Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXII Thường Niên C

Tin Mừng Lc 14: 1.7-14: Qua bài Tin-Mừng này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta là những người làm môn đệ Chúa phải đặt Chúa ưu tiên trên hết mọi sự , trên cả những tình cảm liên hệ gia đình cũng như lòng quyến luyến với của cải vật chất.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN C

NGÀY 01/09/2019



Hc 3,19-21.30-31 ; Dt 12,18-19.22-24a ; Lc 14,1.7-14


 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

VỀ VIỆC CHỌN CHỖ NGỒI (Lc 14,1.7-14)

1. Câu khai mào (14,1) nói lên không gian và thời gian câu chuyện, dù rất mơ hồ. CGS là khách được một người biệt phái mời. Chủ đề CGS được mời là nét tiêu biểu, đặc thù của Lc. Ta thường gặp các cảnh tả về bữa ăn, thường đi liền với các cuộc đối thoại đang khi ăn uống, trong phúc âm Lc (7,36tt; 10,38tt; 11,37tt; 14,1tt; 19,1tt; 22,7-38). Vả lại chủ đề yến tiệc là một thể văn Hy lạp, nên các độc giả Lc rất quen. CGS vào nhà "một thủ lãnh biệt phái". Điều này giả thiết CGS đã được mời, dù không thấy đề cập đến trình thuật. Người biệt phái được gọi là "thủ lãnh" vì ông có nhiệm vụ điều khiển trong nhóm biệt phái. Thực vậy nhóm biệt phái có nhiều vị chỉ huy lãnh đạo (x.Flavius Josèshe, Ant. XV, 10,4). Theo Lc, CGS thường được mời đến nhà các người biệt phái (7,36; 11,37; 14,1). Ông cũng ghi lại việc người biệt phái lưu ý CGS đề phòng các âm mưu của Herôđê (13,31-33). Vì thế có nhiều điểm cho thấy thái độ CGS đối với nhóm biệt phái không nhất thiết là tiêu cực. CGS cũng sẵn sàng ban ơn cứu độ cho họ.

2. Bữa tiệc có kèm một diễn từ dạy khôn ngoan. CGS ngỏ lời với các người được mời dự tiệc bằng một "dụ ngôn", một bài học rút từ kinh nghiệm sống. Chữ "dụ ngôn" (parabolê, theo bản 70 cùng nghĩa với chữ Hy bá: mashal) chỉ một giáo huấn gián tiếp: so sánh diễn từ dạy khôn ngoan và châm ngôn (sách châm ngôn, mang tựa đề bằng tiếng Hy bá là "mashal de salomon" misheley Shêlômô). CGS nói như sư phụ dạy khôn ngoan.

Khách khứa đến và ngồi vào bàn. Khi ăn đại tiệc, người ta nằm dài dựa trên gối. CGS quan sát khách đến. Họ tìm cách chiếm chỗ nhất. Đó là những người ngồi gần chủ nhà nhất. Gối được xếp hàng ba. Chỗ danh dự thì ở hàng đầu hay ở gối giữa. Thì impafait của động từ (ils choisissaent: họ đang chọn) nói lên toan tính và qua đó diễn tả một ước muốn mãnh liệt và tham lam, tranh đoạt chỗ nhất. Thời CGS, thứ tự chỗ ngồi được xác định căn cứ vào thanh danh của thực khách, mà thanh danh lại tùy thuộc vào chức phận và sự giàu có. Người biệt phái ưa tìm danh lợi: các chỗ nhất trong hội đường (Lc 11,43; 20,46; Mc 12,38) và trong các yến tiệc (Lc 20,46; Mt 23,6; Mc 12,38), thích được chào ở các quảng trường (Lc 12,46 và song song). Họ xác tín là họ có quyền được danh dự: vì danh dự đòi phải phát xuất từ lề luật mà họ là những nhà đại biểu.

CGS ngỏ lời với các người được mời. Ngài trình bày cách khôn khéo không đụng chạm ai, không làm tổn thương hay mất lòng ai, theo kiểu dạy đời, giải thích nghi vấn, theo lối văn chương khôn ngoan: "Khi có ai mời ngươi...". CGS nói lên một qui luật khôn ngoan. Đi dự tiệc mà chiếm chỗ nhất là không khôn ngoan chút nào, nhỡ có người đến sau trọng vọng hơn thì sao ! Các nhân vật quan trọng thường đến vào phút chót ! Chủ nhà và người xếp chỗ phải dành chỗ nhất cho nhân vật quan trọng đó. Còn người đã chiếm chỗ nhất cho nhân vật quan trọng đó. Còn người đã chiếm chỗ nhất đó bây giờ phải xuống chỗ rốt hết, vì các chỗ kia đã đầy người rồi. Thật là mất mặt ! Vì vậy phải khôn ngoan mà ngồi chỗ chót trước; bấy giờ ngươi mới được hân hạnh trước mắt mọi người biết mấy, nếu chủ nhà chỉ cho ngươi chỗ cao hơn.

Điều CGS nói đây là một qui luât thường tình, một châm ngôn đã có lâu trong nhân gian. Sách châm ngôn viết: "Trước mặt vua, ngươi chớ làm bộ bệ vệ, đừng ngồi vào chỗ các quan lớn; được người ta mời: "Hãy lên đây" tốt hơn là bị hạ xuống trước mặt bá quan" (Cn 25,6-7; Si 7,4; 13,9-100. Các luật sĩ đã chấp nhận luật ngồi bàn đó bằng những lời: "Hãy ngồi tụt xuống hai hay ba cấp dưới chỗ ngươi đáng ngồi, để người ta mời: "hạy ngồi lên" hơn là "đi xuống dưới ngồi" (Lv.r.1,5). Luật Rabbi này, do thày rabbi Shimon ben azzai (khoảng năm 110 sau J.C) chấm dứt bằng một câu tương tự với câu 11: "Và Hillel (năm 20 trước J.C) nói thế này: Khi tôi hạ mình xuống là lúc tôi được nâng lên, lúc tôi tự nâng mình lên là lúc bị hạ xuống".

Dụ ngôn về việc chọn chỗ ngồi được chú giải bằng một câu được ghi trong truyền thống các phúc âm khi thì ở chỗ này, lúc ở chỗ khác, nên được xem là một "logion lang thang" (Mt 23,12; Lc 18,14), nhưng ở đây câu này cũng rất xác đáng. Đây là một câu có hai vế phát xuất từ môi trường Do thái, ta biết điều đó là nhờ việc tên TC được thay thế bằng thể passif divin ("sẽ bị hạ xuống", "sẽ được nâng lên"). Câu đó phát xuất từ kinh nghiệm về các hoạt động của TC đối với dân Ngài: "Cái gì thấp sẽ được nâng lên, cái gì cao sẽ bị hạ xuống" (Ez 21,13; x. Lc 1,52, Tv 147,6). Câu đó hứa đảo lộn địa vị, và lượng giá hoàn toàn khác với cách lượng giá của loài người. Trong phúc âm nhất lãm, vì câu này luôn luôn xuất hiện trong các cuộc tranh luận với người biệt phái, nên hình như CGS đã dùng câu đó như là lời đe dọa nhóm biệt phái.

Trong dụ ngôn này, câu đó đưa luật xử thế khôn ngoan mà CGS vừa dạy, lên ngang bình diện lời CGS rao giảng về nước TC. Lời tiên tri loan báo việc hạ xuống và nâng lên sẽ được thực hiện khi Nước TC đến. Cũng như câu thứ hai về bữa ăn (cc. 12-14) chấm dứt bằng một lời hứa cánh chung thì câu thứ nhất cũng muốn qui hướng chúng ta về hoạt động cánh chung của TC.

Luật chọn chỗ ngồi trong bàn ăn dùng để nói lên một điều kiện gia nhập Nước TC. CGS cũng đã quả quyết phải trở nên bé nhỏ, khi Ngài đòi buộc những ai muốn vào Nước TC phải hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ (Mt 18,4). Việc hoán cải đích thực, có khả năng mở nước TC, chỉ có thể có được khi con người tự nhận là hèn kém, bé bỏng trước mặt TC (Lc 17,10; 18,10-14). Thái độ đối nghịch với lòng hoán cải là tự cho mình là người công chính và trổi vượt hơn kẻ khác. Do đó CGS đã dùng một ngạn ngữ có từ thời xưa, được người đồng hương biết, để rao giảng về nước TC.

3. Người mời các thực khách cũng được nhắc đến. Nhưng lời nói của ông ta không còn được gọi là "dụ ngôn" nữa. CGS đề xuất một chân lý dưới dạng thức mệnh lệnh (sous forme d'impératif), nói lên một chỉ dẫn và khuyến cáo về một hoàn cảnh cụ thể. Lời chỉ dẫn cho chủ nhà có tính cách bắt buộc. Còn lời khuyến cáo thì tế nhị hơn. CGS nói cách tổng quát, không nói đến bữa ăn trước mắt, nhưng là một bữa ăn trưa hay bữa ăn tối nào đó không rõ. Quả thực, chủ nhà không chỉ mời bạn hữu, bà con và các người giàu có mà cả CGS, và có lẽ cả các môn đệ Ngài nữa; CGS lại phán dạy như thày dạy khôn ngoan.

Bữa ăn là biểu thức của một tình yêu hào phóng. Chủ nhà không chỉ mời các thân bằng quyến thuộc như bạn bè, bà con, đồng nghiệp. Những người này sẽ có thể mời và sẵn lòng mời lại ông. Tuyệt đối không nên mời và đừng bao mời để được mời lại, cho để được cho lại. Phải cho mà không hy vọng nhận lại (Lc 6,35). Bữa ăn phải biểu hiểu một tình yêu vô vị lợi chứ không phải một tình yêu đòi đáp trả.

Vế tích cực theo liền vế tiêu cực của phép song ngẫu. Phải mời kẻ ta không hy vọng được họ mời lại. Các người được mời do đó sẽ là "người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù"; có lẽ các người bệnh tật, què quặt, đui mù là hình ảnh đặc thù của giới nghèo: thực sự họ là những người nghèo khổ. Đó là ba hạng người bị các người "đạo đức" Israel khinh chê. Họ không được tham dự các nghi lễ trong đền thờ (2S 5,8 bản 70; x. Lv 21,18). Luật cấm tế tự này vẫn còn hiệu lực trong cộng đoàn Qumrân.

CGS đã lưu tâm và đặc biệt yêu thương chính những người nghèo hơn hết các người nghèo đó. Họ không thể đáp trả ân huệ đã nhận. Chính TC sẽ đích thân can thiệp họ, khi bắt đầu trât tự mới. Ở đây cũng thế, thể văn thụ động (passif) thay thế tên TC. Ai làm ơn cho những người nghèo không thể đáp trả đó, được gọi là người có phúc, vì TC sẽ trả công cho họ.

Lời khuyến cáo chấm dứt bằng câu nhắc đến các biến cố thế mạt. Trong dụ ngôn các người được mời, việc nâng lên được hứa ban cho những người công chính; ở đây họ được hứa sẽ được sống lại. Trên kia đường phải đi là sự hạ mình xuống, ở đây thì phải tỏ ra bất vụ lợi. Lời hứa chỉ nhắm đến việc "phục sinh các người công chính". Chính Lc thấy trước mọi người sẽ sống lại: "Các người công chính cũng như các người tội lỗi sẽ sống lại (Cvsđ 24,15). Ông quả quyết "người chết sẽ sống lại" (Lc 20,35). Do đó đừng hiểu kiểu nói: "các người công chính sẽ sống lại" trong nghĩa độc hữu (sens exclusif). Có thể đây là một kiểu nói cựu truyền, liên hệ với niềm hy vọng vào sự phục sinh của các người công chính (Tv Sal.3,11; Hénoch 91,10 Test.XII Benj. 10 et passim)

Qui luật thứ hai về các bữa ăn cũng không phải chỉ là lời chỉ dẫn về việc ăn uống, mà còn nhắm đến thế mạt, đến sự xuất hiện của nước TC và một trong các ân huệ cứu rỗi mà Nước TC đem đến là việc "các người công chính sẽ phục sinh". Tình yêu mong đáp trả sẽ không hy vọng được tưởng thưởng khi nước TC đến. Lời khuyến cáo được đưa ra ở đây có cùng giáo huấn với diễn từ trên núi (Lc 6,32-35).

KẾT LUẬN

Ngưòi biệt phái bị khiển trách vì hai thói xấu: danh vọng và tham lam (x.Lc 20,46-47); chính vì chống họ mà CGS đưa ra các qui luật về ăn uống liên hệ đến đức khiêm nhượng và bác ái vô vị lợi. Danh vọng và tham lam sẽ bị xét xử nghiêm khắc, còn ai sống khiêm nhượng và bác ái có thể mong chờ đến ngày được tham dự bàn tiệc Nước TC.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. CGS, trong bản tính và sứ mạng Ngài, đã sống tinh thần khiêm nhượng tự hạ, là tinh thần mà hôm nay Ngài công khai giảng dạy. Bỏ chỗ nhất để ngồi chỗ rốt hết, đó chính là ý nghĩa việc ngài nhập thể, như ca thi gởi tín hữu Philipphê: "Phận là phận của một vị TC, nhưng Ngài không nghĩ phải phải dành cho được chức vị đồng hàng cùng TC, trái lại Ngài đã hủy bỏ chính mình đi, lãnh lấy thân phận tôi đòi... đã tự hạ mình xuống làm một người vâng phục cho đến chết" (Ph 2,6-8). Khi sống như thế, CGS không vong thân; trái lại, đã tự biểu lộ như là "người của mọi người". Ngài là người của mọi người, là TC ở cùng chúng ta. Khi chiếm chỗ rốt hết bằng việc nhập thể, khi ngồi cùng bàn với các người bị khinh dể, khi bị giết như một tên bất lương, CGS là: tình yêu đối với Chúa Cha và đối với mọi người.

2. Nhưng sự tự hạ mà CGS giảng dạy không bao giờ đồng nghĩa với sự chìu lụy bệnh hoạn vì sợ người khác hay vì ghét mình. Sự tự hạ mình phải là một lựa chọn hoàn toàn tự do, như CGS đã chọn lựa, trong tinh thần phục vụ và yêu thương.

3. "Nhìn kẻ khác như trổi vượt hơn mình" (Ph 2,3) không phải là so sánh với họ, nhưng là xem họ đáng được người đời và TC lưu ý hơn chúng ta. Chính khi quên mình như thế, tình yêu trong chúng ta mới có giá trị và triển nở thực sự. Tình yêu tự nó đã là một phần thưởng.

4. Chướng ngại vật lớn nhất thường ngăn cản chúng ta tiếp nhận kẻ khác, là hàng rào xã hội. Chúng ta tự nhiên có khuynh hướng xem những người nghèo hơn chúng ta như thuộc về một giai cấp xã hội khác. Phúc âm đến làm nổ tung mọi hàng rào chia rẽ người với người; Đức Kitô đã triệt hạ một lần thay cho tất cả "các tường ngăn thành chắn" (Eph 2,14) để rồi "không còn phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do nữa" (Gal 3,28)

5. Tất cả chúng ta đều được mời đến dự tiệc Thánh thể, dù chúng ta không có công trạng gì. Chúng ta đều được mời tất cả, không phân biệt chủng tộc, phái tính, tuổi tác hay địa vị xã hội. Đức Kitô đã hiến thân để trở nên mọi sự cho mọi người.


Noel Quession - Chú Giải

Một ngày Sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa...

Luca, môn đệ của Phaolô nguyên là một người Pharisêu nên ngài dễ dàng phá bỏ hình ảnh quá đơn giản của một Đức Giêsu được trình bày một cách có hệ thống như người chống lại nhóm Pharisêu. Một cách tiên thiên, Đức Giêsu không chống lại một ai: Người là Người tự do, có thể giao du với tất cả mọi người : Các người thu thuế Pharisêu (Lc 7,36-11,37-14,1). Ở đây, chúng ta thấy Người được mời đến nhà "một thủ lãnh nhóm Pharisêu", một trong các vị thân hào này đóng vai trò lãnh đạo trong đảng của những người công chính . . . nhóm này thường chống đối Đức Giêsu mạnh nhất.

Luca ghi nhận đó là một ngày Sabát. Ngày này, các bữa ăn có một sự quan trọng đăc biệt. Bữa ăn trưa liền sau thánh vụ ở Hội Đồng. Sau một kinh cộng đoàn dài, bữa ăn mang một tính cách sang trọng hơn, vui vẻ hơn bữa ăn của các ngày làm việc. Thật vậy, vì thời gian nghỉ ngơi trong ngày Sabát phải rất chuẩn xác nên mọi món ăn phải được chuẩn bị vào tối ngày thứ sáu, đây là ngày "chuẩn bị" (Máccô 15,42). Như thế, tách khỏi mọi lo lắng về vật chất, những ai tiếp đãi bạn bè hoặc gia đình họ có thể hoàn toàn sống cho tình bằng hữu, cho việc trao đổi đối thoại. Ngày Sabát, người ta sẵn sàng mời khách. Và những "câu chuyện ở bàn ăn" là một cơ hội để vui vẻ và để suy tư.

Những ngày Chúa nhật của chúng ta chẳng phải đã đánh mất một cái gì đó sao ?

Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này : "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng : "Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối". 

Vậy Đức Giêsu đã quan sát. Người đã thấy có những người khéo luồn lách để được ngồi vào chỗ tốt. Trong mọi xã hội, người ta thừa nhận cuộc chạy đua để dành các chỗ nhất đó. Ngày nay có hàng ngàn dấu hiệu phân biệt, và không chỉ ở bàn ăn, để tôn cao giá trị. Từ cách trang phục cho đến xe ôtô của một địa vị xã hội nào đó, rồi đến thói bọc làm sang trọng các đề tài phải đề cập khi trao đổi câu chuyện vì đó là thời thượng !

Trước tiên, rõ ràng Đức Giêsu không kể lại dụ ngôn để khuyến khích chúng ta tôn trọng các quy tắc thế tục của sự tương xứng về xã hội và cấp bậc.
Người muốn khuyến khích chúng ta phải hạ mình, khiêm tốn. Nhưng trước hết, như thường lệ, Người nói với chúng ta về "Thiên Chúa" : Điều kiện nào là chủ yếu để được nhận vào Nước Thiên Chúa ?

Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói : "Xin mời ông bạn lên trên cho". Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. 

Vâng, để được nhận vào Nước Chúa, điều kiện căn bản chính là phải đón nhận, phải tiếp đón Nước Trời, phải làm cho mình trở nên hoàn toàn bé nhỏ : Chính người "Chủ Tiệc" sẽ có sáng kiến và nói "hãy đến, hãy tiến lên cao hơn"... Và thật nghịch lý, người nào coi mình là "người sau rốt" sẽ sắn sàng hơn người kiêu ngạo, để nhờ ân sủng, đón nhận ơn mà mình nghĩ rằng mình không xứng đáng được hưởng. Chính những tội lỗi của chúng ta làm chúng ta cảm nhận sâu sắc sự kém cỏi triệt để của mình: Người "tội lỗi" trở về nhà và được "công chính hóa", trong lúc kẻ tự phụ công chính" tiếp tục đứng thẳng trước mặt Thiên Chúa kể lể những hành động tốt của mình ; "Chúa thấy đó, con không cần đến Ngài, con không phạm tội, không trộm cắp, bất chính, ngoại tình... con làm điều lành, con ăn chay và bố thí..." (Lc 18,9-14).

Không phải tội lỗi chống lại ơn cứu độ nhiều nhất mà chính là tình cảm về sự "công chính của bản thân" : "Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mát-thêu 21,31). Thánh Phao lô, lấy lại mạc khải này của Đức Giêsu, sẽ chứng minh rằng không một ai có thể đòi hỏi sự cứu độ đời đời như một quyền lợi căn cứ vào các công nghiệp của riêng mình qua việc hoàn thành Luật (Rôm 3,21-31 ; Galát 2,16-21).

"Anh hãy ngồi vào chỗ cuối !" Đức Giêsu không nặng lặp lại điều đó ; trước thánh Phao lô. Trước mặt Thiên Chúa phải biết mình "yếu đuối" "nhỏ bé" và "ở chỗ cuối", để hoàn toàn trông cậy vào Người, đồng thời hoàn toàn từ bỏ niềm cậy trông vào sức lực của riêng mình (Lc 17,10-18,10-14).

Phải nhỏ bế như một trẻ thơ để có chỗ trong Nước Trời (Lc 9,48). . . Bạn hãy đặt mình vào chỗ cuối ? ông chủ sẽ cho mời bạn lên chỗ cao hơn.

"Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống : Còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".

Tính kiêu ngạo là tội nặng nhất trước mặt Thiên Chúa. Ai tưởng rằng mình xứng đáng không thế có chỗ trong Nước Thiên Chúa. Kinh nghiệm lịch sử của ít-ra-en rõ ràng là sự lật ngược các giá trị của trần gian này : Thiên Chúa đã chọn dân tộc nhỏ bé nhất, yếu đuối nhất trong các dân tộc trên mặt đất... "Không phải vì anh em công chính hay vì lòng anh em Ngay thẳng mà anh em sắp được vào chiếm hữu đất ấy đã hứa cho anh em, bởi vì anh em là một dân cứng cổ... (Đệ nhị luật 9,5~ - 4,37-38 ; Edêkien 21,31 ; Thánh Vịnh 147,6). Hạ mình xuống ư . Thế giới hiện đại không chấp nhận thái độ ấy. Ngày nay, người ta diễn tả, thái độ ấy bằng không từ ngữ có nghĩa xấu ? Nằm bẹp xuống. . . đào nhiệm . . . bò lết. . . nhượng bộ . . . đầu hàng. . .

Trái lại người ta ca ngợi sự phát triển, mở mang, thăng tiến. . .. Tuy nhiên , sự hạ mình phải là một điều rất cao cả để Đức Giêsu khuyên chúng ta làm và trước hết chính Người đã sống sự hạ mình ấy như thái độ của chính Thiên Chúa ở giữa chúng ta ! "Người đã chọn chỗ sau rốt đến nỗi không bao giờ và không một ai có thể cướp lấy của Người". Đó chính là ý nghĩa của Nhập thể : "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế : Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Phi-lip-phê 2,6-8).

Nhưng để nhổ bỏ mọi xu hướng khỏi thái độ ấy, chúng ta phải biết rằng khi "đặt mình vào chỗ sau rốt, chỗ của người bị đóng đinh, Đức Giêsu không giảm giá trị của minh, Người không thua kém chính mình" : Trái lại, bằng sự hạ mình ấy, Người đã biểu lộ trọn vẹn sự cao cả tối thượng của Người. Người đã trở thành Tình Yêu Tuyệt Đối ? Người đã trở thành "con người vì những người khác !" "con người vì Chúa Cha ! . . Chính trong ý nghĩa ấy, sự sống lại trong vinh quang không còn là điều trái ngược với thập giá. Sự quên mình hoàn toàn của Người đã trở thành vinh quang của Người. Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên !

Chúng ta không chứng kiến những nguyên tắc về lễ độ nơi bàn ăn ! Chúng ta được mời gọi đến được Nước Thiên Chúa, bằng cách noi gương Thiên Chúa, Đấng kín nhiệm, ẩn giấu, khiêm hạ . . . Đấng đã làm mình thành người sau rốt, người phục vụ cho mọi 'người ! Không có sự đào nhiệm nào trong thái độ thánh thiêng ấy. Đó là sự cao cả của Người ! trái lại, chính nhu cầu khẳng định mình chống lại những người khác, thống trị họ bằng sức mạnh hoặc bằng sự mua chuộc, thúc cùi chỏ vào họ để được đứng ở hàng đầu tiên... chính bản năng sinh vật ấy muốn là kẻ mạnh nhất thể hiện sự yếu đuối nguyên thủy của chúng ta, tội nguyên tổ của chúng ta : Muốn được như các thần linh...như Thiên Chúa giả hiệu ấy ở đó chúng ta quy chiếu bản năng quân lực của chúng ta.

Trong bữa ăn cuối cùng để chia tay ở nhà Tiệc ly, những khách mời của Đức Giêsu vẫn chưa hiểu : "Các ông còn cãi, nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông : "Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân... Anh em thì không như thế, trái lại ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ... Thầy đây Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ (Lc 22,24-27).

Rồi Đức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng : "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông và như thế ông được đáp lễ rồi".

Xung quanh đề tài về "bàn ăn" đây là một dụ ngôn mới. Dụ ngôn này mời gọi chúng ta có thái độ vô tư, phải cho và phục vụ không chờ đền đáp lại. "Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu ? Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. (Lc 6,32-35).

"Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ".

Đây cũng là một trong các nghịch lý của Tin Mừng đi ngược nhiều với thế gian. Những lời này thật sự là cách mạng. Thật vậy ở đây, phải hiểu rằng Đức Giêsu kể ra những hạng người bấy giờ bị coi là những hạng người ô nhục. Một cấm ky . lâu đời trong nghi lễ cấm những người dị dạng tham dự các buổi lễ ở Đền Thờ (2 Samuen 5,8 ; Lê vi 21,18). "Luật Qumram", thời Đức Kitô quy định như sau : "Không một người mắc phải sự ô uế của con người được vào trong Hội đường của Thiên Chúa ! Mọi người bị tì vết trong da thịt mà người ta có thể nhìn thấy, bị liệt ở bàn chân, bàn tay, bị thọt, mù hoặc điếc, hoặc câm. Những người này không được vào để tham dự ở giữa Hội đoàn của những con người danh tiếng !". Vả lại, theo Đức Giêsu, chính những con người bị khinh miệt ấy, những người tàn tật ấy lại là đối tượng của các ơn huệ thiêng liêng và được mời đến Bàn Tiệc của Người (Lc 14,21). Bệnh nhân, người đau khổ, nghèo khó, bị nhục mạ, xấu hổ, đáng thương, thương tích, đựng sau rốt, bạn đang được Chúa yêu thương. Tấm lòng của Thiên Chúa chúng ta lớn hơn tấm lòng của chúng ta. Sự yếu đuối của Đức Kitô còn mạnh mẽ hơn sự mạnh mẽ của chúng ta ! Khôn ngoan của Nước Thiên Chúa là sự điên rồ đối với con người. Ai khiêm nhường ấy là phúc thật, họ sẽ được đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy…

Như thế, ông mới thật có phúc : Vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại…"

Người ta thấy rằng bởi việc nhắc đến ngày sống lại sau cùng, những lời nói về bàn ăn của Đức Giêsu đi xa hơn những lời khuyên tầm thường khi mời khách. Nhưng điều đó không có nghĩa là không được áp dụng vào các bình diện cụ thể hơn. Thật vậy, những lời của Đức Giêsu nhắm đến ba loại bữa ăn :

Trước tiên những bữa ăn của bàn ăn con người : phải chăng là điều Đức Giêsu nói với chúng ta ?

Kế đó là bữa ăn Thánh Thể : có phải là không phân biệt ngôi thứ, mở ra cho tất cả mọi người ?

Sau cùng, bữa ăn thời thế mạt : Thiên Chúa đã dự trù sự no nê cho những lũ- tội lỗi, với điều kiện duy nhất là họ noi gương Thiên Chúa để sống yêu thướng mà không chờ đền đáp lại.



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

"Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, 
thì không thể là môn đệ Ta"
.


BÀI TIN MỪNG : (Lc 14,25-33).

I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng hôm nay Chúa Giê-su đòi hỏi những ai đi theo Chúa thì phải có tinh thần từ bỏ : Từ bỏ trong tinh thần hy sinh và bền chí.

II. SUY NIỆM :

1. "Có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giê-su" :

Cuộc hành trình của Giê-su tiến về Giêrusalem (Lc 9,51) trùng hợp với cuộc hành trình của người Do Thái đi dự lễ Vượt Qua tại Giêrusalem. Vì thế có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giê-su. Nhưng họ không phải là những người đi qua đường mà là những người có thiện cảm với Chúa Giê-su và có thiện chí muốn theo Người.

2. "Người ngoảnh lại bảo họ …" : nhân cơ hội này Chúa Giê-su muốn nhắc nhủ họ về điều kiện đi theo làm môn đệ của Chúa.

3. "Nếu ai đến với ta mà không bỏ cha mẹ …" :

Trong tiếng Hy Bá không có thể văn so sánh hơn kém. Vì thế, khi muốn diễn tả ý niệm hơn kém, người ta thường dùng lối văn đối ngẫu "yêu và bỏ", hiểu như vậy thì kiểu nói "từ bỏ" ở đây có nghĩa là "ít hơn" tức là không coi cha mẹ hơn Chúa nữa (St 29,31-35; Đnl 21,15-16). Chính thánh sử Matthêu đã hiểu như thế khi viết: "ai yêu cha mẹ hơn ta, không xứng đáng với ta"(Mt 10,37). Hiểu như vậy thì nghe tiếng Chúa Giê-su dùng kiểu nói có vẻ cứng rắn "từ bỏ cha mẹ" chúng ta đừng nhĩ ngay rằng Chúa có ý phế bỏ giới luật thứ tư (Lc 18,19-20) về tình yêu và lòng tôn kính phải có đối với cha mẹ. Vì vậy ở đây Chúa Giê-su có ý đòi hỏi những ai muốn theo làm môn đệ của Chúa thì phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa với bất cứ trường hợp nào và như vậy. người muốn làm nổi bậc thang giá trị của tình yêu con người đối với Thiên Chúa và phải hy sinh tất cả để bảo vệ bậc thang giá trị đó khỏi bị đảo lộn.

4. "Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta …" :

Ơ đây Chúa Giê-su muốn lưu ý rằng những ai muốn theo Chúa thì chỉ có theo bằng cách vác thập giá như chính Người đã vác sau này. Thập giá ở đây là những hy sinh phải đón nhận. Theo Chúa là đón nhận sự hy sinh trong việc từ bỏ, trong nỗ lực, cố gắng và thiện chí. Nếu vậy thì không trở thành môn đệ của Chúa được.

Từ bỏ là điều kiện để theo Chúa và việc theo Chúa là một việc quan trọng có liên quan đến sự sống còn của cuộc đời mỗi người. Vì vậy Chúa bảo ta phải thận trọng tính toán và kiên tâm bền chí mới có thể vượt thắng được mọi trở ngại trên đường theo Chúa. để diễn tả điều đó, Chúa Giê-su đã dùng hai dụ ngôn về người xây tháp và ông vua đi đánh giặc.

5. "Có ai trong các ngươi muốn xây tháp …" :

Công việc xây tháp, nhất là xây dựng một ngọn tháp đâu có phải là chuyện dễ dàng làm một vài ngày là xong, hoặc cứ muốn là xây được. Trái lại nó đòi hỏi tính toán kỹ lưỡng về vật liệu, tài chánh công thợ và thời gian để hoàn thành, nếu không vậy thì không thể hoàn thành nổi. Cũng vậy, việc theo làm môn đệ Chúa không phải là công việc một mùa hai buổi là xong , nhưng là việc khó khăn đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ, và phải kiên tâm bền chí, chứ đừng nản lòng như người xây tháp nữa vời rồi bỏ.

6."Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác mà trước tiên không ngồi suy nghĩ …" :

Việc đi theo làm môn đệ Chúa thì cũng giống như quyết định của một ông vua. Đó không phải là chuyện chơi, vì liên hệ đến cả nước. Việc quyết định đi theo Chúa là việc quan trọng, đòi hỏi phải có sự tính toán khôn ngoan và bền chí. Đừng như ông vua khi tuyên chiến với giặc, nhưng khi thấy giặc đến thì hoảng sợ vội sai người đi cầu hoà. Với hai dụ ngôn trên, Chúa không có ý bảo ta phải trù tính lựa chọn có nên theo Chúa hay không, vì muốn vào Nước Thiên Chúa thì tất nhiên phải theo Chúa. Chúa chỉ muốn dạy ta phải bền chí theo làm môn đệ cho tới cùng, đừng nhẹ dạ nản lòng trước những khó khăn vất vả gặp phải trên đường theo Chúa. ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu rỗi.

7."Bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có …" :

Chúa nhắc lại lần thứ hai về việc từ bỏ, điều này chứng tỏ điều kiện để theo Chúa là tinh thần từ bỏ : từ bỏ để tỏ thiện chí đặt Chúa ưu tiên trên hết mọi sự , từ liên hệ tình cảm đối với người thân , cho đến lòng quyến luyến đối với của cải mình có.

III. ÁP DỤNG :

A/ Ap dụng theo Tin-Mừng :

Qua bài Tin-Mừng này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta là những người làm môn đệ Chúa phải đặt Chúa ưu tiên trên hết mọi sự , trên cả những tình cảm liên hệ gia đình cũng như lòng quyến luyến với của cải vật chất.

B/áp dụng thực hành :

1.Nhìn vào Chúa Giê-su :

a. Nghe lời Chúa nói :

"Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ… "Chúa đòi hỏi ta phải đặt việc theo Chúa quan trọng hơn liên hệ tình cảm gia đình.Có biết bao người vượt thắng sự cản trở của gia đình để hiến dâng cuộc đời cho Chúa, và có biết bao người can đảm quên đi mối tình gia đình đó để theo tiếng Chúa gọi.

"Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta" :Chúa bảo ta phải quên đi bản thân mình để thi hành tinh thần của Chúa và phụng sự Chúa trong việc phục vụ tha nhân.

"Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì không thể làm môn đệ Ta" :Chúa đòi hỏi ta theo làm môn đệ Chúa, thì phải chấp nhận mọi hy sinh theo cách thế như Chúa đã hy sinh chịu chết trên thập giá.

"Và có ai trong các ngươi muốn xây tháp" :Theo Chúa là việc khó khăn, vì thế cần phải khôn ngoan, đừng nhẹ dạ làm theo những kẻ khi gặp thử thách thì bỏ cuộc mà không hoàn thành được sự nghiệp đến cùng.

"Có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác mà trước tiên không ngồi suy nghĩ" :Theo Chúa là việc quan trọng vì liên hệ đến sự sống đời đời, vì thế Chúa đòi hỏi ta phải khôn ngoan đem hết mọi nỗ lực cố gắng để thực hiện, đừng nông nổi sợ khó, ngại phiền, kẻo bỏ dở công việc.

Chúa Giêsu dùng hai dụ ngôn xây tháp và ông vua đi đánh giặc để nhắn nhủ chúng ta rằng, việc dấn thân theo Chúa không phải là một vấn đề thuần túy hình thức, mang danh hiệu Kitô hữu là đủ, nhưng phải để tâm lưu ý và săn sóc đời sống đạo của mình cũng như đã từng chú ý chăm sóc các công việc trong đời tư (xây tháp)hay việc chung như (đánh giặc).

2. Nhìn vào đám đông dân chúng :

Họ đi theo Chúa vì những hình thức bên ngoài hay do tình cảm , chứ chưa có nỗ lực cố gắng bên trong ; vì thế, Chúa đã đòi hỏi họ phải có tinh thần từ bỏ để đặt Chúa trên hết mọi sự và kiên tâm theo Chúa đến cùng./.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn