Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXIII Thường Niên A


CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN A
 

NGÀY 10/09/2017
 



Tin mừng Mt 18: 15-20


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
ANH EM SỬA LỖI NHAU
 
CÂU HỎI GỢI Ý

1.Chữ "anh em" có một nghĩa đặc biệt trong Giáo Hội sơ khai không?

2.Làm sao giải thích lời nói nặng nề của Chúa Giêsu: "Hãy kể như ngươi ngoại và ngươi thu thuế" (c. 17)?

3. Đoạn văn này nói về các lỗi công khai hay riêng tư? Nặng hay là nhẹ?

4. Việc nại đến "hai hay ba nhân chứng" (c. 16) có đưa đến hậu quả biến việc sửa bảo riêng tư thành một phiên tòa xử kín không?

5. Đâu là ý nghĩa của câu "ngươi đã lợi được anh em ngươi"?

6. Phải chăng đoạn văn này có thể dùng làm nền tảng Thánh Kinh cho Tôn giáo Pháp đình?

7. Đâu là ý nghĩa tổng quát của việc anh em sửa lỗi nhau, nếu được đặt lại trong toàn bộ văn mạch của chương 18?

8. Hình ảnh Giáo Hội mà Chúa Giêsu cho ta thấy trong các câu này phải chăng có tính pháp lý?

1. Chủ đề chính yếu của đoạn văn trước (18, 1- 14) là ý niệm "kẻ nhỏ", bây giờ ý niệm "anh em" lại nằm hàng đầu trong lời giảng huấn của Chúa Giêsu.

Chữ "anh em", cũng như chữ "kẻ nhỏ" và "kẻ nghèo", phải được hiểu theo hai nghĩa. Nó không những chỉ tình họ hàng liên kết các người con của cùng một cha theo máu huyết, nhưng còn biểu thị các mối tương quan nối kết mọi phần tử của cùng một cộng đoàn thiêng liêng. Như "con cái Israel" đều thuộc về một "nhà", thì các môn đồ Chúa Kitô, được qui tụ "nhân danh Người", cùng lập thành một "nhà thiêng liêng" (1Pr 2, 5). "Chúng con hết thảy đều là anh em", Chúa Giêsu sẽ nói với họ như thế (23,8). Tình huynh đệ này đặt cơ sở trên mối liên hệ siêu nhiên mà chính Chúa Giêsu đã thiết lập, trong bản thân Người, giữa Chúa Cha và mọi kẻ thuộc về Người (12,48; 28, 10). Và bạn từ trên sẽ trở thành danh xưng thông dụng nhất để chỉ các Kitô hữu trong Giáo Hội sơ khai (Cv 9, 17; 15, 23; 16, 40; v.v...; Rm 14, 10; 1Cr 15, 6; Cl 1, 2 v.v...). Vì tình huynh đệ vốn tạo nên mối giây nối kết các phần tử của cộng đoàn họ được phát xuất từ việc họ cùng tái sinh và cùng được làm con cái Thiên Chúa (Rm 12, 19; 1 Pr 1, 22; 1 Ga 4, 20- 21).

2. Vì đến từ một người anh em nên việc trách cứ không phát xuất từ ý thức cá nhân của kẻ khác, nhưng từ người, với tư cách là anh em, đại diện cho thực thể Giáo Hội, được qui tụ nhân danh Chúa Giê-su và quanh Người. bởi thế, điều thoại tiên có vẻ như một thủ tục nghiêm trị và tuyệt thông, nếu đọc các câu 15- 18 độc lập với văn mạch của chúng, thực ra chỉ là canh thức của một thủ tục tố tụng nhân ái; quả vậy, ba lần vận động ấy phải được hiểu, dưới ánh sáng của dụ ngôn đi trước, như là một cố gắng phục hồi lại trong mối hiệp nhất với cộng đoàn kẻ đã tách lìa ra. Đây là cách thể hiện lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa theo thủ tục nhân loại.

Điều đáng ngạc nhiên hơn cả, đó là kiểu nói hãy kể như người ngoại và người thu thuế" (c. 17) mà mới thoạt nghe vẻ đầy khinh miệt. Làm sao giải thích việc thay đổi ngôn từ này nơi Đấng đã từng ngây ngất trước niềm tin của các người ngoại đạo (8, 10; 15, 26), hay đúng hơn của "chư dân" (othnikos: x. 5, 47; 6, 7), nơi Đấng mà thiên hạ tố cáo là đã ăn uống với những thu thuế và quân tội lỗi (9; 11)? Kỳ thực, ở đây Chúa Giêsu gọi "người ngoại và người thu thuế" những kẻ mà các tín hữu đều bó tay bất lực không tài nào nhủ bảo khuyên răn. Đối với người anh em "chẳng màng nghe" ấy (parakouein: c.17), Kitô hữu không có trách nhiệm trực tiếp nữa, chỉ còn việc giao họ lại cho bàn tay Chúa Cha, vì thấy mình chẳng có cách nào để giúp họ hơn được. Thành thử ở đây Giáo Hội xuất hiện như một thực thể khác biệt với trần gian, theo kiểu dân Do thái khác với chư quốc, với dân ngoại là những kẻ không chia sẻ niềm tin của họ, và khác với hạng thu thuế, những kẻ bất lương nổi tiếng từng làm hoen ố trước mặt dân ngoại cái đức tin này.

Vì thế Giáo Hội (hạn từ trở lại ở đây như đã xuất hiện ở 16, 18) trước tiên là một cộng đoàn trong đó ai nấy đều có trách nhiệm về đức tin của anh em mình. Riêng đối với những kẻ tách lìa ra khỏi, bất chấp mọi cố gắng khuyên nhủ của anh em, người ta chỉ còn biết phó dâng cho lòng nhân hậu của Thiên Chúa, vì chẳng phải là sau cùng vị Mục tử lên đường tìrn kiếm con chiên lạc đó sao (c. 12). Cho nên rốt cuộc, cộng đoàn này không luỹ thuộc máy vào các nỗ lực nhân loại, vốn có thể kết thúc bằng một thất bại, cho bằng vào Chúa Cha trên trời.

3. Nhưng trong đoạn văn này, người ta đề cập đến các lỗi công khai (chú giải của BJ, chú thích ) hay riêng tư thầm kín? Thưa hình như thủ tục Chúa Giêsu ấn định liên hệ tới các lối ghi nhận trong đời sống riêng tư; điều này phù hợp với Gl 6, 1 và Gc 5, 19. Dù sao, rõ ràng là bản văn đang nghiên cứu không nhắm đến trường hợp làm gương xấu công khai, là những trường hợp mà, theo 1Cr 5, 1- 5 và 1Tm 5, 20, thuộc về kỷ luật Giáo Hội. Đây là những "tội thầm kín" mà một người anh em chẳng may biết đến. Đàng khác, chính sự tiệm tiến của thủ tục, bắt đầu bằng việc hội kiến đơn giản giữa hai người, hình như nhắm làm sao giữ kín điều xấu chừng nào có thể và bảo toàn danh dự của người anh em. Sau cùng đây là những tội nặng mà tự bản chất, đứa đến việc loại ra khỏi cộng đoàn, như quyết định tạm thời của Giáo Hội cho thấy.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Nếu anh em ngươi trót phạm tội": câu giả thiết này từ môi miệng Chúa Giê-su thốt ra trước tiên cho thấy rõ ràng al2 Giáo Hội không bao gồm những kẻ hoàn thiện, song là những tội nhân. Sáng kiến Chúa Giê-su khuyên kẻ chứng kiến lỗi anh em nên làm, xem ra mâu thuẫn với lời Người nói trong Diễn từ trên núi về "cọng rác và cái xà" (7, 1- 5). Nhưng động từ được dùng ở đây olegohô, (sửa lỗi, trách cứ) - cũng là động từ trong Ga 16, 8 xác định hành động của Chúa Thánh Thần "sẽ bắt lỗi thế gian" - cho thấy rõ một công việc như thế phải được thực hiện trong tình bác ái và phải diễn tả, không phải một sự khiển trách đầy khinh miệt hay quát mắng kiêu căng, nhưng là niềm hy vọng rằng một nỗ lực vì sự thật như thế sẽ tạo dịp cho hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng duy nhất minh xác được tội trạng và dẫn tội nhân ăn năn thống hối. Nếu người đáng khiển trách chịu nghe lời sửa lỗi, đó sẽ là một chiến thắng của Chúa Thánh Thần? "Ngươi đã lợi được anh em người". Không phải "lợi được" một người bạn hay một nạn nhân trong một cuộc chiến đấu, nhưng là lợi được một phần tử của Giáo Hội mà người đó sắp lìa bỏ đi.

"Hãy kèm theo ngươi một, hai người nữa": Chỉ thị này nhấn mạnh đến sự kiên nhẫn phải có đối với tội nhân bướng bỉnh: bản văn Đnl 19, 15 mà chỉ thị này tham chiếu, đã đưa ra một lô biện pháp nhằm bảo vệ tội nhân khỏi sự độc đoán và việc vội vã áp dụng các biện pháp trừng giới. Đây không phải là những chứng nhân buộc tội mà ngươi ta đã kiếm lấy từ trước vì như thật thì thật là ghê tởm, song là những người trợ lực những kẻ có nhiều cơ may thành công nhất trong việc sửa lỗi tội nhân, trước khi phải nại đến thẩm quyền cao hơn hết.

"Hãy thưa với cộng đoàn (Thật là đáng tiếc khi BJ và Nguyễn Thế Thuấn dịch như thế, vì bản Hy ngữ nói rõ ràng "Giáo Hội". Câu này, với 16, 18, là hai nơi duy nhất trong 4 Tin Mừng dùng chữ ekklêsia): Việc đưa tội nhân ta trước Giáo Hội không phải là một sự xét xử, song là một việc long trọng khuyên dụ hoán cải nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Trong trường hợp này, Giáo Hội chẳng còn làm gì khác hơn là công bố chính sứ điệp của mình: lời ân xá và tha thứ; nhưng lời này sẽ trở thành lời xét xử đối với những ai bác bỏ, khước từ. Chính vì công bố sứ điệp đó mà cộng đoàn nhận được quyền cầm buộc và tháo cởi (c. 18). Quyền bính của cộng đoàn không phải là quyền bính của một tòa án hay một cơ quan tài phán nhân loại đâu, vì nó hệ tại ở việc đặt lương tâm con người đối điện với Thiên Chúa công bình và nhân ái. Kết quả là kẻ "chẳng màng nghe Giáo Hội ", nghĩa là từ chối nghe lời mời gọi ăn năn, thì đương nhiên tự loại trừ khỏi cộng đoàn được xây dựng trên ân sủng trong Chúa Kitô đó; đương sự không còn là "anh em" nữa. Điều y đã làm khi phạm tội (cách riêng tư), giờ đây cộng đoàn chỉ còn công khai xác nhận và đòi y phải trả lẽ. Y đã tự tách khỏi cộng đoàn vì tội của y, nên cộng đoàn mới chứng thực sự kiện bằng cách ghi nhận y đã từ chối nắm bàn tay đưa ra để lôi y vào.

"Mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc": Việc chuyển đột ngột từ số ít sang số nhiều nầy đặt ra vấn đề ý nghĩa của chữ "các ngươi". Chúa Giêsu ngỏ lời với ai đây? Có kẻ nghĩ là các sứ đồ những người chấp chưởng và là yếu nhân trong phẩm trật Giáo Hội, hay một cách thái quá, là mỗi cá nhân Kitô hữu, cái nghĩa đã bị công đồng Trentô lên án nhưng không đưa ra một lời giải thích đích xác tích cực nào. Văn mạch bảo ta xem chữ các ngươi ấy là toàn thể các môn đồ có một trách nhiệm mục vụ trong cộng đoàn địa phương (xem cc.2. 10. 12. 13, nơi có cùng một chữ các ngươi như thế); nghĩa này đã được thánh Tôma bênh vực. Lời đây cũng song song với lời đã được nói dưới dạng thức một lời hứa cho Phêrô (16, 19). Chắc chắn Chúa Giêsu không có ý truất bãi quyền đã ban cho Phêrô như cho viên.quản gia của mình, nhưng đúng hơn Người muốn liên kết các môn đồ với kẻ nắm giữ chìa khóa ấy.

"Nếu hai người trong các ngươi ": Thoạt nhìn, giây liên lạc giữa các câu 19-20 với những gì đi trước không rõ ràng cho lắm. Kỳ thực có sự liên tục và khai triển cùng một chủ đề: mọi phán định chính thức của Giáo Hội sẽ được phê chuẩn ở trên trời và ngay cả mọi lời cầu xin của một số người hiệp nhau trong đức tin cũng sẽ được trên trời đoái nhậm. Khi hai người họp nhau trong đức tin trước nhan Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô là họ đứng với nhau trên cùng mảnh đất vững chắc của ân sủng, là họ nhận biết mình được hiệp nhất bởi cùng một lòng nhân ái, cùng một lòng tha thứ khiến họ thành anh em, thành conc ái của Cha trên trời. Nơi đâu người ta hiệp nhau "nhân danh Chúa Giê-su", nghĩa là không phải trong niềm kiêu hãnh thiêng liêng và đức công chính riêng biệt, nhưng là trong việc cung xưng mình là "bé nhỏ", trong việc nhìn nhận mình là tội nhân, thì chỉ nơi ấy mới có sự đợi chờ trong đức tin và vì thế sẽ được nhậm lời; Chúa Kitô ở đâu, Giáo Hội ở đó vậy.

"Ta ở giữa họ": Trong sách "Tuyển tập danh ngôn tiên tổ", một phần khả kính của truyền thống giáo sĩ Do thái, có một lời diễn tả cùng ý tưởng về lệ luật của dân Thiên Chúa: Khi hai người cùng ngồi bàn luận về những lời của sách Torah, thì Shékinah ở giữa họ" (Pirqé Abot 3,2). Thế mà Shékinah (tiếng Hy bá có nghĩa nơi ở") thoạt tiên chỉ Đám mây sáng chói (Xh 40, 34-38; Cv 16,2) bay lượn giữa hai thần Kérubin trên nắp hòm bia. Đám mây sáng chói này được xem như là vật biểu lộ cách hữu hình việc cư ngụ thường xuyên của Giavê ở giữa dân Ngài. Bây giờ chính Chúa Giêsu hiển vinh đang ở giữa môn đồ Người, một cách gần gũi hơn bất cứ ai ở giữa những người khác.

KẾT LUẬN

Đoạn văn này cho ta thấy rõ mối giây liên kết mật thiết giữa tội lỗi của một cá nhân với đời sống của cả cộng đoàn. Tội ấy chẳng những liên can lời Giáo Hội chính thức, tới cái mà ngày nay la gọi là bí tích cáo giải, song còn liên hệ chặt chẽ với trách nhiệm của mọi phần tử trong cộng đoàn. Đây là một trách nhiệm được san sẻ và được diễn tả cách rõ ràng phân minh. Trước tiên mỗi người có bổn phận khuyên bảo anh em mình, rồi phải có nhiều người đến tiếp tay giúp đỡ, cuối cùng nại đến thẩm cấp tối cao, đến toàn thể cộng đoàn. Bình diện tích được nối kết với bình diện ngoại bí tích, và cả hai trực tiếp liên hệ đến việc cứu rỗi kẻ đã phạm tội.
Ngoài ra đoạn này còn cống hiến một hình ảnh rất sâu xa và rất đẹp về Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu khi người ta cùng tuyên xưa niềm tin vào danh Chúa Giêsu, cái danh mà nhờ đấy ta được cứu rỗi (Cv 4, 12). Và trong việc tuyên xưng đó. Chúa Giêsu trở nên hiện diện. Thiên Chúa ở giữa loài người như vậy đó. Ngài là Emmanuen, Thiên-Chúa-ở-cùng- chúng-ta. Chính sự hiện diện của Ngài qui hướng lời cầu nguyện chung và đảm bảo chắc chắn lời đó sẽ được chấp nhận. Chính nhờ sự hiện diện của Ngài mà lời phán quyết của cộng đoàn mới có sức mạnh thần linh. Sau cùng chính sự đảm bảo đó là lý do khiến Giáo Hội vững lòng cậy trông và không ngừng hân hoan trên cõi thế.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Không thể có vấn đề chú giải phần đầu của bài Tin Mừng hôm nay (việc anh em sửa lỗi nhau) như là lời khuyến khích dò xét các người cùng xứ đạo với mình và nhận định họ theo giá tn luân lý của họ. Tất cả mọi lời khuyên đây của Chúa Giêsu chỉ có thể được hiểu như một biểu thức của tình bác ái.

Vì ta thấy chúng đi tiếp sau câu: "Nơi Cha các ngươi Đấng ngự trên trời không hề có ý để mặc hư đi một người nào trong những kẻ nhỏ này". Và thật thế, ở đây Chúa Giêsu muốn nhắc lại cho ta việc ân cần săn sóc anh em ta về mặt tinh thần, thiêng liêng. Giúp một người anh em đang gặp khó khăn, đưa tay đỡ nâng một người anh em đang trong vòng tội lỗi, là một yêu sách của tình yêu, một lòng trung tín với công việc của Chúa.

2. Nếu có một vài Kitô hữu chuyên xía vào chuyện thiên hạ, thì ngược lại có một số Kitô hữu khác lại kém dấn thân, chỉ biết mình với Chúa. Thế mà ở đây Chúa Giêsu dạy rằng tất cả chúng ta đều có trách nhiệm với nhau. Tôi không thể hững hờ trước tình cảm thiêng liêng của anh em tôi. Và vì chẳng ai thoát khỏi lầm lỡ hay yếu đuối nên rất có thể một ngày kia người khác cũng sẽ có dịp thi hành đối với tôi cái bổn phận nâng đỡ thiêng liêng ấy. Có lẽ họ sẽ sẵn sàng làm việc này, nếu họ đã thấy chính tôi thi hành với tất cả sự tế nhị và nhân ái cần thiết. Trong cộng đoàn môn đồ của Chúa Giêsu. "Không ai là một hòn đảo"....

3. Sở dĩ ta đến nhà thờ cầu nguyện, chính là để thờ lạy Chúa Giêsu đang hiện diện cách thể lý ở đó, dưới hình bánh hình rượu. Nhưng cũng là để gặp lại anh em ta và hiệp nhất với họ trong kinh nguyện. Và khi, trong một lời nguyện cầu đầy sốt sắng và khiêm tốn, ta đồng tâm nhất với trí kết hợp với anh em trong Giáo xứ, thì ta không chỉ ở trước Mình Thánh Chúa Kitô đang hiện hiện trong nhà tạm mà thôi, mà còn ở trong Mình thánh Người, và làm thành Nhiệm thể Người, vì Chúa Giêsu đã nói: Người sẽ hiện diện giữa ta. Và bấy giờ Chính Chúa Giêsu cầu nguyện ở trong ta. Làm sao chúng ta lại không được nhận lời vì Người đã long trọng tuyên bố: "Lạy Cha, con biết Cha hằng nhậm lời con" (Ga 11, 42)?.


 
Noel Quession - Chú Giải


Đức Giêsu bảo các môn đệ: "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã được món lợi là người anh em mình".

Đoạn Tin Mừng ngày hôm nay được trích từ bài giảng lớn thứ tư của Đức Giêsu, theo cách bố cục Tin Mừng của Mát-thêu. Đây là những giáo huấn về đời sống "cộng đoàn".

Cộng đoàn" mà chắc chắn Mát-thêu nghĩ đến chính là nhóm nhỏ Kitô hữu, tập hợp mỗi Chúa nhật để cữ hành Thánh Thể, và tạo thành một Giáo hội địa phương. Ngay từ đầu, chúng ta nhận thấy tính chất thực tế của Đức Giêsu:"Nếu người anh em của anh trót phạm tôi…" Giáo hội không phải là một cộng đoàn gồm những "người thanh khiết các thánh", nhưng những "người tội lỗi". Đức Giêsu đã rất sáng suốt tiên liệu rằng "các Kitô hữu không tốt hơn những người khác", như thỉnh thoảng người ta vẫn nói. Giáo hội được tạo nên bởi những con người mỏng dòn như xã hội thế tục. Đức Giêsu không mơ đến một Giáo hội không có vấn đề. Người sẽ đưa ra một thủ tục để thử giải quyết những khó khăn mà có ngày sẽ phát sinh trong mọi nhóm người.

Thật vậy điều Đức Giêsu nói ở đây có thể được áp dụng cho mọi môi trường sống của chúng ta với một tỉ lệ nào đó: Gia đình, nhóm, hiệp hội, nhóm bạn, các đồng nghiệp…Biết bao nhiêu là xung đột, căng thẳng, chống đối nhau!

Đôi khi lúc mới khởi đầu, mọi sự xem ra đơn giản và hài hòa. Và rồi với thời gian trôi qua, nhiệt tình xuống dần, nhóm có nguy cơ tan rã nếu không ai quan tâm đến sự liên kết và hiệp thông.

Không một nhóm con người nào tránh được tội lỗi, sự khốn khổ của con người... kể cả Giáo Hội! "Nếu anh em của anh trót phạm tội…"

Phải làm gì , bây giờ?

Anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã được món lợi của người anh em mình...

Chúng ta nhận thấy ngay, trong những chữ cô đọng ấy bầu khí mà Đức Giêsu đặt chúng ta vào. Đó là một bầu khí của tình yêu chứ không phải là của sự phán xét.

Than ôi, có những "vị quản giáo mắc khuyết điểm" lẫn lộn hết mọi sự, và lúc nào cũng sẵn sàng lên lớp những người khác trong một thái độ phê phán có hệ thống. Như thế là làm sai lạc tư tưởng của Đức Giêsu, vì đã có xu hướng "buộc tội" và "đè nặng" lên kẻ có tội. Tất cả Tin Mừng rõ ràng nói với chúng ta điều ngược lại. Và văn cảnh trực tiếp của bài giảng này về cộng đoàn chỉ nói về sự tế nhị và lòng nhân hậu đối với anh em mình. Ngay trước đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay, Đức Giêsu đã kể lại dụ ngôn con chiên lạc:: "Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này. …Hãy như người chăn chiên mất một con chiên chạy đi tìm nó…Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất" (Mát-thêu 18,10-14). Và ngay sau bản văn của chúng ta về sự sửa lỗi anh em, Đức Giêsu sẽ đòi hỏi Phêrô "tha thứ bảy mươi lần bảy" (Mát-thêu 18,21-22) Kế đó Đức Giêsu sẽ lên án thái độ

của người đầy tớ không biết thương xót, không có trái tim, không biết tha thứ một món nợ cho người bạn mình (Mát-thêu 18,23-35).

Như thế, chúng ta phải can thiệp, chỉ với một bầu khí của tình yêu thương. Người ta chỉ có quyền phê bình một người anh em nếu người ta " yêu thương người ấy! Toàn bộ Tin Mừng cao rao với chúng ta Đức Giêsu nhân hậu với những người tội lỗi.

"Hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó..."

Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã được món lợi là người anh em mình... "

Người ta cảm thấy rằng Đức Giêsu rất muốn đó là giải pháp cho sự xung đột. Khi một người được món lợi là anh em mình thì trời cao sẽ xuống với đất? Đó chính là niềm vui của giải pháp ấy!

Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh.

Đức Giêsu thực hiện thêm một bước với biết bao sự tế nhị tâm lý!

Trước tiên là mặt giáp mặt trong sự kín đáo, để cho nếu có thể không ai biết có điều xấu và người phạm lỗi có thể giữ được tiếng- tăm và danh dự của mình... và rồi, đến lúc phải đem theo một, hai anh em khác là để tránh những phán đoán quá chủ quan trong đó người ta có thể đánh giá sai lầm, và cũng để ý số đông tìm thấy những lập luận có thể thuyết phúc hơn. Phải làm mọi sự để tránh sự hấp tấp và sự độc đoán.

Chỉ sau khi đã dùng hết cách khuyên nhủ, người ta mới phải cắt bỏ một cách đau đớn.

Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.

Công thức này đụng chạm đến chúng ta, nhất là lại do Đấng là người ta đã gọi "bạn của những người thu thuế và những người tội lỗi (Mát-thêu 1 1, 19). Sự lên án khắc khe này chỉ có thể hiểu được một cách chính xác bởi người ta đã thử hết cách để cứu người anh em. Người ta cũng có thể nói rằng chính người anh em đã tự mình loại mình ra khỏi cộng đoàn với việc nhiều lần khước từ sửa lỗi. Đã ba lần, người ấy gạt bỏ bàn tay mà người ta đã giơ ra cho người ấy. Sau khi đã nhẫn nại đem lại cho người ấy mọi cơ may, cộng đoàn thấy mình bất lực đối với người anh em đó…

Nhưng phải nói thêm rằng, cả trong những trường hợp tối hậu ấy, chúng ta không giảm bớt lòng yêu thương người ấy, kẻ tội lỗi ấy... bới lẽ chúng ta phải yêu thương cả kẻ thù của mình (Mát-thêu 5,43~8). Và Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai của Chúa nhật này, nhắc chúng ta rằng "Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái" một món nợ không bao giờ trả hết (Rôma 13,8).

Thầy bảo thật anh em: "Dưới đất, anh em cầm buộc những điều g~ trên trời cũng cầm buộc như vậy, dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì trên trời cũng tháo cởi như vậy."

Đức Giêsu không bao giờ chỉ là một nhà luân lý, một hiền giả, một nhà nhân bản. Những lời khuyên mà chúng ta đã nghe cho đến nay là những nguyên tác tâm lý sơ đẳng, có giá trị đối với mọi quan hệ của con người. Nhưng Đức Giêsu giờ đây đưa ra thêm một khía cạnh "thần học". Người mạc khải một mầu nhiệm ẩn giấu. Thiên Chúa hiện diện trong toan tính cứu vớt anh em mình... Thiên đàng liên quan với những gì xảy ra trên mặt đất.

Ý muốn của Thiên Chúa là không một con chiên nào bị hư mất, nên sự sửa lỗi anh em trở thành một con đường của lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, nhiều người chỉ khám phá sự tha thứ của Thiên Chúa (trên trời) nếu họ khám phá sự tha thứ của anh em (dưới đất) được thực hiện bằng một thái độ nhân bản của lòng yêu thương cứu độ.

Vại trò "cầm buộc và tháo cởi" mà Đức Giệsu đã ban cho cá nhân Phêrô một vài ngày trước đó (Mát-thêu 16,19), cũng được ban cho toàn thể cộng đoàn, trong cùng những từ ngữ (Mát-thêu 18,18). Giáo hội là môi trường của lòng thương xót, nhân hậu. Những Kitô hữu đưa về Thiên Chúa. Ôi trách nhiệm to lớn biết bao?

Giữa "đất" và "trời" có sự tương giao?

Giữa "thời gian" và "vĩnh cửu", có sự tương giao?

Sự mạc khải của Đức Giêsu là ở điều này: Điều mà người ta cầm buộc được hay tháo gỡ được ở trần gian này, trong lúc này... được "cầm buộc" hoặc "tháo gỡ" nơi Thiên Chúa mãi mãi…

Và không chỉ cho chúng ta, nhưng cũng cho những người khác Giáo Hội là một cộng đoàn ở đó mỗi người chịu trách nhiệm về đời sống Đức Tin của anh em mình. Chúng ta có thật sự gánh trách nhiệm cho nhau không? Giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái? Thông thường, chúng ta hay -hèn nhát chúng ta không quan tâm đến đức tin của những người khác, Một vấn đề thời sự nóng bỏng... Biết bao đứa trẻ đã từ bỏ đức tin của cha mẹ chúng. Biết bao anh em dường như đi theo con đường rời bỏ cộng đoàn đức tin..

Vậy có nên tuyệt vọng không?

Thầy còn bảo thật anh em: "Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời- cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho"

Đức Giêsu lặp lại công thức nhấn mạnh long trọng: Thầy còn bảo thật anh em! Công thức ấy thường chỉ một mạc khải về mầu nhiệm đức tin, được che khuất khỏi sự nhận xét của con người. Và Đức Giêsu trở về chủ đề về sự tương quan giữa "đất" và "trời".

Có nên tuyệt vọng khi chúng ta không. "nhìn thấy" kết quả của những nỗ lực đối với những anh em, tội lỗi từ chối sống đời thánh thiện theo ơn gọi Kitô hữu của họ? ít ra bề ngoài là như' thế? Đức Giêsu đáp lại "không" với chúng ta!

Bỏ vì, Người nói, cộng đoàn - Giáo Hội không phải là một hiệp hội như – những hiệp hội khác. May mắn thay!

Cộng đoàn đức tin này ít lệ thuộc vào những nỗ lực của con người để có thể kết thúc bằng sự thất bại mà lệ thuộc nhiều hơn vào: Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta phải tin vào hiệu quả... ẩn giấu ở trên trời của lời cầu nguyện, những hiệu quả mà những phương tiện thông thường của con người không thể nhận thấy được. Sự cầu nguyện ấy không phải là sự lười biếng, bởi vì người ta đã làm hết sức trước đó. Nhưng là phương sách cuối cùng Đức Giêsu khẳng định với chúng ta phải tin vào hiệu quả của phương sách đó. Đối với nhiều bậc cha mẹ trong gia đình, lời nói ấy của Đức Giêsu phải là ánh sáng quyết định mặc dù không kiểm chứng được... "Nếu ở dưới đất hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì thì lời cầu nguyện của họ sẽ có hiệu quả với Chúa Cha; Đấng ngự trên trời"…

Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở đấy giữa họ.

Không, Giáo hội, cộng đoàn những người tội lỗi như mọi người khác, không phải là một hiệp hội như các hiệp hội khác: Đức Giêsu sống lại với tất cả quyền năng tinh thần của Thiên Chúa ở đấy giữa những người quy tụ nhân danh Người. " '

Rõ ràng chúng ta không còn ở trong lãnh vực luân lý xã hội học, hay nhân bản. Chúng ta ở trong lãnh vực đức tin. Sự thống nhất của Giáo Hội ở bên trên những xung đột chia rẽ con người. Mọi nỗ lực hòa giải luôn phải được thực hiện. Nhưng khi những bàn tay chúng ta đưa ra không được tiếp nhận, thì chúng ta vẫn phải tin rằng điều mà con người không làm được, Thiên Chúa làm được" (Mát-thêu 17,20 -:19,26; Lu ca 1,37).
Một giấc mơ điên rồ chăng? Một ảo tưởng không có thật chăng? Không phải thế! Nhưng đó là một bí quyết tuyệt vời của chủ nghĩa lạc quan đi đến mức tin rằng không môt người nào, không một hoàn cảnh nào mà sau cùng không thể cứu vãn được ( 1Cô-rin-tô 8,11).

"Người anh em này mà Đức Kitô đã chịu chết để cứu chuộc...". Làm thế nào mà chúng ta lại thất vọng vì người ấy.


Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Trách nhiệm về người anh em


Ed 33,7-9; Rm 13,8-10; Mt 18,15-20

Trong quyển sách về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện sau đây:

Ngày kia khi Đức Giám Mục Amôlas đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ với Ngài lòng bất mãn tột độ của họ đối với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống.

Từ dạo ấy, vị ẩn tu không ngớt là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ trích và lên án. Thấy Giám Mục Amôlas đến, họ xúm lại vây quanh Ngài và nói: Hôm nay Ngài đã đến đây thì Ngài phải chấm dứt ngay lập tức tình trạng sa đọa bê bối gây nhiều gương mù gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia.

Sau khi nghe những lời kết án gây gắt của dân làng, Giám Mục Amôlas quyết địng leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt nối gót theo sau. Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình, ông ta hoảng sợ và cấp tốc bảo người phụ nữ chui vào chốn trong một cái thùng gỗ rỗng.

Đức Giám Mục là người đầu tiên đến trước túp lều, và cũng là người đầu tiên bước chân vào. Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay tình hình. Ung dung, Ngài đi thẳng đến ngồi ngay trên chiếc thùng gỗ để nghỉ chân, nơi người phụ nữ ẩn trốn. Rồi bình thản khoát tay gọi dân làng vào và bảo:

- Vào đây, các người hãy vào mà lục xét túp lều để tìm người phụ nữ. Khi họ không tìm đâu ra bóng dáng người đàn bà, Đức Giám Mục mới nói:

- Bây giờ các ngươi phải quỳ xuống xin lỗi Thiên Chúa vì đã nói xấu vị ẩn tu này vô cớ.

Nhưng sau đó, khi mọi người đã lục tục kéo nhau xuống núi, Đức Giám Mục Amôlas tiến gần vị ẩn tu, nắm chặt hai bàn tay của ông, đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của ông và chậm rãi nói:

- Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy!

Anh chị em thân mến,

Hai thái độ khác nhau giữa dân làng và Giám Mục Amôlas đối với một người lầm lỗi, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn giáo huấn của chúa Giêsu về việc sửa chữa lỗi lầm của anh em. Ngược lại với phản ứng của dân làng, Đức Giám Mục Amôlas đã có gắng áp dụng lời khuyên của Chúa Giêsu: "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sữa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi". Trong một tình trạng khó xử, Ngài đã tìm cách đem vấn đề đã được mọi người bàn tán trở thành một vấn đề cá nhân để có dịp thuận tiện nói chuyện diện đối diện với vị ẩn tu. Tiếp đến, Ngài đã không sửa lỗi ông như một người có thẩm quyền. Trái lại, Ngài đã dùng thẩm quyền của mình bảo vệ cho vị ẩn tu, để sau đó có thể khuyên nhủ ông như một người anh em. Và sau cùng, dù không cấu kết với đám đông để khinh thường và lên án vị ẩn tu đang vấp phạm, cũng như nêu mối nguy hiểm của lỗi lầm này với phần rỗi của đương sự, qua một lời khuyên nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn: "Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn".

Thưa anh chị em,

Giáo Hội là một cộng đoàn huynh đệ, trong đó mọi người là anh em với nhau vì đã được làm con cùng một Cha trên trời trong Đức Giêsu Kitô. Vì thế, mỗi kitô hữu đều có trách nhiệm nâng đỡ nhau, sửa lỗi nhau để sống xứng đáng là con cái của Chúa trong đại gia đình của Ngài. "chị ngã, em nâng"; "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó". Chúa Giêsu nhắc nhớ chúng ta trách nhiệm đó. Ở đây không có ý nói về việc ai đó xía vô đời tư của người khác, nhưng có ý nói về một người anh em ý thức trách nhiệm phải giúp đỡ người anh em khác sống tốt hơn, vì ích chung của Giáo Hội.

Đây là một việc làm tế nhị, khó khăn, đòi hỏi phải nhẫn nại, bởi vì người ta làn việc trên sự tự do và nhân vị của mỗi con người. Chúa Giêsu đề ra ba giai đoạn: Trước hết cá nhân đối diện với cá nhân. Nếu người phạm lỗi không chịu nghe những lời góp ý để sửa chữa lỗi lầm, người ta sẽ đem theo một hoăc hai người nữa cho việc góp ý được thấu lý đạt tình và có sức mạnh hoán cải hơn. Nếu người mắc lỗi ngoan cố thì sự việc sẽ được đưa ra trước cộng đoàn, tức là một thứ Giáo Hội địa phương và nếu người mắc lỗi cũng không chịu nghe cộng đoàn, lúc đó người ta mới kể nó như người ngoài cộng đoàn, như người ngoại giáo.

Đó quả là một biện pháp khôn ngoan. Nó làm cho người có trách nhiệm sửa lỗi luôn luôn giữ được sự bình tĩnh, nhẫn nại, đồng thời thể hiện tấm lòng từ bi và thái độ tôn trọng nhân vị, tự do của người phạm lỗi. Mặt khác, biện pháp đó còn giúp cho người phạm tội có dịp hồi tâm, phản tỉnh để nhận ra sự sai quấy của mình. Lúc đó, không một tội nhân nào còn có lý do để quy trách nhiệm về tội mình, về cách xử lý mình cho anh em, sau khi đã đối diện với anh em qua ba giai đoạn ấy.

Tóm lại, tất cả đều phải nhắm đến sự sống của cộng đoàn, phải thi hành với tình yêu huynh đệ. Giáo Hội chỉ giúp cho cá nhân và xã hội được tốt lành, hoàn thiện khi đóng đúng vai trò người giữ gìn, bảo vệ nơi nào chân lý và điều thiện có thể bị tấn công, bị phá hủy, đồng thời đẩy lui những điều ác, điều xấu làm tổn thương, sứt mẻ mối tương quan của con người với chính mình, với cộng đoàn và với quyền bính hợp pháp.
Khi chúng ta cùng cộng đoàn hay Giáo Hội lên án những bất công và tệ đoan xã hội cũng như sự suy thoái đạo đức … chính là lúc chúng ta thực thi trách nhiệm sửa chữa lỗi lầm của nhau, cho mình và cho xã hội. Trách nhiệm này, Chúa đã trao cho chúng ta trong tư cách là người con cái của Chúa và Giáo Hội.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta họp nhau đây nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để cầu nguyện, để gặp gỡ Thiên Chúa và anh em. Chúa Giêsu đang sống và ở giữa chúng ta. Ngài soi sáng cho chúng ta biết sự thật về chính mình và tình liên đới với nhau, để chúng ta trả cho nhau món nợ duy nhất, đó là món nợ tình yêu thương nhau, món nợ không bao giờ trả được.


Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

TINH THẦN HUYNH ĐỆ TRONG CỌNG ĐOÀN GIÁO HỘI


Trọng tâm của các bài đọc Kinh thánh của Chúa nhật XXIII nói về tình huynh đệ. Tình huynh đệ này không dựa trên hệ thống quyền lực hay uy thế nào, cũng không dựa trên quyền lợi vật chất, nhưng dựa trên sự hiệp thông, trên mối dây thân ái giữa những người trong cùng một gia đình, gia đình Thiên Chúa.

Trong Hội thánh Công giáo, tình huynh đệ này đi tới chỗ hiệp nhất sâu xa, bền chặt vì mọi người được qui tụ thành anh chị em của nhau chung quanh người anh cả là Đức Giêsu Kitô để ca ngợi, chúc tụng Thiên Chúa là Cha và cùng nhau đón nhận ánh sáng, ân sủng và tình yêu tha thứ của Chúa Cha.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Ed 33,7-9

Tiên tri - người lính canh của Thiên Chúa

a. Vai trò của tiên tri là người mang đến cho con người sứ điệp của Thiên Chúa và ngăn ngừa họ khỏi những nguy hiểm của việc rời xa huấn lênh của Chúa. Nếu không làm tròn bổn phận "người lính canh của Thiên Chúa" để một người anh em phải hư mất, họ sẽ phải chịu sự trừng phạt của Thiên Chúa.

b. Tiên tri có trách nhiệm vạch mặt tố cáo sự gian ác và phải kêu gọi người gian ác trở về nẻo chính đường ngay. Chính Thiên Chúa đặt các tiên tri là lính canh của Chúa. Nếu không chịu thi hành trách nhiệm giúp người gian ác trở về, tiên tri cũng bị đoán phạt.

c. Trách nhiệm phải thi hành nhưng nếu đã kiên trì và làm hết khả năng mà người tội lỗi không hoán cải thì chính họ sẽ phải chịu trách nhiệm về đời sống luân lý của họ.

2. Bài đọc II: Rm 13,8-10

Yêu mến là chu toàn lề luật

Trong đoạn thư này, Thánh Phaolô nhấn mạnh đến những đòi hỏi của tình bác ái huynh đệ. Vì tình yêu với nhau mà chúng ta sẽ không vi phạm các điều răn. Đây chính là qui luật của đời sống cộng đoàn.

a. Yêu thương là món nợ mà mọi người nợ nhau. Chỉ cần yêu thương là đủ để chu toàn lề luật, vì lề luật không nhằm một mục đích nào khác ngoài việc yêu thương.

b. Đức ái bao gồm tất cả các điều răn khác vì các điều răn khác nhằm mục đích không cho hại người, còn đức ái thì chỉ muốn làm điều lành cho con người.

c. Cũng như Chúa Giêsu, Thánh Phaolô tóm kết mọi điều răn của Cựu ước vào một giới răn duy nhất là yêu thương.

3. Tin mừng: Mt 18,15-20{

Việc sửa lỗi trong tình huynh đệ

và sự hiệp thông trong cầu nguyện

Trong bản văn này, Thánh Matthêu liên kết những qui tắc khác nhau do chính Chúa Giêsu ban bố. Các qui tắc này nhấn mạnh đến các mối tương quan phải có giữa những thành viên trong Giáo hội. Cá nhân có sự liên kết chặt chẽ với cộng đoàn. Tội lỗi cá nhân có sự liên kết mật thiết với đời sống cộng đoàn, cộng đoàn có trách nhiệm giúp cá nhân sửa lỗi, hoán cải. Bản văn này cũng nêu bật lên hình ảnh rất đẹp, rất sâu xa về Giáo hội. Giáo hội hiện hữu và hiệp nhất khi cùng tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, khi cùng cầu nguyện. Chính khi ấy, Người sẽ hiện diện.

a. Trong đoạn văn này, Chúa Giêsu dùng từ ngữ "anh em". Cũng như từ ngữ "kẻ nhỏ" hay "kẻ nghèo", từ này cần được hiểu theo hai nghĩa. Nó không chỉ nói đến tình anh em huyết thống mà còn nhấn mạnh đến các tương quan của những phần tử trong cùng một cộng đoàn thiêng liêng; mối quan hệ đặt trên cơ sở mối liên hệ siêu nhiên Chúa Giêsu thiết lập để qui tụ mọi người trở nên thành viên trong gia đình Thiên Chúa. Từ ngữ này trở thành danh xưng thông dụng trong Giáo hội. Mọi người trở nên con cái Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô, và đích thực là anh chị em của nhau.

b. Vì là anh em của nhau cho nên việc sửa lỗi cho nhau là trách nhiệm, là tình yêu dành cho nhau. Sửa lỗi trong sự tế nhị, kiên nhẫn từng bước chứ không phải để lên án công kích nhau. Nhắc nhở nhau trong đức ái nhằm giúp anh em mình hoàn thiện, khắc phục điều sai, điều xấu.

c. Tình huynh đệ liên đới với nhau trong lời cầu nguyện là điều kiện để được Chúa Cha nhạn lời cầu khẩn, được Chúa Giêsu hiện diện. Chính sự hiện diện của Chúa Giêsu bảo đảm mọi lời cầu nguyện sẽ được chấp nhận. Trong sự hiẹn diện của Người, sự phán quyết của cộng đoàn về lỗi lầm của anh em mới có sức mạnh thần linh.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG:

1. Sửa lỗi cho nhau trong đức ái: Trong chương 18 này, Thánh sử Matthêu đã tập hợp những giáo huấn của Chúa Giêsu về đời sống cộng đoàn. Mọi người trong cộng đoàn Chúa Giêsu thiết lập đều là anh em của nhau, được liên kết bằng chính tình yêu của Chúa Giêsu; vì thế, mọi người có trách nhiệm với nhau. Khi thấy anh em mình có lỗi phải biết khuyên bảo họ từ bỏ con đường xấu, sai lầm để đi vào con đường sống tốt. Việc sửa lỗi cho anh chị em là một con đường tiệm tiến, đòi phải kiên nhẫn, trên hết cần phải có tình yêu thương dành cho nhau. Nhờ yêu thương mới có ý muốn sửa lỗi để anh em tốt hơn. Nếu không yêu thương chỉ là lên án, tố cáo nhau. Trong tình yêu thương việc sửa lỗi là giúp nhau nhận ra khuyết điểm chứ không nhằm hạ nhục nhau. Sau khi đã tôn trọng, hết lòng giúp đỡ mà đối tượng vẫn không bỏ con đường xấu, chính đương sự tự loại mình ra khỏi cộng đoàn.

Sửa lỗi, góp ý giúp nhau tiến bộ, giúp nhau sống tốt trong cộng đoàn là một việc hết sức tế nhị. Nếu thực hiện trong đức ái sẽ mang lại kết quả tốt đẹp cho cá nhân và cộng đoàn, còn nếu không có tình yêu thì sẽ dẫn tới hậu quả tai hại của sự chia rẽ. Sửa lỗi nhau là một bổn phận vì đức ái, cần phải thực hiện việc này cách trung thực trong cầu nguyện và trong Chúa Giêsu vì chính Người đến để nối kết mọi người.

2. Trong Giáo hội mọi người liên đới có trách nhiệm với lỗi lầm của nhau:

Nếu anh em ngươi lỗi phạm hãy đi sửa dạy nó. Lời Chúa Giêsu nhấn mạnh đến thái độ trách nhiệm phải có đối với sai lỗi của anh em. Anh em trong cộng đoàn không phải là người xa lạ để rồi bản thân có lối sống thờ ơ bàng quan trước lỗi lầm của anh chị em chung quanh. Khi yêu ai đâu có thể dửng dưng để người ấy lún sâu vào đời sống tội lỗi, lầm lạc; nhưng trái lại, tìm mọi cách để cảnh tỉnh, khuyến cáo, nâng đỡ, động viên thức tỉnh người anh em ấy. Chính Chúa Giêsu trước khi đưa ra lời giáo huấn này, Người đã thực hiện khi đến để kêu gọi những người tội lỗi ăn năn hối cải. Do đó, trong Giáo hội của Chúa Giêsu mọi người phải có trách nhiệm đối với sai lỗi của nhau. Chúa Giêsu đến cứu độ vì yêu, vì không muốn ai phải hư mất cho nên, Kitô hữu trong Giáo hội cũng phải có tâm tình ấy: không muốn để anh em mình hư mất, phải cứu lấy họ, phải đưa họ ra khỏi vòng tội lỗi. Nếu người ấy nghe lời thì lợi được một anh em.

Đáp lời Chúa Giêsu trong Tin mừng, mỗi người Kitô hữu hôm nay cần phải coi lại chính thái độ của mình đối với lỗi lầm của anh em. Tâm lý thường tình, ai có lỗi người ấy phải chịu, hoặc là bản thân không quan tâm hoặc là nếu có quan tâm thì chỉ để lên án hơn là cảm thông; chỉ là loại trừ hơn là tha thứ; chỉ là hạ nhục hơn là yêu thương. Đấy không phải là thái độ của Kitô hữu trong Giáo hội của Chúa.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu kêu gọi: nếu ở dưới đất có hai người hợp lại cầu xin thì xin gì Chúa Cha cũng ban. Trong niềm tin tưởng, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội là nơi đón nhận và giao hòa tội nhân với Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn hiệp nhất yêu thương và biết nỗ lực can đảm chống lại cái sai, các ác đang phát triển trong xã hội bằng nỗ lực loan báo Tin mừng và xây dựng nếp sống lành mạnh cho thế giới.

2. Tội lỗi phải lên án nhưng tội nhân cần được cảm thông và tha thứ. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em lầm đường lạc lối trong đời sống luân lý, những thanh niên bạn trẻ đang sa đà trong tệ nạn xã hội biết từ bỏ con đường sai trái để quay trở về nẻo chính đường ngay.

3. Nếu anh em ngươi lỗi phạm hãy đi sửa dạy nó. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn có tấm lòng quảng đại tha thứ cho nhau, mạnh dạn giúp nhau sửa chữa khuyết điểm lỗi lầm của mình.

Lời kết: Lạy Chúa là Đấng Giàu lòng thương xót. Chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương giải thoát chúng con khỏi vòng nô lệ tội lỗi. Xin giúp chúng con biết sống chan hòa cảm thông và hiệp nhất. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 
Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn