Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXI Thường Niên C

Tin mừng Lc 13:22-30:  "Có người sau hết sẽ nên trước hết và người trước hết sẽ nên sau hết". Lời này không được áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, như thể ai được TC gọi trước, đều phải ngồi chỗ rốt hết trong nước trời hay phải ngồi ngoài cửa phòng tiệc.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN C
 
Tin mừng Lc 13: 22-30

 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


CỬA HẸP. BỎ CÁC NGƯỜI DO THÁI BẤT TRUNG VÀ KÊU GỌI LƯƠNG DÂN (Lc 13: 22-30)

1. So sánh với các phúc âm nhất lãm, đoản văn Lc hôm nay cũng có trong Mt, nhưng bị tách thành nhiều đoạn rời rạc, trong nhiều bối cảnh khác nhau. Cửa hẹp (Lc 13,24) song song với Mt 7,13-14. Cửa đóng (Lc 13,25) chấm dứt dụ ngôn về các trinh nữ khôn ngoan và khờ dại trong Mt 25,10-12. Câu trả lời của những người bị loại ra ngoài (Lc 13,26-27) tương ứng với Mt 7,22-23. Về bữa tiệc hội tụ các người được chọn từ bốn phương (Lc 13,28-29), Mt để ở cuối trình thuật chữa lành tên đày tớ của viên sĩ quan (Mt 8,11-12), là người ngoại giáo có lòng tin sâu xa mà dân Israel không có.

Từ đó ta thấy: đoản văn hôm nay thật hỗn hợp và gồm tóm nhiều mảnh vụn rời rạc. Tuy nhiên đây không chỉ là một gom góp đơn giản, nhưng là một toàn thể, một "nhóm" mà thực thể không thể không định nghĩa được bằng việc tổng hợp các phần tử của nó. Đây là một dụ ngôn mới, dụ ngôn cửa đóng, mà ý nghĩa tổng quát đồng nghĩa với các lời nói (logia) được gom góp lại. Ta có thể gọi việc gom góp này là chủ đề về các yêu sách cần hoàn tất để được cứu rỗi.

2. Thực vậy, dụ ngôn bắt đầu từ việc một thính giả hỏi về con số các người được chọn. Trước tiên Lc nhắc lại cuộc hành trình lên Giêrusalem. "Trên đường tiến lên Giêrusalem, CGS rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa đi vừa giảng dạy". Thỉnh thoảng ta lại thấy câu chỉ dẫn đó (9,51; 17,11; 19,18). Đây chính là cái mốc để Lc thu góp và tổng hợp cách giả tạo một loạt chỉ dẫn không có khung cảnh và văn mạch rõ rệt.

Có người đến hỏi: "Lạy thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?". Vấn nạn này cơ hội cụ thể để CGS giảng dạy (trực tiếp đối với câu 24, gián tiếp đối với các câu sau), vấn nạn cũng là nỗi thắc mắc thường xuyên của các người đồng thời với CGS. Phúc âm đã hơn một lần ghi lại các vấn nạn về ơn cứu rỗi và phương thế để được cứu độ: "Tôi phải làm gì để được sống đời đời?" (Mt 19,16 và song song), " Khi nào Nước TC đến" (Lc 17,20. Đây là học thuyết thịnh hành của các người biệt phái thời CGS: "Toàn dân Israel sẽ được dự phần trong thế giới mai hậu" (Sanh.10,1). Có người bi quan hơn: "thế giới mai hậu chỉ an ủi một số ít còn đa số phải đau khổ cùng cực" (1V Esdr.5,47). Các người Esséniens thuộc cộng đoàn Qumrân cho rằng chỉ các thành viên của họ mới được cứu rỗi. Ai có lý?. CGS không muốn giải quyết vấn nạn. Tại sao con người lại thắc mắc về số người được cứu rỗi? Phải chăng vì muốn được an tâm nhờ biết con số đó? Nếu toàn thể Israel được cứu rỗi, họ mới có thể sống bình thản. Nếu chỉ số ít được chọn, thôi thì cần gì cố gắng? CGS lợi dụng mối bận tâm này và lối sư phạm đặc biệt. Ngài nhân cách hóa vấn nạn, để có cái nhìn khách quan hơn. Các nhà thần học có thể lý luận suốt đời về con số người được chọn: còn CGS không muốn thế, Ngài mời gọi mọi người chất vấn, cũng như mời gọi tất cả chúng ta, sôi nổi phấn đấu để được đăng ký vào số người được cứu rỗi.

Thật hữu ích khi có thể nghiên cứu cách thức Đức Kitô đương đầu với các vấn nạn thính giả, cũng như chúng ta đặt ra. Hình như CGS rất ít trả lời câu người ta thường hỏi; Ngài thường trả lời "bên lề". Lối trả lời "bắt râu ông nọ cắm cằm bà kia" là lối CGS thường dùng, nhất là trong phúc âm thứ tư. Nhưng không phải Đức Kitô đổi câu trả lời cho bằng đổi câu hỏi và đưa chúng ta đến vấn nạn đích thực ẩn dấu dưới một câu trả hỏi nào đó đã được đặt ra. Đức Kitô phá vỡ chân lý mà chúng ta muốn giới hạn (số người được chọn...), muốn cầm chắc trong tay, muốn chiếm hữu như một đối tượng, bên ngoài con người chúng ta. Ngài biến vấn nạn của chúng ta thành sống động; và khi phân tích vấn nạn, Ngài bật mí cái ẩn dấu và đưa chúng ta về lại cuộc sống hiện sinh của chúng ta.

3. "Hãy cố gắng đi vào bằng cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tìm cách vào, nhưng không thể vào được". Như thế CGS khuyên bảo thính giả Ngài cố gắng phấn đấu để đi vào bằng cửa hẹp, là hình ảnh Ngài thường dùng cùng lúc với hình ảnh lỗ kim (Mt 19,24; Mc 10,25; Lc 18,25). Cách tổng quát Lc nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc làm, chúng ta sẽ bàn lại sau này. Dù sao, ở đây câu nói có nghĩa cánh chung, còn ở Mt câu nói có nghĩa luân lý nhiều hơn, do các yêu cầu hiện thực của đời Kitô hữu đòi hỏi. "Các ngươi hãy vào qua của hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy. Cửa và đường đưa đến sự sống thì hẹp và ít kẻ tìm thấy" (Mt 7,13-14). Phải cố gắng vào qua cửa hẹp đúng lúc, vì cửa sắp đóng. Giọng nói có vẻ đe dọa, tiên báo câu chủ nhà nghiêm khắc trả lời: "Ta không biết các ngươi từ đâu đến".

4. Khi người đồng minh không muốn tiếp xúc thân mật hay đòi hỏi nhiều yêu sách, người ta thường nại đến mối bang giao tốt đẹp đã có từ trước đến nay. Ở đây người đồng minh là TC. Những người đối thoại có TC, trong Đức Kitô, như là người đồng bàn, đòng tâm; họ là thính giả trực tiếp nghe Ngài giảng dạy. "Chúng tôi đã ăn uống với Ngài, và Ngài đã giảng dạy giữa quảng trường chúng tôi". Chúng tôi thuộc nhóm người ưu đãi, được Ngài tâm sự như bạn chí tình. Đó không phải là điều sai lỗi. Điều sai lỗi không phải là rước TC vào nhà mình, đã ân cần tiếp đón phục dịch Ngài, đã chuyên cần nghe Ngài giảng dạy. Điều sai lỗi ở chỗ là muốn biến sự kiện mình là người đồng thời với CGS trong tình trạng đắc thủ, thành quyền quyền đòi hỏi được thụ hưởng, thi ân. Nhưng vấn đề là phải qua cửa hẹp, được đăng ký trong số người được chọn, còn việc theo Đức Kitô trên vạn nẻo ưởng Palestine không quan trọng: chỉ có hành động mới đáng kể. Các mối liên hệ của tôi, kể cả mối liên hệ đối với TC, kể cả việc tôi chăm chú nghe Ngài giảng dạy, không thể mở cửa cho tôi vào. Nếu tôi sống bất công, tôi không thể thấy ứng nghiệm câu này: "ai nghe và thi hành lời TC thì có phúc hơn" (Lc 11,28).

Chỉ mới xét trên bình diện biên soạn của Lc, chúng ta đã thấy ông muốn nhấn mạnh đến việc thực hiện hóa (actualisation). Trong lúc ở Mt, CGS chỉ nói đến các người bị luận phạt ở ngôi thứ ba, ở Lc, CGS trực tiếp nói với họ: "Bấy giờ các ngươi mới nói rằng..."; ở Mt, những lời phản kháng là do các người có địa vị quan trọng trong cộng đoàn Kitô hữu nói: "chúng tôi đã nhân danh Ngài mà nói tiên tri...", ở Lc trái lại bài giáo huấn trực tiếp nhắm đến đám thính giả của Đức Kitô. Lối trình bày của Lc về sứ vụ CGS do đó sát lịch sử hơn và hiện thực hơn: như thế các lời đó đang nhắm đến chúng ta. Khi giảng, nên lưu ý điểm này.

5. Lời tuyên bố gạt bỏ được lặp lại hai lần. Lc còn tả thêm số phận của các kẻ bị gạt bỏ: họ sẽ bị các thực khách từ bốn phương đến thay thế. Nhưng trước tiên kẻ bị luận phạt mục kích tận mắt mối phúc thật của người công chính và chính việc chứng kiến cảnh tượng đó đã là hình phạt đối với họ. "Khi đến ngày thấy kẻ xưa kia họ coi thường được nâng lên và được vinh hiển..., họ sẽ vô cùng mất mặt; họ sẽ chứng kiến cảnh tượng đó trước, rồi mới chịu hành xử!" (Apocalypse syriaque de Baruch, bản dịch của P.Bogaert, Sources chrétiennes 144,1969,p.498).

Phúc âm không đưa ra cảnh tượng vinh quang của các người được chọn và nhục hình của kẻ bị luận phạt. Có lẽ đây là điểm giúp chúng ta thanh luyện quan niệm chúng ta về hỏa ngục và các huyền thoại của nó. Hình như Newman đã có trực giác khi viết: "chúng ta tưởng trời sẽ là nơi hạnh phúc cho chúng ta khi chúng ta được lên đó; nhưng nếu chúng ta biết xét đoán gì xảy ra ở địa cầu này - một người tàn bạo dù được đưa lên trời, cũng không biết y đang ở trên trời. Trái lại tối thiết nghĩ, chính sự kiện ở trên trời với gánh nặng tội lỗi của y, đối với y đã là một nhục hình và đã đốt lên trong y ngọn lửa thiêu đốt nóng bừng của hỏa ngục" (J.H.Newman, douze sermons sur le Christ, bản dịch P.Leyris, 1943; trang 184-185).

6. So sánh với Mt, bản văn Lc với hai chi tiết được thêm vào (c. 28: "Các tiên tri"; c.29: "từ bắc chí nam") khuếch đại lời mô tả các người được phép tham dự bữa tiệc Nước Trời. Rõ ràng ở đây Lc muốn xác định cộng đoàn các người được chọn. Một dư âm của sách Didachè: "Hãy hội nhập giáo hội của ngươi từ khắp năm châu bốn bể, vào trong nước Trời".

Nhưng điều chúng ta ghi nhận trên bình diện thể văn, lại là dấu chỉ việc khuếch đại các viễn ảnh đặc biệt hơn, trong Lc, phép đối ngẫu giữa người được chọn và các kẻ bị gạt bỏ không còn nói lên việc đối nghịch giữa số đông lương dân được nhận vào bữa tiệc cánh chung cùng các tổ phụ, với "các con cái nước trời", công dân nước Israel: đó là phép đối ngẫu Mt 8,11-12 khai triển. Theo Lc, người bị loại ra khỏi nước trời không phải là vì họ Do thái, con cái nước trời, nhưng vì họ là người bất lương, sống bất chính (Lc 13,27). Khi nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc làm, Lc đã không xét đến việc từ bỏ trên bình diện quốc tịch, quốc tính nhưng đã mở rộng cửa cho tất cả người Do thái hay lương dân biết phấn đấu để vào cửa hẹp. Mối bận tâm luân lý của Lc khi soạn thảo bản văn này là đáng đổ việc đối ngẫu chủng tộc đối nghịch Israel với lương dân "TC không tây vị ai, nhưng ở bất cứ dân tộc nào, hễ ai kính sợ Ngài và thực thi công bình đều được Ngài vui lòng chiếu cố" (Cvsđ 10,34-35).

7. "Có người sau hết sẽ nên trước hết và người trước hết sẽ nên sau hết". Lời này không được áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, như thể ai được TC gọi trước, đều phải ngồi chỗ rốt hết trong nước trời hay phải ngồi ngoài cửa phòng tiệc. Các tổ phụ và tiên tri đã đi ngược lại lối chú giải đó: được TC tuyển chọn trước, các Ngài sẽ được tưởng thưởng và ngồi ghế danh dự. CGS so sánh toàn thể dân Do thái, từ khi Ngài xuất hiện, với toàn thể lương dân. Khi đề cập đến 2 nhóm đó, Ngài công bố có nhiều lương dân sẽ được cứu rỗi trước người Do thái và ngay cả cộng đoàn toàn thể lương dân sẽ được vào Nước TC trước cộng đoàn Israel, như thánh Phaolô sau này sẽ nói (Rm 11,25-26). Qua các lời tiên tri đó (sách Cvsđ sẽ cho thấy các sự ứng nghiệm lời tiên tri đó trong giáo hội sơ khai: Cvsđ 13,46-48; 28,25-28), CGS nghiêm nghị tiên báo cho kẻ chất vấn Ngài: các ngươi tưởng mình chắc chắn sẽ được dự tiệc thiên quốc, vì mình là người Do thái; hãy đề phòng để khỏi nghe chủ nhà, sau này sẽ trở nên quan tòa xét xử các ngươi, nói với các ngươi rằng "Ta không biết các ngươi".

Với ý niệm "từ đông sang tây, từ bắc chí nam", Lc theo tư tưởng của Is khi nói đến hình ảnh các dân tuôn về Gierusalem để quan chiêm vinh quang của Giave, ngang hàng với con cái Israel được các dân ngoại dẫn về thành thánh. Đây là toàn bộ chủ đề của Isaia-đệ-nhị mà đoản văn hôm nay chỉ trích dẫn các câu cuối cùng.

KẾT LUẬN

Điều quan trọng, chính là niềm ao ước sống thao tiếng gọi và giáo huấn của CGS, là chấp nhận lời đề nghị TC gởi qua trung gian của Ngài. Nếu không dùng hành động mình để thể hiện điều sứ điệp Ngài công bố, thì việc làm môn đệ Ngài hay cùng chung dân tộc với Ngài chẳng ăn thua gì. Không phải ai nói: "Lạy Chúa, lạy Chúa" mà sẽ vào được nước trời, nhưng là người thực hiện ý Cha Ta trên trời (Mt 7,21).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. CGS không đến thỏa mãn tính tò mò của chúng ta. Ngài đến dạy cho chúng ta đường hạnh phúc, hạnh phúc trần thế nhất là hạnh phúc trên trời. Vì thế Ngài từ chối trả lời các câu hỏi phụ thuộc, ví dụ như hỏi về số người được chọn, ngày giờ thế mạt, địa vị mỗi người trên trời (x. lời van xin của Giacobe và Gioan trong Mc 10,35-45). Những câu hỏi như thế thật nguy hiểm cho chúng ta. Ví dụ về số người được chọn: nếu CGS cho biết rất nhiều người sẽ được cứu rỗi, chúng ta dễ bị cám dỗ sống buông xuôi vì hầu như chắc mình đã được cứu rỗi. Trái lại, nếu CGS cho biết rất ít người sẽ được cứu rỗi, chúng ta sẽ thất vọng và đâm ra chán nản không muốn sống tốt đời Kitô hữu. Vì thế, nếu từ chối trả lời là vì mưu ích cho chúng ta hơn. Vì không chắc chắn được cứu rỗi, nên chúng ta sẽ cố gắng xử dụng tốt tự do chúng ta và cố gắng làm mọi sự hết sức mình để một ngày kia có thể qua cửa hẹp mà vào Nước Trời.

2. Thời CGS, người ta tưởng rằng chỉ cần làm người Do thái là đủ để được cứu rỗi. Một số tiến sị luật còn dạy: "Mọi người Do thái sẽ được cứu thoát". CGS loại bỏ quan niệm đó: không phải mọi người Do thái đều được cứu rỗi, cũng không phải mọi thính giả CGS, mọi người đồng thời với CGS được biệt đãi xem thấy sờ chạm đến Ngôi lời TC, ăn uống với Ngài nghe Ngài giảng dạy, sẽ được cứu rỗi. Không có dân tộc, quốc tịch hay tôn giáo nào tự quyền hưởng ơn cứu rỗi. Việc duy nhất quyết định số phận đời của một cá nhân là lòng trung thành thực hiện giáo huấn của Đức Kitô (giáo huấn mà họ biết được cách rõ ràng và hoàn toàn do giáo hội dạy hay biết cách mù mờ và phiến diện nhờ tôn giáo hay lương tâm của họ). Điều này cũng áp dụng cho chúng ta là người Kitô hữu: nếu chúng ta đã được rửa tội, đã từng nghe phúc âm trong phụng vụ, đã từng ăn Mình Đức Kitô chúng ta thánh lễ - tất cả điều đó không đủ sức cứu rỗi chúng ta, nếu chúng ta không vâng lời Ngài, không thực hiện thánh ý TC mà Ngài đã loan báo, nếu chúng ta không dứt khoát quyết định chọn lựa và sống theo Ngài.

3. CGS so sánh Nước Trời với bữa tiệc sang trọng trong đó hội tụ tất cả mọi người thiện chí từ bốn phương trời. Lúc đó sẽ là ngày hội lớn, ngày vui mừng vì được suốt đời sống với Chúa Cha, Đấng đáng yêu đáng mến nhất, sống với CGS và Thánh Thần, với Mẹ Maria và các thánh. Chúng ta hãy làm mọi sự hết sức mình để khỏi bị loại ra ngoài bữa tiệc, đứng trước cánh cửa đã đóng kín. Nếu trung thành sống thật tốt đời Kitô hữu, cánh cửa nhỏ hẹp của Nước Trời sẽ rộng mở đón nhận chúng ta vào chung hưởng sự vui mừng của Chúa Cha.


 
Noel Quession - Chú Giải


Trang Tin Mừng của Luca mà chúng ta đọc hôm nay là một bức tranh ghép gồm những bản văn:

Câu 24, khung cửa hẹp (Mt 7,13) trong bài giảng trên núi...

Câu 25, "thưa ngài, mơ cửa cho chúng tôi với " (Mt 25,11) là kết luận của dụ ngôn mười cô trinh nữ khôn ngoan và rồ dại..

Câu 26, "Ta không hề biết các ngươi " (Mt 7,22) là một giáo huấn về sụ cầu nguyện….

Câu 28, "từ phương đông sang phương tây, nhiều nguời sẽ đến dự tiệc" là kết luận của việc chữa lành người đầy tớ của ông đại đội trưởng dân ngoại (Mt 8,11).

Câu 30, "những người sau rốt trở thành những người đầu tiên"'(Mt 19,30 và 20,16).

Vậy Luca liên kết những lời mà Đức Giêsu đã nói trong những trường hợp khác nhau. Tuy nhiên chúng ta có một bản văn mang tính nhất quán cao: Khi trả lời câu hỏi về con số người được chọn. Đức Giêsu khẳng định hai chân lý có vẻ trái ngược nhau. Cánh cửa Thiên đàng thì hẹp, nhưng những dân ngoại sẽ đến đông đủ, tiến vào bàn tiệc của Đấng Mêsia, còn những người đầu tiên được mời ở lại bên ngoài.

Trang sách này của Luca mà chúng ta đọc hôm nay là kết quả của sự cầu nguyện, của việc dạy giáo lý thờ phụng của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Trong một chừng mực, chúng ta thấy xuất hiện một dụ ngôn mới gồm toàn những câu của Đức Giêsu, mặc dù không trực tiếp là dụ ngôn của Người Thay vì ngạc nhiên về sự khám phá này, tại sao chúng ta lại không vui mừng. Đức Giêsu đã không "biết" gì cả, cũng không làm "xơ cứng" điều gì. Hiển nhiên, đây là một điều có chú ý. Người đã thật sự trao Lời cho Giáo Hội Ngay để Giáo Hội nói Lời ấy và thích nghi Lời với các nhu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử. Vì danh nghĩa gấp đôi ấy, lòng Tin Mừng của Luca là của Đức Giêsu: Do miệng Chúa nói ra trong những lúc khác nhau... đồng thời cũng là công việc của Đức Giêsu sống động trong Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người... "Ai nghe anh em là nghe Thầy". Một cách đọc Tin Mừng có khoa học thay vì mâu thuẫn với một cách đọc ngây thơ hơn và làm cho chúng ta hoài nghi tính chính thống hẳn phải đến chúng ta đến chỗ chấp nhận thái độ của Luca: Trung tín với suối nguồn...tự do trong Thần Khí... để việc giải thích Lời Chúa luôn luôn sống động và có thể soi sáng những vấn đề của chúng ta hôm nay.

Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy.

Luca trở lại việc Đức Giêsu đang trên đường lên Thành thánh ở đó chúng ta biết điều gì sắp xảy ra. Đức Giêsu "du hành". Người không xơ cứng. Người bước đi! Luca, bạn thông hành của Phao lô, nhà "du hành cao cả" đã dùng từ đó tám mươi tám lần. Đời sống Kitô hữu cũng là một cuộc lữ hành, tiến lên phía trước. Phần tôi, tôi có xơ cứng, dừng lại bất 'động không? Lịch sử với sự tiến hóa của nó là một phần của kế hoạch Thiên Chúa. "Thời gian" là tạo vật của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã hội nhập trong thời gian. Người không làm thời gian ngừng lại. "Thầy ở với các con mỗi ngày cho đến tận thế".

Có kẻ hỏi Người: "Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít có phải không?".

Một câu hỏi nóng bỏng, luôn luôn hiện thực. Một câu hòi rất nhân bản, căng phồng máu của những quan hệ tình cảm của chúng ta: Làm sao tôi có thể hưởng hạnh phúc trên trời nếu những Người thân không có ở đó? Một câu hỏi rất tự nhiên: "Bạn chớ đến dự tiệc Nước Trời một mình; trên những nẻo đường bạn đi, bạn hãy cao rao Tin Mừng: Lời Chúa hứa là bánh được ban cho để chia sẻ... " Bất kỳ người nào không ước ao "tất cả" đều được cứu, chính người ấy không thể được cứu , bởi lẽ người ấy không hoàn thành luật củ a Nước Thiên Chúa là tình yêu phố quát…"Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ" ( 1 Timôthê 2,4).

Người bảo họ: "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: Có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được".

Một lần nữa, Đức Giêsu không trả lời trực tiếp. Người không nói những người được cứu sẽ nhiều hay ít. Người làm như thể câu hỏi lý thuyết ấy không làm Người quan tâm và ngay sau đó, Người đưa các thính giả trở về với tránh nhiệm của họ. "Thay vì tranh luận một cách trí thức, bạn hãy làm gì cụ thể để "bước vào" sự sống đời đời...vấn đề là phải vào được!" Sự tò mò về con số người được cứu thoát bộc lộ sự tìm kiếm điều an toàn là điều có thể thiếu lành mạnh: Nếu mọi người đều lên trời, cần gì phải lo lắng? Nếu rất ít người được lên trời, tại sao lại phải tốn bao công sức mà chắc gì đã được? Vì thế, Đức Giêsu đã không xác định con số nhưng trả mỗi Người về với quyết định mà mỗi người phải có đồng thời khẳng định rằng như thế mới là nghiêm túc. Đức Giêsu không muốn "trấn an", Người muốn người ta sống có trách nhiệm. Từ đây, Người dùng một hình ảnh quen thuộc trong toàn bộ Kinh thánh: Nước Chúa như một phòng tiệc. Nhưng Người thêm: người ta xô đẩy nhau trước cửa vì cửa phòng "hẹp". Từ Hy Lạp mà chúng ta dịch là chiến đấu là một động từ mạnh bạo "agonizesté" nghĩa đen là "đánh nhau để được vào". Từ "agonie" (hấp hối) trong tiếng Pháp có ngữ căn lấy từ động từ Hy Lạp: Cuộc chiến đấu cuối cùng của sự sống. Để đem lại ơn cứu độ cho mọi người, Đức Giêsu là người đầu tiên đã chiến đấu, ở vườn Ghet-sê-ma-ni và đồi Gôn-gô-tha.

Người không cho chúng ta lời khuyên nào mà trước hết chính Người đã không sống nó. Trong một đoạn văn khác, Người đã nói rằng "Chỉ những ai mạnh sức mới chiếm được Nước Trời" (Mt 11,12; Lc 16,16).

Để chiếm được Nước Trời, cuộc chiến đấu của tôi là gì? Tôi phải chiến đấu ở điểm chính xác nào, trong hoàn cảnh của tôi, với tính khí của riêng tôi, khi vượt qua những điều kiện giới hạn là những bó buộc đang đè nặng trên cuộc đời tôi?

Thánh Phaolô cũng dùng từ "ngôn" "cuộc chiến đấu" để nói đời sống Kitô hữu là gì.. "Tôi tìm thấy niềm vui trong những đau khổ mà tôi phải chịu, để loan báo Đức Kitô: Đó là công việc và cuộc chiến đấu của tôi" (Côlôxê 1,29; 1 Côrintô 9,25; Côlôxê 4,12; 1 Timôthê 4,lo). "Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết công đường, đã giữ vững niềm tin". (2 Timôthê 4,7). Làm thế nào chúng ta lại có ảo tưởng "vào" nước trời mà không phải nỗ lực? Đời sống Kitô hữu không phải là một cái ghế bành. Dĩ nhiên đó là một ơn không mất tiền, ban cho cả những người tội lỗi. Còn phải chấp nhận ơn đó... mà không hoàn toàn khép kín lại trên ơn đó.

"Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: "Thưa Ngài, xin mở cho chúng tôi vào!", thì ông sẽ bảo anh em: "Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến?"

Dụ ngôn mạnh mẽ tiếp tục: Cánh cửa vốn đã hẹp giờ đây đóng kín. Lời mời gọi bước vào trở nên cấp bách: Thời gian gấp lắm, ngày mai sẽ quá trễ... Ngay hôm nay phải "bước vào trong Nước Trời". Vâng, đối với tôi, thêm một ngày cũng là quá trễ. Tôi còn lại bao nhiêu thời gian? Chúng ta phải sống mỗi ngày như thể đó là ngày sau rốt.

Bấy giờ anh em mới nói: "Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi". Nhưng ông sẽ đáp anh em: "Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hởi tất cả những quân làm điều bất chính!"

Dân ít-ra-en, ý thức về giá trị của Giao ước khó mà chấp nhận những người dân ngoại bước vào trong Nước Thiên Chúa. Giáo trưởng Méir viết: "Để trở nên một con cái của đời sau, phải cư ngụ trên đất nước ít-ra-en, nói tiếng Do Thái là ngôn ngữ thánh và sáng chiều đọc kinh Shema ít-ra-en...". Trái lại, đối với Đức Giêsu, những đặc quyền về chủng tộc này không đáng kể. Lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Kitô trước tiên áp dụng cho những người đã từng được ăn uống trước mặt Người, và những người đã từng nghe Người "giảng dạy" giờ đây áp dụng cho chính chúng ta, những người chia sẻ bàn tiệc thánh thể. Một giờ ngắn ngủi sống với Đức Giêsu ngày Chúa nhật không thể bù đắp tất cả những giờ khác trong tuần mà chúng ta dùng làm điều ác xa cách Người.

"Ở đó anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông áp-ra-ham, I-xa-ác và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.

Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót".

Cách nói này có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng những người có thiện chí, thật sự tìm cách vào Nước Trời bị loại trừ một cách độc đoán bởi quyết định độc tài của một ông chủ không có lòng thương xót. Hẳn đó là một bức ảnh biếm họa về Thiên Chúa. Thiên Chúa không tàn nhẫn và bất công. Thật vậy, ai không vào được bữa tiệc chỉ có thể trách cứ chính mình. Quả thật, ngay cả dân ngoại, bởi một thái độ quay ngược lại (kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu!) sẽ đến từ mọi phương trời. Thiên Chúa đã làm tất cả để cánh cửa nổi tiếng là "hẹp" ấy, thật ra đó là sự nghiêm trọng của vĩnh cửu, trở thành một cánh cửa mở rộng cho mọi người không phân biệt.

Số phận bi thảm của ít-ra-en, được mời gọi đầu tiên, đã bị các dân tộc khắp nơi vượt qua phải thức tỉnh sự mê ngủ của chúng ta. Người ta không thể vào Nước Trời như thế, nghĩa là không nhận thức điều vừa nói. Phải ao ước có Phải chiến đấu vì nó. Phải chọn Đức Giêsu. Thuộc về một nhóm người, một chủng tộc, một gia đình, hoặc thực hành một vài nghi thức không thể đem lại cho chúng ta một sự an toàn nào, có chăng chỉ là ảo tưởng... Điều chủ yếu là sự dấn thân bằng tất cả con người chúng ta trong mọi lúc, theo Đức Giêsu. Và nhất là, chúng ta chớ phán xét những người khác. Chúng ta biết được hai điều: 1% về phía Thiên Chúa, tất cả đã sẵn sàng để cứu chuộc mọi người... 2% về phía con người, chỉ cần có sự nghiêm túc của tự do, tự do này có thể từ chối ơn Thiên Chúa ban cho và tự do này là một cuộc chiến đấu... ở trần gian này, chúng ta không bao giờ biết được có phải tự do ấy no anh em chúng ta đã nói tiếng nói sau cùng. Sự gặp gỡ sau cùng với Thiên Chúa vào lúc chết phải là hồi chung cuộc. Mọi người đều đã hiểu rằng tiền đặt cuộc siêu nhiên ấy chỉ có thể trở thành "cứu độ" với Thiên Chúa: Chớ đến dự tiệc Nước Tròi một mình. Trên những nẻo đường bạn hãy loan báo Tin Mừng: Lời Chúa hứa là bánh được ban cho để chia sẻ: Thiên Chúa thúc giục các bạn bước vào nơi ở duy nhất và quy tụ các bạn trong tình yêu. Lạy Đức Giêsu, niềm hy vọng của con người, xin làm cho chúng con trỏ thành những chứng nhân ơn cứu chuộc của Ngài.


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
 
"Người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong nước Chúa". (Lc 13,22-30)

I.Ý CHÍNH:

Thánh sử Luca ghi lại những lời gào huấn của Chúa Giê-su về những đòi hỏi cần phải hoàn tất để được vào Nước-Trời, đồng thời ở đây Luca cũng nhấn mạnh đến thái độ của người Do Thái không tin vào Chúa Giê-su.

II. SUY NIỆM:

1.     "Chúa Giêsu rao giảng qua các đô thị và làng mạc…":

Gần đến lễ cung hiến nhà thờ, Chúa Giêsu trên đường đi về Giêrusalem đã rao giảng qua các đô thị và làng mạc ghiảng dạy cho dân chúng. Ở nhyững nơi Chúa Giêsu giảng dạy nhiều hơn là làm phép lạ. Các đề tài được đưa ra rao giảng là: Sự sám hối, Và cầu nguyện, sự từ bỏ, việc dân Do Thái từ chối ơn Chúa.

2. "Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít người sẽ được ơn cứu độ?":

Người do thái có quan niệm ngoài dân tộc nòi giống họ ra, ít người được Thiên Chúa cứu độ. Vì thế câu hỏi của người này lộ vẻ tọc mạch và chứa một ý tưởng kêu căng tự phụ. Vấn nạn này cũng là nỗi thắc mắc thường xuyên của các người đồng thời với Chúa Giêsu (Mt 19,16; Lc 17,20)

3. "Các ngươi hãy cố găng vào qua cửa hẹp":

Chúa Giêsu đã dựa vào câu hỏi này như một câu hỏi này để giảng dạy về điều kiện vào nước trời. Ở đây Chúa Giêsu không muốn trả lời thẳng vào vấn đề, vì Người không muốn xác định rõ rệt kết quả cuộc thẩm phán sau cùng, cũng như Người không muốn xác định rõ rệt về thời gian của cuộc thẩm phán đó (Lc 12,40). Đàng khác, Chúa muốn tôn trọng sự tự do lựa chọn của con người, không muốn con người hiểu lầm rồi buông trôi. Nếu biết trước chỉ có một số ít người được chọn, thì cần cố gắng nữa! Nếu biết toàn thể dân do thái được cứu rỗi, thì họ cứ thế sống bình thản, không phải lo lắng gì, nến cũng không cần cố gắng làm chi nữa.

Nên thay vì trả lời, Chúa Giêsu đã mời gọi người chất vất cũng như mọi người phải nỗ lực, phấn đấu để được đăng ký vào số những người được cứu rỗi. Chúa Giêsu dùng kiểu nói "cửa hẹp". Một hình ảnh Người thường dùng cùng lúc với hình ảnh "lỗ kim". (Mt 19,24; Mc 10,25; Lc 18,25) để khuyên bảo thính giả phải cố g81Người phấn đấu để được vào nước trời. (Mt 7,13-14).

"Những người sẽ tìm vào mà không vào được": Ở đây muốn nói vào Nước Trời thì phải qua cửa hẹp, vì vậy có những người đi qua bằng cửa khác rộng thênh thang (Mt 7,13-14) muốn vào Nước Trời mà không vào được.

4. "Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại!":

"Cửa đóng lại" là biểu tượng của giới cánh chung và giờ quyết chết của mỗi người. Ở đây muốn nói những người không theo giáo huấn của Chúa mà sống, đàng khác lại còn sống trái ngược, đến lúc ý thức đợc, tức là giờ chết sẽ đến trình diện cới Chúa trước tòa phán xét thì đã muộn rồi, vì cửa đã đóng lại. Vì thế phải đứng ngoài gõ cửa và nài nỉ rằng: "Thưa Ngài, xin mở cửa cho chúng tôi!":

5. "Tôi không biết các ngươi từ đâu tới":

đây là kiểu nói Hy Bá, tương đương với tiếng việt: Ta không biết các ngươi là ai. Vị thẩm phán không nhận ra người do thái xấu xa là gia nhân của mình: Để được hội nhập vào dân Chúa, yếu tố Abraham không đủ (Lc 3,8; Ga 8,33-41), nhưng còn phải đón nhận Chúa Giêsu nữa. Ở đây muốn nói những kẽ không đi qua cửa hẹp, để sống đời công chính thì khi đến trước tòa phán xét của Chúa, sẽ bị loại ra khỏi Nước Trời.

6. "Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Người…":

Có ý nói đến những người do thái sống đồng thời với Chúa Giêsu, đã được mắt thấy tai mghe những việc Chúa làm, những lời Chúa nói. Họ nài vào sự liên hệ đó những điều kiện để đòi hỏi Chúa cho vào Nước Trời.

7."Ta không biết các ngươi từ đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác hãy lui ra khỏi…":

Lời tuyên bố được lập lại hai lần, nói lên sự dứt khoát không thể chấp nhận kẻ gian ác vào Nước Trời được.

+ Gian ác ở đây có nghĩa là cố chấp không chịu tin nhận Chúa Giêsu và nghe theo lời Người để sám hối.

+ "Hãy lui ra khỏi mặt ta": Hình phạt đau khổ nhất là không được nhìn thấy Thiên Chúa. Kiểu nói trên đây có ý diễn tả hình khổ hỏa ngục.

8."Khi các ngươi sẽ thấy Abaham, Isaac, Giacóp và tất cả các tiên tri…":

Những ai đi qua cửa hẹp thực hiện sự công chính thì sẽ được về với Abaham, Isaac, Giacóp và các tiên tri tức là sẽ được cứu rỗi. Hình ảnh này ta thấyở Luca 16,22: Lagiarô khi chét đước vềvới Abaham. Nhưng ngược lại, những người qua cửa rộng thênh thang, tức là những người Do Thái cố chấp không chịu đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu, thì sẽ loại ra ngoài, nơi đó họ sẽ khóc lóc và nghiến răng tức là chịu hình khổ đời đời.

9."Và người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa":

Bữa tiệc là hình ảnh của Nước Trời (Is 25,6; Lc 14,15; 16-24; 22,16; 18-30) trong đó các người được chọn tụ họp quanh các tổ phụ và các tiên tri (Lc 16,22). Những kẻ không đáp trả lồi Chúa Giêsu mời gọi, sẽ bị loại khỏi Nước Trời. Ở đây muốn nói đến tính cách phổ quát của ơn cứu độ. Mọi người tiêp tục được mời gọi vào dự tệc Nước Trời. Những người này ở khắp mọi nơi không kể không gian và thời gian, không phân biệt dòng tộc và màu da… (Cv 7,4-8). Ở đây Chúa Giêsu muốn sửa lại quan niệm sai lầm của người Do Thái cho rằng chỉ có người Do Thái mới được ơn cứu độ.

10."Phải, có những ngày sau hết mới sẽ trở nên trước hết…":

Ở đây không có ý áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, nhưng Chúa có ý so sánh toàn thể dân Do Thái, từ khi Chúa xuất hiện, với toàn thể lương dân. Khi đề ập đến hai nhóm đó, Chúa Giêsu công bố có nhiều người lương sẽ được cứu rỗi trước trước người Do Thái, và ngay cả cộng đoàn toàn thể lương dân sẽ được vào Nước Trời trước cộng đoàn Do Thái. Giáo huấn này được thánh Phalô nhắc lại trong thư gởi tính hữu Rôma (Rm 11,25-26). Giáo huấn này được ứng nghiệm trong Giáo Hội sơ khai (Cv 13,46-48; 28,25-28).

III. ÁP DỤNG:

1.     A. Ap dụng theo Tin Mừng:

Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta con đường ào Nước Trời là cửa hẹp, tức là phải nỗ lực cố gắng trong vệc thực thi những giáo huấn của Chúa Giêsu trong đời sống đạo hằng ngày.

1.     B. Ap dụng thực hành:

2.     Nhìn vào Chúa Giêsu:

3.     Xem việc Người làm:

+ Chúa Giêsu vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem, Chúa nêu gương cho ta bài học phải biết lợi dụng mọi hoàn cảnh để rao giảng Tin Mừng.

+ Chúa Giêsu không trực tiếp trả lời thẳng về số người được ơn cứu độ như lòng mong muốn của người đến cật vấn Chúa.. Người làm như vậy không phải vì Người tránh né vấn đề nhưng Người muốn giáo dục hơn kà xét đoán. Chúa nêu gương cho chúng ta về vai trò người tông đồ phải nặng về giáo dục hướng dẫn hơn xét đoán kẻ khác.

1.     Nghe lời Chúa nói:

+ "Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp": Chúa đòi hỏi ta muốn bảo đảm phần rỗi, thì phải cố gắng thực hành giáo huấn của Chúa hơn là nghe xong rồi để đó. vì không phải những ai nói: Lạy Chúa, Lạy Chúa mà sẽ vào được Nước-Trời nhưng là những người thực hiện ý Cha trên trời (Mt 7,23-24).

+ "Ta không biết các ngươi từ đâu tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác": hôm nay Chúa dùng lời này để cảnh giác chúng ta vì không phải mang danh nghĩa kitô hữu mà được xếp vào hàng gia nhân quen thuộc của Chúa, nhưng khi chúng ta nghe và thực hành lời Chúa, chúng ta mới được gọi là anh chị em …tức là thuộc hàng gia nhân của Chúa.

2/ Nhìn vào người đến đặt vấn nạn với Chúa:

Người này đến hỏi Chúa về số người được ơn cứu độ, Chúa không trả lời, điều này cũng giúp chúng ta kinh nghiệm: Chúa Giê-su không đến để thoả tính tò mò của chúng ta đâu.

 

HTMV Khoá 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn