở nên nhẹ nhàng, gắn bó, cảm thông và cộng tác tích cực.

2. Tin vào Chúa Giêsu Kitô trong Hội thánh của Người:

Khi lắng nghe đoạn Tin mừng này, mỗi người không thể nào có thể cho rằng đến với Đức Kitô mà không cần đến Hội thánh. Nguyên lý: Ngoài Hội thánh không có ơn Cứu độ luôn là một chân lý. Tất nhiên có những cách giải thích khác nhau. Nhưng dù giải thích thế nào, thì sự hiện diện của Hội thánh vẫn là điều bắt buộc phải có. Hội thánh là của Chúa Kitô. Chính Người qui tụ, xây dựng và điều khiển qua việc ủy quyền cho các Tông đồ và các đấng kế vị các ngài. Do đó, khi vâng phục các vị chủ chăn, các quyền bính trong Hội thánh là một cách thế thể hiện đức tin của mình.

Tin vào Chúa là tin tưởng, tôn trọng và nghe theo các định chế Chúa thiết lập; là chấp nhận và sống theo sự hướng dẫn của Hội thánh từ Hội thánh hoàn vũ đến Hội thánh địa phương; là hòa mình vào nhịp sống chung của Hội thánh không đứng bên lề Hội thánh.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, chúng ta cùng với toàn thể Hội thánh họp nhau cử hành ngày Chúa nhật để tôn thờ ca ngợi Thiên Chúa. Trong niềm hiệp thông với Hội thánh, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh được Chúa Giêsu thiết lập trên nền tảng đức tin của các Tông đồ. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, cho hàng Giám mục và các linh mục trong Hội thánh luôn kiên vững niềm tin của mình.

2. Mọi quyền bính trong Hội thánh nhằm để phục vụ con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho tiếng nói của Hội thánh trong các công trình bảo vệ sự sống, bệnh vực công lý và xây dựng hòa bình được con người và thế giới hôm nay tôn trọng và cộng tác.

3. Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô bằng chính cuộc sống hy sinh, yêu thương của mình.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là Cha Hằng Hữu, chúng con cảm tạ Chúa đã sai Chúa Giêsu Kitô đến thiết lập Hội thánh, cho chúng con được trở nên con cái Hội thánh và được lãnh nhận nhiều ân sủng của Chúa qua Hội thánh. Xin cho chúng con luôn biết vâng phục các huấn quyền của Hội thánh và biết hết lòng cộng tác với các vị chủ chăn của mình để xây dựng Hội thánh ngày càng phát triển. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 
Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn