Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXI Thường Niên B

Tin mừng Ga 6: 60-69: Bài Tin Mừng hôm nay là phần cuối trong bài giảng của Chúa Giêsu về Bánh Hằng Sống. Phần này nói đến những phản ứng của cử tọa khi nghe bài giảng này...

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 21 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B

Ga 6: 60-69

 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐỨC TIN

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Giai thoại này có tầm quan trong thế nào trong đời Chúa Giêsu và trong viễn tượng thần học của Gioan?

2. Câu 62 ám chỉ cái gì bí mật?

3. Nếu "xác thịt không ích gì", thì xác thịt của Con Người mà ta phải ăn để được sự sống vĩnh cửu có ích gì không? Phải chăng có mâu thuẫn?

4. Diễn từ về Bánh sự sống là nguồn gốc của một cuộc khủng hoảng sứ vụ tại Galilê. Các Tin Mừng Nhất lãm cũng nhận rằng một khủng hoảng như thế đã được khai mào trong quê hương Chúa Giêsu ngay giữa bà con người, sau khi Người giảng dạy trong các hội đường của họ (Mt 13-54; Mc 6,1; Lc 4,15). Ở đó cũng vậy, bác luận căn bản phát xuất từ chỗ người ta biết quá rõ nguồn gốc của Người (6,42).

Gioan đã mô tả khủng hoảng này cho đến cao điểm của nó. Ông thấy trong đó không phải chỉ là một sự chống đối thoáng qua. Luôn luôn cái trước trình thuật, ông rút ra từ hoàn cảnh đang mô tả những triệu chứng của sự chối từ quyết liệt, của sự bội phản Giuđa và của âm mưu người Do thái. Con Người đến loan báo thời đại cánh chung, nên thái độ người ta đối với Người mang một giá trị vĩnh cửu. Ngay từ giai đoạn hôm nay, các lập trường đã có tính cách quyết định và Tin Mừng, một cách nào đó, có thể trực tiếp nhảy qua chương 13, qua chứng từ về "Giờ"nhưng chương ở giữa 7-12. chỉ đề cập đến những giờ cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu là Chúa Giêsu quá biết rõ là việc mặc khải của mình cho người Do thái hầu như sẽ vô ích (9,4; 11,9; 12.35). Căn cứ vào những điều đã nhận xét, Người có thể lên án người Do thái ngay bây giờ (8,26.50). Sở dĩ Người không làm chuyện đó và vẫn tiếp tục công việc mặc khải, ấy chỉ vì ngày giờ của Người đã được ấn định bởi Chúa Cha. Dân cứng tin sẽ chỉ bị phán xét khi nào giờ của Người đến (12,31). Trên nguyên tắc, bản án đã được tuyên bố rồi, song chưa có uy lực quyết tụng (9,39). Việc mặc khải của Con Người, đáng lẽ phải là một sự trao ban sự sống vĩnh cữu, thì thực tế lại trở nên một phán quyết truất hữu, không xâm nhập được vào tận đầu óc của người Do thái luôn khép kín trước mặc khải thần linh và cánh chung đó. Thế mà sự từ chối mặc khải cánh chung tất yếu bao hàm một phán quyết cánh chung. Do đấy, nảy sinh một sự mâu thuẫn: một đàng, đây là cơ may cuối cùng của người Do thái, đàng khác hạn kỳ để chọn lựa sẽ chỉ hết vào Giờ Chúa Giêsu.

5. Chúa Giêsu chẳng cần phải nghe những gì người Do thái và các môn đồ giả nói mới biết (x. 5,6) họ không đồng ý với Người. Phải chăng việc ám chỉ đến cái chết của Người và đến ý nghĩa cứu chuộc của cái chết ấy làm cho họ vấp phạm?

Đúng! Sau này cũng vậy, mặc dù đã được báo trước (16,1), họ vẫn coi cái chết của Người là một cớ vấp phạm (Mc 14,27; Mt 26,31). Chúa Giêsu đã làm gì với mức độ phát triển của đức tin họ như thế? Người có tìm cách trấn an họ bằng cách giải thích sao cho vấn đề trở nên dễ chấp nhận hơn chăng? Chắc chắn đó không phải là thói quen hành động của Chúa Giêsu trong Tin mừng thứ tư. Trái lại, đứng trước thính giả không hiểu lời Người, Chúa Giêsu thường phản ứng bằng cách ám chỉ đến một mặc khải quan trọng hơn là mặc khải về tận cùng của cuộc sống bản thân. Trước đó, trong diễn từ về bánh, người ta cũng đã tìm được một ám chỉ về cái chết của Người (6,51) và chính lời ám chỉ này đã gây nên cuộc bàn cãi dẳng dai giữa người Do thái. Lời ám chỉ thứ hai chỉ là để xác nhận lời ám chỉ thứ nhất. Không rút lời lại, cũng chẳng nhượng bộ trước bác luận của họ, Chúa Giêsu đưa ra một ám chỉ mới liên quan đến một giai thoại cuối đời Người: Thăng thiên. Và lời ám chỉ này nặc khải yếu tố thần linh mà ta phải giả thiết là có nếu muốn hiểu ý nghĩa cứu sống của cái chết Chúa Giêsu. Như thế, hai khía cạnh của Giờ được đưa ra ánh sáng: khía cạnh mặc khải cũng như khía cạnh cứu chuộc (3, 13-15). Và đồng thời cái lý do cuối cùng của việc "từ trời xuống" cũng được giải bày minh bạch trong chương 6 Gioan. Bởi vì việc lên trời mang lại mặc khải hoàn toàn về Con người xuống thế là về nguồn gốc thần linh của Người: vào lúc đó Chúa Giêsu mới đảm nhận chức vụ Con Người, lúc đó nguồn gốc thiên giới của người mới hoàn toàn tỏ lộ. Vì Người lại lên nơi đã ở từ trước. Như vậy Thăng Thiên vừa là mặc khải về Con Người (1,51; 3,13; 6,62) vừa là mặc khải về Con (20, 17). Đối với Phaolô cũng vậy: giây phút cuối đời Chúa Giêsu, hay đúng hơn sự Phục sinh của Người, là lúc mà Chúa Giêsu trở nên hay lại trở nên thực sự chính Người: bấy giờ Người trở nên Chúa, Con Thiên Chúa quyền năng (Rm 1,4) thu hồi lại những ưu phẩm của thần tính Người (Pl 2,6-11) Sự cứu rỗi là nhận biết Chúa Giêsu ấy (2Cr 5,16). Việc giải thích các câu 53-63 như vậy thật rất chặt chẽ.

Một vài nhà chú giải đã tìm cách giải thích các câu này theo một đường hướng khác bằng cách xem mấy chữ "Và khi các ngươi thấy Con Người lên nơi Người đã ở trước" như một lời tiên báo việc đóng đinh trên thập giá (Cyrille, Maldonat, Tolet, Schanz...) vì xét rằng, đối với Gioan. Giờ của Chúa Giêsu là giờ Người bị nâng cao trên thập giá và được vinh hiển. Nhưng ở đây, lối giải thích này ít xác đáng vì hai lý do:

1. Động từ amabainein "lên" không bao giờ tương đương với động từ hupsôthênai "giương cao" trong Tin mừng thứ tư cả (3,14; 12,32-34);

2. Việc gương cao trên thập giá không đặt Chúa Giêsu vào nơi mà Người đã ở trước. Vì thế, hình như bắt buộc phải hiểu nghĩa Thăng thiên.

Ý kiến này được đa số chấp nhận. Người ta cỏn có thể tranh luận về cách thức bổ túc câu này, là câu chưa chấm dứt và do đó có vẻ tối nghĩa, có lẽ do chủ ý. Nhưng dầu sao, chính mầu nhiệm Thăng Thiên sẽ đưa ra giải đáp đúng nhất cho các khó khăn.

3. "Thần khí mới tác sinh, xác thịt thì không ích gì" (c 63). Phải chăng những lời này muốt bảo: chỉ có Thần khí mới ban sự sống còn xác thịt của Con Người thì không có ích chi? Thế tại sao lại nhấn mạnh đến việc cần thiết phải ăn thịt ấy trong diễn từ về bánh? Câu này thật là một skandalon, một chướng ngại cho nhiều nhà chú giải.

Người ta năng gặp cách chú giải câu đó như sau: "Xác thịt không ích gì" có nghĩa là xác thịt vật chất của Chúa Giêsu sẽ chẳng có một công hiệu cứu rỗi nào nếu không có "thần khí tác sinh"; điều này giả thiết sự sống lại của Chúa Giêsu, việc Người vượt qua tình trạng vinh hiển và thiêng liêng, và việc Thần khí can thiệp trên các yếu tố được thánh thể hóa để làm thành thịt và máu của Đấng Sống lại. Nhưng lối giải thích này không lưu ý đến sự mạch lạc toàn bộ của diễn từ. Thật vậy từ c.53 đến 56, Chúa Giêsu nói về thịt Người hoặc thịt của Con Người một cách rất minh nhiên và quả quyết không chút dè dặt rằng đó thật là một của ăn (c.55) cung cấp sự sống vĩnh cửu (c 54). Người ta khó mà hiểu làm sao nơt c.63a, Người nhắc lại cùng một thực tại ấy khi nói về thịt mà chẳng xác định là thịt Người, và liều mình tương đối hóa lời tuyên bố của Người trước đó mấy câu. Sau hết, ngay tiếp theo c.63a Người bảo: "Lời Ta đã nói với các ngươi là Thần khí và là sự sống''. Câu này cho thấy rõ ràng quyền lực Chúa Giêsu đang có khi Người tuyên bố nó ra. hình như không chắc là ở đây Người bảo thịt Người chẳng lợi ích gì cả, vì như thế thì không còn mạch lạc giữa lời nầy với các lời trước.

Thật ra, hợp lý hơn khi giả thiết rằng trong c.63, không còn vấn đề thịt Chúa Giêsu, thịt được hy tế cho chúng ta, dấu chỉ hữu hiệu của tình thương Người và lương thực nuôi sống chúng ta nữa, nhưng là xác thịt nói chung, là nhân tính chúng ta, nhân tính bất lực trong việc cứu rỗi chính mình cũng như đón nhận ơn cứu rỗi và chân lý do Chúa Giêsu mang đến (x. Mt 16;17). Bản văn không bàn tới sự đối nghịch giữa "Thịt Ta -Thần Khí", nhưng tới sự đối nghịch, theo quan niệm sêmita, giữa Thần khí - xác thịt là ngày nay ta đến tả dưới hai ý niệm nhân loại thần linh (x. 3,6). Các người Do thái bực tức trước những lời nói của Chúa Giêsu. Vì, noi theo người đại tiện nổi tiếng của họ là Nicôđêmô, họ chỉ xét mọi sự dưới khía cạnh phàm trần mà không để ý gì đến những khả hữu tính thần linh. Khi phê phán những lời của Chúa Giêsu trong ý nghĩa nguyên thủy của chúng cũng như trong lối giải thích của Gioan trên những nền tảng nhân loại, thì những lời nói ấy hiển nhiên là phi lý. Nhưng đọc những lời nói đến sự sống vĩnh cửu trong một viễn tượng nhân loại thì lại còn phi lý hơn.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Nhiều môn đồ nói...": Tiếng Hy lạp pelloi có thể hiểu là "nhiều' hay "khá nhiều", nghĩa đầu mạnh hơn nghĩa sau; ở đây cũng như ở chỗ khác, không thể nào xác định được. Cũng

chẳng rõ là số "môn đồ'' ấy có bao hàm nhóm Mười hai hay không. Tuy nhiên, dựa vào việc Phêrô xem ra nhân danh nhóm Mười hai để minh định lập trường, nên có lẽ không được liệt nhóm Mười hai vào số các môn đồ lẩm bẩm kêu ca Chúa Giêsu, ngoại trừ Giuđa, vì Chúa Giêsu đã gọi y là "quỷ sứ " (6,70).

"Lời chi mà sống sượng thế": Không phải là khó hiểu, nhưng đúng hơn là khó nuốt, khó chấp nhận.

"Vì chưng ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã biết... kẻ sẽ nộp Người là ai": Không chắc Gioan muốn nói với độc giả là Chúa Giêsu đã biết sự bội phản tương lai của Giuđa ngay khi Người gọi ông làm sứ đồ. Tiếng từ đầu không buộc phải hiểu như vậy; hơn nữa một sự hiểu biết như thế của Chúa Giêsu sẽ khiến việc chọn Giuđa thành khó giải thích, đó là chưa kể nó không mấy phù hợp với bản tính nhân loại thực sự của Chúa Giêsu. Nếu cho rằng Chúa Giêsu chỉ khám phá ra là Giuđa không đáng tin cậy sau khi đã sống thân mật với ông một thời gian, thì tiếng ngay từ đầu mới có thể biện minh được.

"Từ đó": Thành ngữ ektoutou, ngoài nghĩa thời gian, còn có thể có nghĩa nguyên nhân (như trong các chỉ cảo): Gioan muốn bảo rằng sự đào ngũ đông đảo mà ông đang đề cập có nguyên nhân trực tiếp là giáo thuyết mà Chúa Giêsu vừa đề ra.

"Ngài có những lời đem đến sự sống đời đời": Nói cho đúng, phải dịch câu này như sau: "Ngài có nhiều lời ban sự sống đời đời" (TOB). Nhưng ở đây, như thường thấy trong Gioan, việc thiếu quán từ có lẽ là do ảnh hưởng của căn ngữ sêmita. Do đó, cách dịch của BJ có thể bào chữa được.

KẾT LUẬN.

Các lập trường đã chọn lựa xong, các phe nhóm đã phân chia rõ ràng. Giuđa và người do thái có thể chuẩn bị vụ án Chúa Giêsu. Thật ra, chính Con người sắp xử án dân bị loại bỏ của Thiên Chúa, giũa niềm vui của ngày lễ Lều Trại và lễ Đền thờ là hai đại lễ của dân "'được tập họp" của Thiên
Chúa (Ga 7-10).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG.

1. Phần kết luận của diễn từ về bánh sự sống dẫn đưa chúng ta tới cao điểm của cơn khủng hoảng từ đó phát sinh cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu. Chúa đã hỏi một số lời bắt người ta phải chọn lựa: hoặc tin vào Người, hoặc từ chối không tin.

2. Sở dĩ một số môn đồ kêu ca khó chịu và từ chối tin, là vì họ có một cách thức hiểu lời Chúa Giêsu. Hoặc họ từ chối, hoặc đối với một vài kẻ, chưa đến giờ tin, tất cả là vì họ

không hiểu lời Chúa Giêsu trong Thần khí. Họ chẳng chịu vượt qua sự hiểu biết vật chất và xác thịt về những lời của Người. Tại sao vậy? Vì tâm hồn họ không ở trong tình trạng đón tiếp. Tâm trí họ đóng kín trước điều mới mẻ. Họ giam mình trong thế giới vật chất mà họ coi là dễ chấp nhận hơn. Điều Chúa Giêsu nói không thể nào có được xét theo con người, thành thử họ loại bỏ. Điều bất hạnh cho họ nằm trong câu hỏi: Điều gì không thể được đối với Thiên Chúa? Ở đây, họ tỏ ra thiển cận, chỉ muốn phê phán điều có thể và không có thể; họ chẳng có ý định đi tìm quan điểm mà từ đó một số tâm hồn đơn sơ tự nhiên thấy được lối vào trong cái vô biên của thực tại, thực tại Thiên Chúa. Chúng ta đang đứng trước một trường hợp điển hình của sự tự mãn ngoan cố và hẹp hòi của trí tuệ con người chỉ muốn phủ nhận cái bên kia những chân trời của nó. Các sứ đồ dã có được phản xạ cứu thoát họ. Được ân sủng bên trong của Thần khí trợ giúp, họ đã vượt thắng được sự khó hiểu bằng cách trung thành với Chúa Giêsu chỉ Người là "Đấng Thánh của Thiên Chúa".

3. "Nhưng trong các ngươi, có những kẻ không tin". Hãy tự vấn xem câu này có liên can đến chúng ta, là những tín hữu của thế kỷ XX không? Việc đọc và nghe lời Chúa Giêsu làm chúng ta đặt lại vấn đề. Chúng ta có cho những lời ấy là quan trọng, có thực sự muốn lao công vì "lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời" (6,27), có muốn tiếp nhận lương thực ấy bằng cách ăn uống Thịt Máu của con Người và thông hiệp vào cuộc khổ nạn của Người không? Nếu không, chúng ta hãy thành thật thú nhận: "Lời chi mà sống sượng thế ". Ai nghe được (c 60) và hãy rút ra những hậu quả. Chúng ta đừng hy vọng đánh tráo: "Bởi chưng ngay từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những kẻ không tin và ai là kẻ sẽ nộp Người. Và Người nói: Vì thế Ta đã bảo các ngươi: không ai có thể đến với Ta trừ phi là đã được Cha ban cho". Lúc chúng ta quyết định, thì Chúa Giêsu nhắc lại rằng rốt cuộc đức tin của chúng ta không thể căn cứ vào những nhận xét, những suy diễn hoặc những cảnh tượng chủ quan, những căn cứ vào mặc khải mà Thiên Chúa ban cho chúng ta về nhân cách đích thực của Chúa Giêsu và về tương quan giữa ta với Người.

4. Thánh Thể là bí tích và là chiến thắng của sự bé nhỏ Tin Mừng: trong Thánh Thể chúng ta là con và lại được trở thành con cái Thiên Chúa. Vì để tin rằng Thiên Chúa đến với

chúng ta dưới hình bánh, thì phải có một tâm hồn của trẻ nhỏ, cởi mở đón nhận những điều diệu kỳ của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại câu nói rất mạnh của thánh Tôma: "Chúng ta luôn luôn như là đứa bé trong lòng mẹ trên trần gian này". Chúng ta đang ở vào thời gian con nhộng. Trong thế giới bên kia, con bướm sẽ ra khỏi bóng tối của nó và sẽ triển nở trong ánh sáng chan hòa.


 
Noel Quession - Chú Giải

Bánh Hằng Sống (4)

Đức Giêsu đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um: "Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời... Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi".

Chúng ta đã đọc đến đoạn cuối của diễn từ "Bánh hằng sống". Chúng ta sẽ tìm hiểu hiệu quả bài giảng của Đức Giêsu đối với thính giả, qua ngòi bút của một nhân chứng đã đích thân tham dự buổi diễn giảng này. Có hai hiệu quả:

Đó là sự vấp phạm và khước từ của đa số cử tọa.

Nhưng cũng là sự trung thành, khiêm tốn đầy tin cậy của nhóm nhân tố "Mười Hai".

Ở đây chúng ta có chứng tích lịch sử bậc thất về cuộc sống của Đức Giêsu. Ba thánh sử kia cũng đã ghi lại rõ ràng khúc quanh quan trọng này trong sứ vụ của vị tiên tri làng Na-za-rét: Đó là cơn khủng hoảng! Cho tới bây giờ, đám đông đã đi theo và tìm kiếm Người: Ở đây Gioan đã gọi họ là "môn đệ". Nhưng các "môn đệ" này, những người đã bắt đầu đi một đoạn đường với Đức Giêsu, đang từ bỏ Người. Sự mạc khải mầu nhiệm Thánh Thể bắt đầu làm cho đa số thính giả chán ngán vào cuối chương này, chúng ta có thể đếm số môn đệ nhỏ nhoi còn lại.

Tin Mừng đã thẳng thắn không che giấu chúng ta rằng Chúa đã thất bại trong ý định giúp ta hiểu về "bánh" của Người, "Bánh đích thực". Bởi vì nói cho cùng thì ai có thể hơn Đức Giêsu để giải thích cho chúng ta vấn đề này? Hai mươi thế kỷ qua đi, chúng ta vẫn tiếp tục ngạc nhiên khi thấy những con người nam nữ già trẻ từ chối bước theo Đức Giêsu để "nhận lấy mà ăn bánh và cầm lấy mà uống rượu của Người, và như Người tuyên bố thì đó là thịt và máu của Người". Và có thể chúng ta vẫn lên án Giáo Hội về điểm đó: "ôi giá kể Giáo Hội đã không thay đổi nhanh hơn... ôi, nếu Giáo Hội có lập trường như lập trường của tôi".

Thực ra chính "đức tin" là nguyên nhân của sự việc này, chứ không phải là một truyền thống phụng vụ, văn hóa, xã hội nào đó, và Đức Giêsu sẽ nói lại điều này với chúng ta một cách rõ ràng, không chút nhượng bộ.

Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy.

Các bạn thấy không? Đức Giêsu không cần nghe những lời lẩm bẩm đó. Người biết trước, Người không ngạc nhiên, Người đang chờ đợi những lời đó. "Đức tin" khó khăn biết bao! Vì đức tin là "khước từ cách hiểu biết thông thường, nhờ giác quan và lý trí, lý luận" để "tin vào một người khác" đó là "tin mà không thấy", như Thánh Gioan sẽ nói rất nhiều lần.

Người bảo các ông: "Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư?".

Vâng lạy Thầy, điều đó làm chúng con vấp phạm. Và Thầy biết rõ như thế. Từ Hy Lạp là động từ "Scandahzô" Ở đây dịch là vấp phạm, có nghĩa là điều đó làm các ngươi bất bình, các ngươi vấp phải ta như vấp phải một hòn đá chướng ngại. Chúng ta thường có khuynh hướng làm cho đức tin trở thành một thứ giáo huấn. Nếu giảng hay, những người trẻ sẽ đi dự lễ. Họ sẽ hiểu, họ không còn "biết" gì thêm nữa. Nhưng đối với Đức Giêsu, như chúng ta đã thấy đức tin luôn gây đụng chạm! Đức tin không hẳn nhiên là thế? Đức tin luôn luôn cho ta thấy chướng. "Đức tin" không phải là một bài học được lặp đi lặp lại, "nhưng" là một dấn thân trong cuộc sống". Đức tin là một "thực hành có hiệu quả". Đức tin là một sự "thúc hối" phải chấp nhận từ bỏ ánh sáng riêng của mình, được coi là có tính khoa học, để đón nhận mạc khải của một người khác mà không thể kiểm chứng được bằng những phương thế nhân loại. "Tuyên xưng đức tin" thực sự, không phải là đọc kinh Tin kính hay một "công thức" nào hay nhất do bộ óc văn minh của chúng ta, mà là thực hành không gì Chúa đã dạy. Mầu nhiệm trung tâm của đức tin, chắc chắn là Bí tích Thánh Thể. Khi ta nói "Người Kitô hữu là người đi dự lễ", thì ta chưa nói hết. Nhưng ta đã nói một phần nào cốt yếu, nếu ta hiểu Thánh lễ như chúng ta đang cố cử hành với chính Chúa Giêsu. Đức tin đó là một "quyết định". Quyết định này bao gồm hai khía cạnh:

1 "An bánh hằng sống".

2. "Sống đời mình bằng yêu thương hữu ích".

Thế khi anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?

Làm sao người này có thể cho thịt của mình để chúng ta ăn? Chính vì người này không chỉ là một con người. Đức Giêsu, thay vì rút lại lời khẳng định của mình hay là giải thích hoặc làm giảm nhẹ chúng, Người lại nhấn mạnh bằng cách gợi cho chúng ta một "mầu nhiệm" khác mà mầu nhiệm Thánh Thể chỉ là sự diễn dịch. Chúng ta đang thực sự ở trong đề tài Nhập Thể của Thiên Chúa. "Thần Khí" trở thành xác phàm.

Đây thực là một mầu nhiệm "thần linh" (không ai đã thấy Chúa) và vì thế con người không thể tự sức riêng mà hiểu được. Đức Giêsu ám chỉ rõ ràng "hữu thể thần linh của Người". Người nói Người sẽ trở về nơi mà trước kia Người đã ở. Chúng ta hãy lưu ý tới giọng nói hạch hỏi của Đức Giêsu này. Câu nói của Người hầu như chưa dứt: "Và khi anh em sẽ thấy Con Người lên nơi mà Người đã ở trước thì sao?".

Vâng, xuyên qua sự tối tăm, vẻ tầm thường, sự thân mật nơi thân phận con người hiện tại của Đức Giêsu, cần phải tiến đến sự khám phá vinh quang của Chúa Ba Ngôi. Người ngự bên hữu Đức Chúa Cha, trong sự sống động của Thần Khí, mà Người đã lãnh nhận từ Chúa Cha. "Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi và Tôi sống nhờ Chúa Cha, thế nào thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy".

Thực sự chúng ta không biết sự sống là gì: sự sống bình thường của thảo mộc, cũng như động vật, không ai, không một nhà bác học nào đã có thể nói sự sống là gì?

Vậy thì "sự sống" của Thiên Chúa thì sao? Những phương tiện để hiểu biết mà con người có được đều bất lực, không thể giúp hiểu mầu nhiệm này. Người ta không thể giải thích Bí tích Thánh Thể chỉ bằng lý trí con người: Mầu nhiệm này thật vĩ đại, khôn dò, đó là mầu nhiệm đức tin.

Thần khí mới làm cho sống, chứ huyết nhục chẳng có ích gì.

Lạy Chúa, xin lặp lại cho con những lời đó. Ước chi những lời này không làm cớ cho con vấp phạm và nghi ngờ.

Những lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống. Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người.

Hơn mọi lời khác, lời Chúa, nói về phép Thánh Thể, đã giả định trước tác động của Chúa thánh Thần. Chúng ta thực sự đang ở trung tâm điểm của Tin Mừng. Làm sao có thể giản lược Tin Mừng vào những giải thích luân lý: Đức Giêsu con người vĩ đại nhất, nhà hiền triết, vị ngôn sứ nhà cách mạng, là phong trào xã hội, là giải phóng... tất cả đều đúng, nhưng không phải là bản chất riêng của Chúa. Có một khía cạnh nổi bật khác, không thể thu nhỏ được mà chúng ta gọi là thần linh! Tức là vô hình, vượt trên tất cả. Chúng ta chỉ thấy được một phần nào siêu việt qua con người hữu thể của Người, mà phải mất một chút đoán nhận ra "ngang qua xác thể" nhưng đó vẫn thuộc về trật tự Thần khí và Sự sống.

Người nói: "Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho".

Chúng ta đang ở trong mầu nhiệm sự sống của Thiên Chúa, sự sống của Ba Ngôi. Hình trạng Chúa Ba Ngôi của Rublev đã diễn tả mầu nhiệm này cách kỳ diệu.

Ba nhân vật ngồi chung quanh một "cái bàn" và chỉ dùng một "chén". Tam vị nhất thể được tiếng trưng bằng một vòng tròn mà chu vi bên ngoài của ba ngôi vẽ nên cách ăn khớp tuyệt hảo. Là 3 hình nhưng để tạo nên một vòng duy nhất. Đó là một vòng tròn sống động luôn vận chuyển. Chúa Cha chủ tọa bên kia bàn. Người nhìn bằng cái nhìn tình yêu xuyên suốt trái tim, lồng ngực của Chúa Con. Còn Chúa Con lại nhìn sang Chúa Thánh Thần. Nhưng ta hãy nhìn kỹ dung mạo của Ngôi Ba và cử động bàn tay phải của người: Cả mặt và tay hướng xuống đất! Hình tròn được mở về phía chúng ta là những người đang đứng phía trước bàn, để ngắm nhìn "hình" này. Vâng, sự sống của Ba Ngôi được ban cho chúng ta, tại chiếc bàn này: Thần khí là sự sống được ban cho chúng ta, được dâng tặng cho chúng ta. Thiên Chúa, vì là Tình yêu, nên rõ ràng Người không thể ép buộc ai.

Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa. Nên Đức Giêsu mới hỏi Nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?".

Dường như Chúa nói': "Tôi không giữ anh em, anh em được tự do". Trong cuộc xung đột đang xảy ra giữa những "môn đệ ra đi" và những người ở lại với Chúa, trong cuộc xung đột giữa cha mẹ và con cái chẳng hạn... chúng ta hãy nhớ lời của Chúa: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? "ông Simon Phêrô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai bây giờ? Thầy mới có những lời ban phúc trường sinh, phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa".

Đây là những lời đầy khiêm hạ và đơn thành: "Bỏ Thầy, thì chúng con biết đến với ai bây giờ "'. Lời nói chứa chan tình yêu và sự phó thác, vì đối với họ, Đức Giêsu là Đấng "không ai có thể thay thế được". Tuy nhiên chúng ta nên ghi nhớ, Nhóm Mười Hai đêm trước đã có một kinh nghiệm có thể soi sáng cho họ: Giữa phép lạ hóa bánh ra nhiều và diễn từ về Bánh hằng sống là thịt của Người các ông đã thấy thân thể đó "bước đi trên mặt nước hồ đang nổi sóng dữ dội trong cơn bão tố" (Ga 6,16-21). Thân thể này không có trọng lượng như chúng ta. Đó là Thánh Thể Đấng Thánh của Thiên Chúa. Tại sao chúng ta lại giới hạn Thiên Chúa vào trong khả năng hiểu biết của chúng ta? Thiên Chúa vượt mọi khả năng của chúng ta. Điều đó thật hiển nhiên!


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Chúng con sẽ đi đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống ":

BÀI TIN MỪNG: Ga 6, 61 - 70

I. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay là phần cuối trong bài giảng của Chúa Giêsu về Bánh Hằng Sống. Phần này nói đến những phản ứng của cử tọa khi nghe bài giảng này.

II. SUY NIỆM:

1 / " Có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu ":

Trong số cử tọa nghe giảng về Bánh Hằng Sống, ngoài số đông dân chúng, còn có một số môn đệ và 12 tông đồ. Môn đệ là những người đi theo Chúa nhưng không phải là người Chúa chọn để ban quyền phép như các tông đồ. Ở đây thánh sử Gioan nói đến phản ứng của các môn đệ và các tông đồ.

2 / " Lời này chói tai quá, ai nghe được? ":

Các môn đệ tuy được sống gần Chúa Giêsu hơn dân chúng, nhưng cũng có phản ứng như dân chúng ( Ga 6, 52 ) chứng tỏ họ cũng hiểu Lời Chúa giảng về Bánh Hằng Sống hoàn toàn theo nghĩa vật chất, nên họ cho là chói tai, họ lẩm bẩm và vấp phạm.

3 / " Điều đó làm các ngươi khó chịu ư? ":

Chúa Giêsu biết rõ các môn đệ này đang kêu trách vì:

* Người tự xưng là Bánh Hằng Sống đang khi họ biết cha ông của họ đã ăn Manna và đã chết ( Ga 6, 49 ).

* Người tự xưng từ trời xuống, đang khi họ biết rõ tông tích của Người là " Con của Giuse " ( Ga 6, 42 ).

* Người tự xưng " Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống " ( Ga 6, 55 ) đang khi có luật cấm không được uống máu loài vật ( Lv 17, 10; Cv 15, 20 ). Lý do các môn đệ này kêu trách vì họ không tin nhận nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu.

4 / " Vậy nếu các ngươi thấy Con Người lên nơi đã ở trước thì sao? ":

Vì vậy ở đây Chúa Giêsu hứa sẽ cho môn đệ một chứng lý để tin sứ mệnh Người và tin lời Người mới giảng. Chứng lý này chính là việc Người sẽ lên trời, nơi Người đã từ đó mà xuống. Bây giờ các ông vấp ngã, không tin lời Người, nhưng đến lúc xem thấy Người sống như thần linh ( Sau phục sinh ) và lên trời, các ông sẽ không vấp ngã nữa và sẽ tin Người.

5 / " Chính thần trí mới làm cho sống chứ xác thịt nào có ích gì? ":

Ở đây muốn nói huyết nhục tự mình chẳng có giá trị gì cho sự sống đời đời, nhưng huyết nhục của Ta nuôi sống được linh hồn các ngươi và cho xác các ngươi sống lại và sống mãi mãi vì nó hợp với thần linh của Thiên Chúa. Bởi đó, thần linh chính là cái làm cho sống, còn nhục thể chẳng được sự gì cho sự sống đời đời.

6 / " Những lời Ta nói với các ngươi là Thần Trí và là Sự sống ":

- Là Thần Trí vì đó là Lời của Thiên Chúa nói với loài người.

- Là Sự Sống vì Lời đó có thần lực ban sự sống.

Ở đây Chúa muốn nói: Lời Chúa cũng là sự sống vì Lời Chúa giảng dậy về Bánh Hằng Sống sẽ đưa ta đến chỗ sống đời đời. Tức là đem lại hiểu quả thiêng liêng. Vì vậy nếu ta tin và thi hành Lời Chúa, linh hồn ta sẽ sống đời đời và xác ta cũng sẽ được Chúa cho sống lại để sống mãi mãi với linh hồn.

7 / " Vì từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những kẻ không tin và không chịu tin và kẻ nào sẽ nộp Người ":

Chúa Giêsu đã thấy trước sự cứng lòng tin của các môn đệ và đồng thời người biết trước kẻ nộp người.

Kiểu nói " từ đầu " Chúa Giêsu đã biết Giuđa là kẻ nộp người. không có nghĩa là biết trước khi chọn ông nhưng là biết sau khi sống với ông một thời gian. Hiểu như vậy chúng ta mới nhận ra quyền sử dụng tự do của Giuđa và việc Chúa tôn trọng quyền tự do của con người chọn hay từ chối Chúa.

8 / " Bởi đó... không ai có thể đến với Ta nếu không được Cha ta ban cho ":

Chúa Giêsu muốn nhắc lại điều Người đã giảng ở trên ( Ga 6, 44 - 45 ). Phải có Thiên Chúa lôi kéo mới được đức tin và người ta không được đặt trở lực vì sự cố chấp hay tự mãn của mình. Chúa Giêsu giảng dạy rõ ràng như thế mà còn nhiều môn đệ không hiểu và bỏ Người " Có những môn đệ rút lui ".

9 / " Cả chúng con nữa, chúng con có muốn bỏ đi không? ":

Sau khi thấy phản ứng cứng lòng của các môn đệ Chúa Giêsu quay sang nói với 12 tông đồ để xem các ông phản ứng ra sao ở đây cho thấy Chúa đặt câu hỏi này là để mở dịp cho Phêrô biết nhân danh tông đồ đoàn mà tuyên xưng lòng tin vào Chúa Giêsu. Như vậy chứng tỏ Chúa Giêsu đòi hỏi các ông phải tỏ thái độ dứt khoát: Tin hay không tin đối với Người.

10 / " Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? ":

Phêrô thi hành nhiệm vụ thủ lãnh, nói thay tất cả anh em để bầy tỏ niềm tin vào Thầy mình:

+ Thầy mới có lời ban sự sống đời đời: Phêrô tỏ thái độ dứt khoát theo Chúa là vì chẳng có ai hơn Thầy. Chính Thầy mới là Người chúng con sẵn sàng bỏ mọi sự để theo. Vì Thầy xứng đáng là Người có những lời giảng dậy đem lại sự sống thần linh cho những ai nghe và đón nhận.

+ Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa: Phêrô có thái độ dứt khoát như vậy là vì ông đã có ơn nhận biết và xác tín rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế Chúa Cha sai xuống trần gian: Tức là Phêrô tín thác vào thần linh của Chúa Giêsu.

Ở đây cho chúng ta thấy các tông đồ cũng nghe những mà các môn đệ cho là chói tai, nhưng các ông không vấp phạm mà còn cảm thấy không thể bỏ Thầy được, vì các ông tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa ( Tin vào thần linh của Chúa Giêsu ). Chúng ta cũng liên tưởng đến lần khác Cesarê và Philipphê, phêrô cũng đã tuyên xưng: " Thầy là Đấng Ki tô " ( Mc 8, 29 ).

III. ÁP DỤNG:

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta chứng kiến thái độ từ chối của các môn đệ và thái độ tin nhận của các tông đồ để chúng ta kiểm điểm lại thái độ đức tin của chúng ta đối với Chúa, nhất là đối với những lời Chúa dậy trong Thánh Kinh.

B / Áp dụng thực hành:

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu:

a / Xem việc Người là:

* " Vì từ đầu Chúa Giêsu đã biết... kẻ nào nộp Người ": biết trước Giuđa sẽ nộp Người, nhưng Người vẫn bình tĩnh, không bực tức oán thù không xua đuổi khai trừ mà vẫn thản nhiên thi hành nhiệm vụ giảng dậy cho Giuđa cũng như các tông đồ khác.

Chúng ta cũng cần noi gương Chúa để lấy bình tĩnh mà sống bình thường, tương giao tốt với kẻ thù, với người đang sấu với mình, hoặc với những người mình không ưa, không thích... vì đó là dấu chỉ người môn đệ của Chúa Giêsu.

b / Nghe lời Người nói:

* " Điều đó làm các ngươi khó chịu ư? ": Chúa cũng nói với ta điều này khi ta chưa can đảm bỏ mình để sống Lời Chúa, hoặc khi ta lấy làm khổ cực khó khăn vì sống tinh thần Tin Mừng.

* " Nhưng lời Ta nói với các ngươi là thần trí và là sự sống ": nếu chúng ta tin, cậy, mến Chúa cách thành thật, chúng ta sẽ cảm nghiệm Lời Chúa là thần lực có sức ban sự sống và như vậy chúng ta cảm mến Lời Chúa và sẵn sàng đón nhận Lời Chúa và thực hành Lời Chúa mỗi ngày. Chúa nói lời này, chúng ta có tin như vậy không? nếu tin chúng ta thực hành lời Chúa thì sẽ cảm nghiệm được Lời Chúa là thần trí và là sự sống.

* " Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không? " sống giữa một xã hội đầy rẫy những sự phản nghịch tinh thần của Chúa thì Lời Chúa nói đây cũng là nói với mỗi người chúng ta để đòi hỏi phải dứt khoát chọn lựa: sống theo tinh thần của Chúa hay sống theo tinh thần thế gian.

2 / Nhìn vào các môn đệ bỏ Chúa:

+ " Lời này chói tai quá, ai nghe được ": chúng ta cũng cảm thấy chói tai khi chúng ta thấy Lời Chúa khác với ý nghĩ, sở thích của mình, hoặc ngược với điều mình muốn. Nếu cứ tiếp tục như vậy, sẽ có lúc ta phản lại Lời Chúa và bỏ Chúa nữa.

+ Có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa:

* Khi chúng ta không hiểu Lời Chúa theo ý của Chúa, chúng ta sẽ thấy Lời Chúa khô khan, không hấp dẫn, và như vậy sẽ dễ rút lui, bỏ việc đọc, học, suy niệm và sống Lời Chúa.

* Người ta sống với nhau hay sinh ra trục trặc với nhau chỉ vì không hiểu nhau. Các môn đệ bỏ Chúa vì không hiểu Chúa nói, chúng ta ở xa Chúa không tha thiết gắn bó với Chúa chỉ vì chúng ta không cố gắng học biết về Chúa và thông hiểu Lời Chúa mỗi ngày.

3 / Nhìn vào các tông đồ mà Phêrô là đại diện:

+ Lạy Thầy chúng con sẽ đi theo ai?

Những lúc gặp thử thách, gặp gương xấu, gặp những quyến rũ của thói đời... chúng ta phải ngước nhìn lên Chúa và thưa với Chúa: Lạy Chúa chúng con biết theo ai? vì Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Rồi chúng ta mở Tin Mừng đọc và suy niệm, Lời Chúa sẽ soi sáng, hướng dẫn và nâng đỡ ta.

+ Thầy Đấng Kitô Con Thiên Chúa: chúng ta là tông đồ của Chúa, chúng ta phải biết tuyên xưng Chúa Kitô trong cuộc sống.

+ Tin Chúa Kitô là Thiên Chúa nhập thể để sống noi gương Người và vâng lời Người. Tin Chúa Kitô là Đấng Cứu chuộc ta để cảm mến và tạ ơn Người.

+ Tin Chúa Kitô là Thiên Chúa, để thờ lạy ngợi khen Người và sống đẹp lòng Người hơn.


 
" Các ngươi gác bỏ một bên các giới răn Thiên Chúa,
mà nắm giữ tập tục phàm nhân "

BÀI TIN MỪNG: Mc 7, 1 - 8a; 14 - 15; 21 - 23

I. Ý CHÍNH:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua cuộc tranh luận với các biệt phái và luật sĩ về việc rửa tay trước khi ăn. Chúa Giêsu đã nghiêm khắc cảnh báo những người chỉ biết chú trọng lo giữ những tập tục loài người mà bỏ qua các giới luật của Thiên Chúa.

II. SUY NIỆM:

1 / " Những người Biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem tụ tập lại bên Chúa Giêsu ":

Dự lễ ở giáo đô Giêrusalem xong ( Ga 5, 1 - 47 ) Chúa Giêsu phải trở về Galilê vì Biệt phái đang tìm cách hại Người. Thấy Người trở về Galilê, những người Biệt phái và mấy người luật sĩ được sai đến tụ tập bên Chúa Giêsu để xét nét công việc của Người.

+ Họ thấy vài môn đệ Người dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch, nghĩa là không rửa trước. Dò xét mãi, họ mới bắt bẻ được Người về tội khinh thường, không bắt các môn đệ của Người tuân giữ các tập tục của tiền nhân là rửa tay trước khi ăn.

2 / " Vì theo đúng tập tục của tiền nhân ":

Tập tục của tiền nhân là những tập tục của con người đặt ra. Các tiền nhân của người Do thái đặt ra rất nhiều tập tục tỉ mỉ mà các Biệt phái và Luật sĩ giữ rất nghiêm nghặt.

Những người Biệt phái và mọi người Do thái:

+ Những người Biệt phái là những người Do thái rất sùng đạo, nhưng sùng đạo cách giả hình, vụ hình thức, vì họ chỉ chú trọng những hình thức bên ngoài như nhiệm nhặt giữ các tục lệ của tiền nhân.

+ Không dùng bữa mà không rửa tay trước...:

Thánh sử Mac-cô kể ra các tập tục của tiền nhân như rửa tay trước khi ăn, khi ở nơi công cộng về thì tắm rửa trước khi ăn hoặc những tập tục khác như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng...

3 / " Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch ":

Tuy mọi người Do thái đều giữ các tập tục của tiền nhân, nhưng không phải mọi người Do thái đều giữ luật nhiệm nhặt như nhau. Người ở Galilê không nhiệm nhặt quá như người ở Giuđêa. Các môn đệ là những dân thường ở xứ Galilê, nên ít để trí đến những luật lệ phiền phức mà các Luật sĩ và Biệt phái ở Giêrusalem đã tuân giữ nghiệm nghặt. Vì thế ở đây ta mới hiểu lý do các môn đệ dùng bữa mà không rửa tay nhưng các Biệt phái và Luật sĩ lại đến bắt bẻ Chúa như vậy.

4 / " Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi ":

Chúa Giêsu gọi những người đến bắt bẻ Chúa là bọn giả hình, vì họ là những người có đời sống giữ đạo vụ hình thức đúng như lời tiên tri Isaia đã nói trước kia rằng.

5 / " Dân này kính Ta ngoài môi miệng nhưng lòng chúng ở xa Ta ": ( Is 29, 13 ):

Chúa Giêsu gọi họ là bọn giả hình vì cũng như thời tiên tri Isaia, người ta không nghĩ đến sự hối cải trong tâm hồn, mà chỉ bận tâm đến việc thực hiện những việc bên ngoài, chuộng hình thức bên ngoài mà không có tinh thần bên trong.

+ " Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dậy những giáo lý và luật loài người ".

Chúa khiển trách họ là người đảo lộn giá trị vì họ chỉ chú trọng đến việc tuân giữ các tập tục của tiền nhân mà bỏ qua những giới răn căn bản của Chúa. Họ coi trọng việc thuộc về con người hơn việc thuộc về Thiên Chúa.

Tiếp đó bản văn phụng vụ hôm nay bỏ qua một số câu ( 8b - 13 ) Chúa chưng ra làm tỷ dụ chứng minh sự giả hình của họ, mà trích mấy câu Chúa dậy cho dân chúng và các môn đệ về việc phải lo cho tâm hồn được trong sạch.

6 / " Hết thẩy hãy nghe và hiểu rõ lời Ta ":

Đây là kiểu nói gây chú ý cho thính giả vì Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh cho dân chúng về những điều Người sắp nói sau đây.

7 / " Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế ":

Để dạy dỗ dân chúng và các môn đệ, Chúa Giêsu đặt ra hai nguên tắc. Câu này là nguyên tắc tiêu cực: Có ý nói rằng đồ ăn tự nó không làm cho con người ra ô uế. Áp dụng nguyên tắc này Chúa muốn bãi bỏ điều luật Môisen về những đồ ăn sạch hay ô uế. Đồng thời từ đó Người cũng hướng dẫn đến việc huỷ bỏ sự ngăn cách, phân biệt giữa người công chính và kẻ tội lỗi ( Mc 2, 15 - 17 ), người trong sạch và kẻ ô uế, tức là giữa dân Do thái với dân ngoại.

+ Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những các đó mới làm cho họ ra ô uế: đây là nguyên tắc thứ hai, có tính cách tích cực. Sau khi nêu ra hai nguyên tắc này Chúa Giêsu bỏ dân chúng mà vào nhà. Các môn đệ nhờ ở riêng với Thầy nên đã hỏi Thầy về ý nghĩa hai nguyên tắc trên.

Bản văn phụng vụ lại bỏ qua phần đâu về lời giải thích của Chúa ( Mc 7, 16 - 20 ) mà chỉ trích lại phần cuối từ câu 21 - 23.

8 / " Vì từ bên trong, từ tâm trí con người xuất phát ra những tư tưởng xấu...":

Theo nguyên tắc này Chúa có ý nói những gì phát xuất từ trong thâm tâm xấu, tức là tà tâm mới làm cho con người ta ra xấu.

Chúa đưa ra hai nguyên tắc phân biệt sự trong sạch và ô uế để chúng ta biết phân biệt những cái thuộc vật thể và luôn lý. Vật thể tự nó không làm nhơ uế con người. Muốn tìm các làm nhơ uế con người phải đi lên nguồn gốc là lương tâm con người.

III. ÁP DỤNG:

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay để: khiển trách những ai sống đạo vụ hình thức, chỉ chú trọng những hình thức sống đạo bên ngoài mà sao lãng việc hoán cải đời sống nội tâm.

+ Cảnh giác những ai đang bị cám dỗ từ bỏ giới răn Thiên Chúa để theo truyền thống con người và những ai đang bị lôi cuốn chỉ tôn thờ Thiên Chúa ngoài môi miệng nhưng lòng thì xa cách Chúa.

B / Áp dụng thực hành:

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu:

a / Xem việc Người làm:

Chúa Giêsu nghiêm khắc với các Biệt phái và luật sĩ vì tội giả hình của họ. Nhưng Người dựa vào Thánh Kinh ( Tiên tri Isaia ) để khiển trách họ và vạch lỗi lầm của họ với mục đích để sửa chữa họ.

Chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu biết cứng rắn trước lỗi lầm khuyết điểm của tha nhân, nghĩa là không nuông chiều khuyết điểm của họ. Nhưng dựa vào tinh thần của Chúa, dựa vào Lời Chúa để chỉ vẽ cho họ nhận ra khuyết điểm hầu giúp họ hoán cải đời sống. Chúa nhân từ với dân chúng: Người đã dựa vào tội giả hình của Biệt phái và luật sĩ để rút ra bài học kinh nghiệm dậy cho dân về sự trong sạch và ô uế, về tập tục loài người và giới răn của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng noi gương Chúa biết dựa vào những biến cố sẩy ra hằng ngày để rút ra bài học hướng dẫn những người chung quanh về ơn Chúa ban, về Chúa quan phòng, về tình thương của Chúa... và nhất là đời sống hoàn thiện để thăng tiến và thánh hoá tha nhân.

b / Nghe lời Chúa nói:

- Hỡi bọn giả hình: Chúa cũng khiển trách ta là giả hình khi chúng ta chỉ chú trọng đến việc giữ đạo bằng những hình thức bên ngoài mà sao lãng đời sống nội tâm, không chăm lo hoán cải và thánh hóa bản thân.

- Hết thảy hãy nghe Ta và hiểu rõ lời Ta: Chúa mời gọi chúng ta mỗi ngày biết lắng nghe và tìm hiểu Lời Chúa để biết cách sống theo Chúa. Lời mời gọi này giúp ta ý thức và chăm chỉ lắng nghe phần phụng vụ Lời Chúa trong mỗi thánh lễ.

2 / Nhìn các luật sĩ và Biệt phái:

Họ là những người nghiêm nghặt về những hình thức bên ngoài, nhất là những tập tục do con người đặt ra nhưng lại bỏ qua các giới răn của Chúa là điều căn bản.

Chúng ta cũng giả hình như:

- Sao lãng nội tâm mà chỉ ưa thích những hình thức sống đạo bên ngoài.

- Coi nhẹ giới luật Chúa cũng như luật Giáo Hội mà đặt nặng những hình thức xã giao theo tập tục của con người đặt ra.

- Xét đoán theo hình thức bên ngoài mà không căn cứ vào ý hướng và tinh thần bên trong.

3 / Nhìn vào dân chúng:

" Người lại gọi dân chúng mà bảo ":

- Chúng ta noi theo chúng biết chạy đến với Chúa để nghe Người dạy bảo: trong giờ cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa.

Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn