Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXIII Thường Niên B

Tin Mừng Mc 7:31-37: Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng việc chữa lành cho một người vừa câm vừa điếc để tỏ bầy cho chúng ta hiểu rằng cần phải có ơn Chúa soi sáng mở lòng mở trí chúng ta mới có thể nghe, hiểu về Chúa và tôn vinh danh Chúa được .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 23 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B


Mc 7, 31 - 37 

 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

CHỮA LÀNH MỘT NGUỜI NGỌNG ĐIẾC

(Mc 7,31-37)


CÂU HỎI GỢI Ý
 

1. Tại sao Mc mô tả tỉ mỉ cử chỉ của Chúa Giêsu? Vì nó đã thực sự được làm như vậy hay vì một lý do nào khác nữa? Ta có thể đếm được bao nhiêu yếu tố trong cử chỉ này?

2. Lời tung hô của dân chúng (c.37) khiếu ta liên tưởng đến câu nào trong Cựu ước? Việc đối chiếu hai câu sẽ làm nổi bật ý nghĩa chi ?

3. Tại sao Chúa Giêsu cấm loan truyền phép lạ (c.36). Lệnh cấm này còn xuất hiện chỗ nào nĩa trong Mc?

4. Đối với Mc, việc chữa lành người ngọng điếc có ý nghĩa biểu tuợng nào (xen văn mạch câu chuyện)?

5. Các địa danh đầu trình thuật (c.31) phải chăng có tính cách thuần túy lịch sử?

Ai muốn rút từ trình thuật này một lợi ích tức thời nào đó sẽ thất vọng. Ngoại trừ vài địa danh bắt buộc phải tra cứu bản dỗ (c.31), không một từ ngữ khó khăn nào ngắt quãng lần đọc đầu tiên và ta dễ dàng theo dõi diễn tiến của quanh cảnh. Ngỡ đã hiểu, độc giả vẫn có một cảm tưởng lạ lùng. Kẻ tàn tật vô danh này, được đem đến cùng Chúa Giêsu bởi ai chấp nhận cách thụ động những gì Chúa Giêsu làm cho anh cách chăm chú, như thể các cử chỉ và công thức bằng tiếng Aram của Người đáng kể hơn là việc tiếp xúc với bản thân anh. Không đối thoại, không một chi tiết về lầm quan trọng của đức tin. Vai trò gán cho nước miếng xem ra lạ lùng. Và tại sao phải hành động cách bí mật, xa dân chúng (c.33) ? Tại sao đòi hỏi một sự thinh lặng không thể giữ nổi (cc.36-37) ?

Chẳng có gì lạ khi một trình thuật như thế ít được biết đến và bị giáo lý bỏ qua. Mt và Lc cũng đã không biết nó. Việc đọc nó trong phụng vụ gây lúng túng cho người giảng lẫn kẻ nghe. Để rút ra một chủ dề xây dựng, có lẽ người ta sẽ chú mục vào cái nhìn lên trời của Chúa Giêsu và tiếng thở ra của người: Chúa Giêsu cầu nguyện; người có lòng thương xót ? Hay là ý nghĩa cuối cùng của khán thính giả (c.31) sẽ được dùng như một đường sân bay từ đó xuất phát một vài suy tư về sự câm và điếc của lắm Kitô hữu...

Khi một bản văn Tin Mừng cưỡng lại sự lý hội như thế thì không nên vội vã lấp đầy 19 thế kỷ phân cách nói với độc giả hiện nay. Ngược lại, chấp nhận khoảng cách này và đặt bản văn vào trong thời đại của nó, là tự cho mình phương tiện để khám phá ra giá trị của nó cho hôm nay. Và vì chỉ duy Mátcô ghi lại trình thuật, nên cần phải xem nó trong toàn bộ mà nó là thành phần, tức cuốn Tin mừng lạ lùng thứ hai.

Mátcô và truyền thống. 

Chắc hẳn Mátcô không phải là kẻ đầu tiên kể lại việc chữa lành người ngọng điếc. Để viết nó, ông đã dùng một khuôn mẫu khá cổ điển, mà người Do thái cũng như Hy lạp đều biết rõ: thường thường một trình thuật chữa lành cho thấy người bệnh được đặt trong tương quan ra sao vài vị thần thông (c 32), việc trị liệu diễn tiến như thế nào (cc.33-34) và đâu là kết quả (c.35) mà cử tọa nhận thấy hay hơn nữa, truyền miệng đi (c 37). Ở đây, có thêm một yếu tố so vai thông thường: mệnh lệnh giữ im sau phép lạ (c.36). Đó là một nét đặc biệt của Mátcô (1,44; 5,43; 8,26) mà ta sẽ phải cân nhắc tầm mức, ý nghĩa. Sự chú ý đến chi tiết của cử chỉ Chúa Giêsu (cc.33- 34) thật đáng ngạc nhiên trong một trình thuật chữa bệnh của Tin Mừng. Thường thường người chỉ cần một lời nói kèm theo một cử chỉ của bàn tay. Thế mà người ta nhận thấy các trình thuật Hy lạp về việc chữa lành thường chú trọng nhiều đến kỹ thuật trị liệu: những chuyện như tránh những cái nhìn tọc mạch, mằn chỗ bị đau, dùng nước miếng, nhìn lên trời thở ra thật dài, nói tiếng lạ đều có trong những trình thuật ấy và phản ảnh cách thực hành của các ông lang cũng như phản ảnh những quy ước của một loại văn thể (xem K.Tagawa, Miracles et Evangilo, Paris, 1966, tr. 162-164; A. Duprez, Guélisons paionnes et guérlsons évangéliques. trong Foi et vie cahicrs Bibliques 9), 1970, tr. 3-22)

Một khi đã biết thế, thì không nên ngạc nhiên về cách thức mô tả Chúa Giêsu phù hợp với các thói quen của một môi trường hay của một thời đại, nhưng nên ngạc nhiên vì cách thức ấy chỉ được ghi lại trong Tin Mừng bởi hai trình thuật, và cả hai đều là của một mình Mc: chữa một kẻ ngọng điếc và chữa một người mù (8,23-25). Vấn đề vai trò của chúng trong tác phẩm Mátcô được đặt ra như thế. Vấn đề này còn xuất hiện trong sự tương phản giữa những xác định địa lý của câu 31 và việc không nói đến nơi chốn xảy ra quang cảnh trong trình thuật mà các xác định trên mở đầu cho. Câu 31 ấy rõ ràng dùng để đưa vào trong văn mạch (x. 7,24) một truyền thống không có điểm móc nối vị trí. Nhận xét này cho phép ta phân biệt chính trình thuật và vai trò được gán cho nó trong kết cấu của Mátcô.

Thành thử có thể có hai cách đọc bản văn. Một là theo một khuôn mẫu ký thuật quen biết và cảm thấy ở đây tiếng dội của một trình thuật cổ truyền. Cách thứ hai là cố gắng hiểu truyền thống này dưới ánh sáng của Tin Mừng thứ hai.

I. MỘT TRÌNH THUẬT CHỮA LÀNH CÓ TÍNH CÁCH THIÊN SAI

Sự quân bình giữa các yếu tố trong trình thuật làm nổi bật hành động của Chúa Giêsu (cc. 33-34) và tầm mức của hành động đó, tầm nhức được tán dương trong câu cuối cùng bởi một lời tung hô có thể văn ca vãn (c.37). Con người kẻ tàn tật tính cách và số lượng những kẻ đem anh ta đến cùng Chúa Giêsu (c.32) không đáng quan tâm.

1. Việc trị liệu (cc. 33-34)

Cách hành động của Chúa Giêsu phù hợp với các thói quen đương thời. Chân dung ông lang của Người có thể làm ta khó chịu, nhưng đối với những kẻ thuật chuyện thì không: họ quán triệt ý nghĩa của cách thực hành đó. Những cuộc can thiệp từ trên thường được hoàn thành trong bí mật, xa cách mắt trần: Chúa Giêsu đưa người ngọng điếc tách khỏi đám đông trước khi hoàn thành một hành động bí nhiệm (x. 1V 17,19; 2V 4,4.33; 9,5-6; Mc 5,37-40; 8,23. Nét này được chứng thực trong sách Talmud, tiểu sử Ephrem người Syri và nhiều trình thuật bình dân khác). Người đụng đến các cơ quan bị bệnh, không phải vì chẳng có thể làm một cách khác để tỏ cho một kẻ điếc biết ý muốn chữa bệnh của Người (Người cũng sắp nói với anh nhưng vì những đụng chạm này vẫn thường được xem như là khởi đầu cho việc chữa trị. Người đặt ngón tay vào hai tai bệnh nhân, như để mở chúng. Người xức nước miếng trên lưỡi "bị cột" của anh (x. c.35. "dây cột lưỡi"). Nước miếng là y dược bình dân, nhưng ở đây chất chứa một năng lực đặc biệt (theo nhiều chứng bản cổ xưa. Chúa Giêsu đã thấm nước miếng vào tay trước khi sờ tai kẻ điếc. Về vấn đề dùng nước miếng, xem 8,23; Ga 9-6. Tacite kể rằng hoàng đế Vespasien đã có chữa lành một kẻ mù bằng cách xức nước miếng vào ổ mắt y. Xem A. Duprez, bài báo đã dẫn, tr.13-14).

Hành động tiến tới với cái nhìn lên trời. Cái nhìn này có thể hiểu như một cử chỉ cầu nguyện van lơn (x. Tv 121,1; 123,1; Lc 18,13; Ga 17,1; Cv 7,55; Philon, Vie de moi se, 1,190; Billerbeck, Kemmontar zum N.T. 11, 246); trong một trình thuật phép lạ, nó chỉ nguồn gốc từ đó Chúa Giêsu chờ đợi và lấy được quyền năng của mình (x. Mc 6,41 ss; Ga 11,41). Trước một phép lạ, có một giáo sĩ cũng làm một cử chỉ tương tự thế: Berakhoth 34b). Tiếng thở ra không diễn tả một cảm tình xót thương nào đó đối với tội nhân, nhưng biểu lộ một cử chỉ thiết tha kêu cầu mãnh lực thần linh, với ý thức rằng có một sức chống đối mạnh mẽ cần phải lướt thắng (So sánh Mc 8, 12; Rm 8,22-27; 2cr 5,2-4). Đoạn Chúa Giêsu thốt lên một lời quyết định: "Hãy mở ra". Lời dược trích dẫn bằng Aram ngữ, như bao lời quan trọng khác của Chúa Giêsu (14,36); nhưng trong một trình thuật phép lạ bằng tiếng Hy lạp, nét này không phải là không gợi lên các công thức huyền bí của những ông lang mà người kể muốn đem Chúa Giêsu so sánh hay đối chọi với (x 5,41). Lời nói hiệu nghiệm ngay: tai kẻ điếc mở ra; dây buộc lưỡi y được tháo gỡ. Con người khép kín trong chính mình giờ dây có thể thông đạt.

2. Phản ứng của cử tọa (c.37).

Đám đông ngạc nhiên. Nét này, thường có trong phần cuối của một trình thuật phép lạ, bổ túc tất cả những gì đã gợi lên cho thính giả hay độc giả thấy tư cách thần linh của con người Chúa Giêsu. Nỗi ngạc nhiên được gây ra bởi cái lạ lùng, và cái lạ lùng này báo hiệu hành động của Thiên Chúa mà quyền lực đang tỏ lộ trong Chúa Giêsu. Trình thuật lưu tâm đến bản thân cũng như các cữ chỉ của Người.

Lời tung hô của đám đông nới rộng tầm mức của sự kiện được kể bằng cách tán dương sự thành tựu và trường tồn của công việc Chúa Giêsu: "Người đã làm mọi sự cách hoàn hảo: Người làm cho kẻ điếc được nghe và kẻ câm được nói". Nhờ thể ca vãn này (động từ ở thì toàn khứ, điệp vận), câu văn mặc một dáng vẻ phụng vụ. Và vì gợi nhớ một bản văn tiên tri của Isaia, nên nó xem ra là âm vang của lời suy niệm và tụng ca của một cộng đoàn tín hữu nào đó vốn thường nhắc lại những chiến thắng của Chúa Giêsu.

Bản văn đó của Isaia đã được chọn làm bài đọc thứ nhất trong Chúa nhật này. Nhưng trình thuật của Mátcô cho thấy rằng người ta đã đọc nó theo bản dịch Hy lạp 70, hơi khác với bản văn Hy bá:

Hãy vững mạnh, hỡi những bàn tay suy yếu và đầu gối lảo đảo,

Hãy can đảm lên, hỡi người lòng hoảng hốt.

hãy vững mạnh, đừng sợ !

Này đây "Thiên Chúa các người đến thực thi công lý ;

Ngài sắp đến cứu thoát các người.

Bấy giờ mắt người mù sẽ mở

Và tai kẻ điếc sẽ được nghe.

Bấy giờ người què sẽ nhảy như nai,

Và lưỡi của người ngọng sẽ nói rành rọt (35,3-6).

(Trình thuật của Mc rõ ràng là tham chiếu bản văn này bởi vì trong Mc, người ngọng điếc được gọi bằng một tiếng Hy lạp (mogilales) mà trong toàn bộ Kinh thánh, chỉ gặp ở đây và nơi bản văn trích dẫn Isaia).

Lời tiên tri này của Isaia (cũng xin coi 29, 18; 32,3-4) rất quen thuộc với các Kitô hữu đầu tiên. Nó đã tiềm ẩn trong câu Chúa Giêsu trả lời cho những kẻ Gioan Tẩy giả sai đến, theo truyền thống cổ xưa được Mt 11,4-5 và Lc 7,22 giữ lại: " Hãy đi thuật lại cùng Gioan mọi điều các ông nghe và thấy: người mù sáng mắt, kẻ què được đi ... người điếc được khỏi''. Việc liên kết người mù và điếc có lẽ giải nghĩa sự song song lạ lùng về từ ngữ và cơ cấu giữa hai trình thuật chữa lành người ngọng điếc và người mù ở Tetsaiđa Mc 8,22-26. Giáo lý sơ khai nhận ra trong các phép lạ của Chúa Giêsu những dấu chỉ về sự hoàn tất các lời hứa. Quyền lực thần linh biểu lộ nơi Chúa Giêsu không những làm cho Người được thừa nhận như kẻ có lắm quyền năng đặc biệt (x. Cv 2,22) mà còn báo hiệu giờ Thiên Chúa giữ lời và đến, giờ tin tưởng và can đảm. Đấng sắp đến đã đến rồi. Và công cuộc của Chúa Giêsu đã phác họa cuộc tân sáng tạo.

Đó là điều được ngụ ý qua lời dân chúng tung hô: "Người đã làm mọi sự cách hoàn hảo". Những lời này làm ta liên tưởng đến sách Sáng thế. Các công việc của Chúa Giêsu đáng khen ngợi như công việc của Thiên Chúa khi tạo dựng lần thứ nhất: "Mọi sự Ngài đã làm, Thiên Chúa thấy đều rất tốt đẹp (St 1 ,31 ; x. Lc 39, 16). Trời mới đất mới được khai mào qua việc phục hồi con người trong toàn vẹn tính mà Thiên Chúa đã muốn cho nó ngay từ khởi nguyên.

II. MỘT DẤU CHỈ CỦA VIỆC CHỮA LÀNH CÁC MÔN ĐỒ.

Dưới ánh sáng của Tin Mừng thứ hai và của những mối quan tâm biểu lộ nó ra trong đó, ta có thể đọc bản văn một cách khác nữa, và lần này chú ý hơn đến một vài chi tiết đã bỏ qua trong lần đọc trước. Sau phép lạ, Chúa Giêsu yêu cầu giữ thinh lặng nhưng không thành công (c. 36). Nét này trở lại chỗ khác trong Mátcô và cho ta phát hiện ra là có một sự tài giải thích dữ kiện truyền thống theo diễn tiến việc mặc khải mầu nhiệm Chúa Giêsu như thánh sử truyền lại. Cũng thế, vị trí dành cho trình-thuật này trong diễn tiến của hoạt động Chúa Giêsu có giá trị chú giải: hai cuộc chữa lành một người ngọng điếc và một anh mù xảy ra vào lúc Chúa Giêsu vấp phải sự đần độn của các môn đồ và tăng cường tiếp xúc với lương dân.

1. Chúa Giêsu, Đấng Messia mai ẩn.

a-.Việc ngăn cấm loan truyền phép lạ xảy đến trong vụ người phung hủi (1,44), con gái Giairô (5-3), người ngọng điếc (7,36) và anh mù thành Betsaiđa (8,20). Hai lần (1 và 3), mệnh lệnh không được tôn trọng và đúng hơn càng làm Chúa Giêsu được nổi tiếng: bí mật Người yêu cầu không tuân giữ được trong trường hợp hai và trốn, Mc chẳng quan tâm nói rõ mệnh lệnh có được tuân giữ hay không. Hình như ông vừa muốn minh giải danh tiếng của Chúa Giêsu, danh tiếng có được nhờ các phép lạ (1 ,31-33; 3,7-12; 6,53-56; 9. 15 ; 10,46) vừa muốn ghi nhận, trong bốn bận, ý muốn dấu phép lạ của Người. Tại sao chỉ bốn lần thôi ?.

Chắc hẳn, trước tiên phải để ý đến vài đặc điểm của bốn trình thuật như Mc dã tìm thấy trong truyền thống. Lệnh ban ra cho người phong hủi là không được nói gì với ai không trước hết hãy đi xin tư tế xác nhận cách chính thức rằng mình đã lành, chắc hẳn không có nghĩa là người muốn giữ bí mật. Còn cách thức Chúa Giêsu giải tán hay là xa tránh đám đông trong ba trường hợp kia thì rõ ràng nói lên tính chất thần linh của điều vừa xảy tới, chứ không phải là dấu nhẹm.

Ta biết Mc đã hiểu và viết các trình thuật nói trên dưới ánh sáng mầu nhiệm Chúa Giêsu như Tin mừng sau Phục sinh: (1,1) rao giảng. Ngay từ cuộc đời trần thế của Người, Chúa Giêsu đã là Đấng Messia, Con Thiên Chúa. Nhưng điều này đã không thể và không được phép tiết lộ. Nếu tiết lộ, Người đã chẳng hoàn tất được công cuộc của Người cho đến thập giá. Và không thập giá thì lai lịch của Người đã chẳng được nhận biết cách xác thực. Vì thế tại sao Người bắt buộc giữ im lặng về các tước hiệu của Người (1.24.34; 3,11; 8,30; 9,7.9) cho đến cuộc khổ nạn và phục sinh (9,9; 14,61-62; 15,39). Sở dĩ Người đòi hỏi giữ kín bốn phép lạ, thì phải kết luận là vì, theo Mátcô, chúng có thể hé mở cho ta biết thân thế của Người. Thật vậy, chúng được liệt vào số "các kỳ công của Đấng Messia" trong Mt 11,5 (x. c.2): "người mù được thay ... người phung được sạch, người điếc được nghe, người chết sống lại. Và nếu lệnh giữ im lặng không được tôn trọng, thì cần chú ý rằng bí mật về con người Chúa Giêsu cũng không vì thế mà bị khám phá.

Tính cách công khai và bí mật của Chúa Giêsu đối nghịch nhau trong Tin Mừng Mátcô nhưng không hoàn toàn nhắm cùng một đối tượng. Chúa Giêsu phải dùng lời để loan báo Vương quốc Thiên Chúa gần đến (1,15) và vương quốc Satan đã bị phá hủy (1,12-13.23-27.34; 3, 11.22-27) những mầu nhiệm Vương quốc Thiên Chúa vẫn được giữ bí mật (4,10-11). Nhờ sức mạnh của giáo huấn và hành vi Người, Chúa Giêsu khuấy động quần chúng, nhưng lai lịch chính xác của Người không thể được mặc khải trước thời gian. Cuộc đời công khai của Người là cuộc đời ẩn dật của Con Thiên Chúa giữa nhân loại. Ngược lại, vinh quang ẩn dấu của Đấng chịu đóng-đinh-phục-sinh phải được Tin Mừng công bố cho mọi dân. "Không có gì bí ẩn mà lại không được phơi bày, và không có gì dấu kín mà không đến lúc bị lộ liễu" (4,25). Lời tuyên phán này liên quan đến mầu nhiệm vương quốc Thiên Chúa. Nó cũng có giá trị đối vơi mầu nhiệm Chúa Giêsu. Và một cách nghịch lý, đối với Mátcô cũng như Phaolô, chính thập giá vén màn bí mật về sự khôn ngoan của Thiên Chúa là lai lịch của con Ngài (Mc 8,33; 15,39; 1Cr 1,24-25; 2.7-8). b. Việc chữa lành người ngọng điếc đánh dấu một giai đoạn tiến đến mặc khải đó. Thường sau mỗi phép lạ, nỗi kinh ngạc của những người dự kiến đôi khi được tỏ bày trong một câu hỏi: "Thế nghĩa là gì'?" (1,27) hay cách đối nhân hơn (chính các môn đồ hỏi nhau): "ông này là ai vậy?,, (4,41). Hôm nay là lần đầu tiên trong Mátcô, một câu trả lời được phát biểu ở thể khẳng quyết: "Người đã làm mọi sự cách hoàn hảo". Nhưng đây còn là vấn đề công việc Chúa Giêsu, chứ chưa phải lai lịch Người. Sau cuộc chữa lành người mù Betsaiđa, câu trả lời đầu tiên về bản thân của Người mới được Phêrô đại diện các môn đồ phát biểu: "Ngài là Đấng Messia" (8,29). Nhưng câu trả lời này sẽ phải được giữ bí mật cho đến khi Con người hoàn thành ý định của Thiên Chúa qua cái chết và phục sinh (8,30-31). Chính Đấng chịu đóng đinh mới được đức tin Kitô giáo nhìn nhận như là Con Thiên Chúa. Theo Mátcô, cần phải ghi nhớ điều này khi con người của Người được hé lộ qua các công việc Người thực hiện. Người ta chỉ biết Chúa Giêsu lúc theo Người trên đường thập giá (8,31-38; 9,30-32; 10,32-34; 10,47-48.52).

2. Chúa Giêsu không được các môn đồ hiểu

Việc chữa lành người ngọng điếc xảy ra trong một chuỗi giai thoại có liên hệ với nhau cách quá chặt chẽ đến nỗi khó bảo là ngẫu nhiên. Xa hơn chút nữa, việc chữa lành người mù được kể với nhiều thành ngữ tương tự, theo một khuôn khổ ký thuật tương đương và cũng quy chiếu về lời tiên tri của Isaia ngôn sứ. Nó đi trước việc các môn đồ nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Messia, như phép lạ chữa người ngọng điếc đi trước việc người ta phải nhận ra các thời triệu cứu rỗi. Lại nữa, hai phép lạ này còn kết thúc hai chuỗi song song trong đó một phép lạ hóa bánh nuôi dân chúng (6,30-44; 8,1-9), một chuyến vượt hồ (6,45-53; 8,10), một cuộc tranh biện với địch thủ (7,1-15; 8,11-13) một cuộc thảo luận với các môn đồ (7,17-22; 8,14-21) liên kết với nhau.

Suốt chuỗi dài giai thoại vừa nói ấy, mầu nhiệm Chúa Giêsu vừa được mặc khải vừa. bị dấu che, trong lúc sự ngu đần của các môn đồ ngày càng dày đặc (6,12; 7,18; 8,17-21). Họ phải hứng chịu lời quở trách trước đây dành cho Biệt phái và những "kẻ ở ngoài": các ngươi cứ giữ lòng trí chai đá mãi sao ? Các ngươi có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe sao ? (8, 17- 18; x. 3,1; 4. 11-12). Họ nhiễm phải chứng mà theo Isaia (6,9-10), Giêrêmia (5.21 ) và Edêkien (12,2) đã từng tàn phá dân được chọn, chứng mà Israel phải được chữa lành khi Thiên Chúa của họ đến (Is 29, 18; 32,3-4; 36,5-6; 42,7. 16. 18 19; 43,8).

Trong văn mạch của sách Isaia, những kẻ điếc, mù, ngọng là hình ảnh của một dân tộc không nghe hoặc không hiểu lời Thiên Chúa, không thấy các dấu chỉ của quyền năng Ngài, chỉ nói về Ngài với nhường lời lệch lạc (32,2-6). Theo Mátcô, các môn đồ của Chúa Giêsu là như thế. Trong truyền thống các phép lạ, những hình ảnh của Isaia đã được biến đổi thành những dấu chỉ thực sự của ơn cứu rỗi thiên sai. Không đánh mất thực tại tính của mình, những dấu chỉ này gặp lại trong Mc ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh tiên tri. Như đã chữa lành kẻ mù lòa và người ngọng điếc, Chúa Giêsu cũng muốn và có thể mở tai, tháo lui, làm sáng mắt cho các môn đồ. Cách thức các trình thuật trình bày tỉ mỉ cử chỉ của Chúa Giêsu trên các cơ quan đau yếu, tương ứng với những lời Người không ngừng tố cáo sự đần độn của các ông. Cái mà, trong những truyền thống được sử dụng, biểu lộ một sự quan tâm đến việc chữa trị lạ lùng, thì nơi Mc lại mang một ý nghĩa thứ tai, một ý nghĩa tượng trưng: để nghe, thấy và hiểu Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, con ngươi cần được chữa lành, mở mắt, soi sáng.

Việc chữa lành người mù ở Betsaiđa "qua hai giai đoạn" tượng trưng cho các giai đoạn đức tin của các môn đồ. Lời tuyên xưng về Đấng Thiên sai của Phêrô chỉ là một trong những giai đoạn đó: nó đòi hỏi một giáo huấn mới của Chúa Giêsu về sự đau khổ của Con Người, và mặc khải này lại gặp phải sự đần độn của các môn đồ một lần nữa. Trước khi vào Giêrusalem để chịu tử nạn, một người mù khác, Bartimê, được Chúa Giêsu chữa khỏi, đã bắt đầu theo Người (10,52) và như thế phác họa nên kiểu mẫu môn đồ mà Chúa Giêsu mời gọi đi theo (8,33.34).

Trong kết cấu của Mc, việc chữa lành người ngọng điếc, đối xứng với việc chữa lành người mù thành Betsaiđa, có cùng ý nghĩa biểu tượng. Theo ngữ vựng Thánh Kinh, tâm hồn hiểu biết có thể được liên kết với tai cũng như với mắt (Đnl 29,3; Is 6,9-10; Gr 5,21; 7,24). Tai là con đường tiếp nhận mặc khải, như mắt là con đường tiếp nhận kiến thức. Vì khép kín trước lời Thiên Chúa, tai cũng như tâm hồn được gọi, theo kiểu nói của Giêrêmia (6,10; 9,25), là không cắt bì. Ngược lại, Thiên Chúa có thể ban cho con người một tâm hồn và đôi tai biết nghe" (Br 2,31), hay đơn giản hơn: "một tâm hồn biết nghe" (Lv 3,9). "Ngài đã mở tai tôi" là lời thưa cùng Thiên Chúa của con người đã quán triệt ý Thiên Chúa (Tv 40,7-9). Ngược với Israel, tai của Người Tôi tớ Giavê đã được mở: "Và tôi, tôi đã không hề phản nghịch" (Is 50,5; x.48,8). Giáo lý của Mc rõ ràng quy hướng việc chữa lành người ngọng điếc theo nghĩa đó và gọi Chúa Giêsu là Đấng mang mặc khải Thần linh, có khả năng mở lòng các tín hữu.

Trong phép lạ, tai mở ra trước khi lưỡi được gỡ nút: "Và ông ta nói được thành rọt". Mátcô không chỉ lưu tâm đến sự phát sinh đức tin trong tâm hồn các môn đồ, nhưng còn đến cách phát biểu đúng của nó nữa. Có nhiều cách nói Chúa Giêsu là ai (6,14-16; 8,27-30); cách nói tiên trưng lời tuyên xưng đức tin Kitô hữu biểu lộ lần đầu tiên dưới chân thập giá (15,59; x. 1,1). Cho đến khi ấy, dù tới gần, các môn đồ cũng không đạt tới đức tin được (4,40-41 ; 6,48-52; 8,29-30). Làm sao họ có thể đạt tới đức tin với một tâm hồn khép kín, vì "tâm hồn ứa đầy những gì, thì miệng mới nói ra" (Lc 6,45).

Người hãy bảo chúng: Đây là một dân tộc

không nghe tiếng Giavê, Thiên Chúa chúng thờ

và không lĩnh lời chỉ giáo:

tín thành đã tiệt, đã biến hẳn nơi miệng chúng (Gr 7,28)

Phải đi tìm kiểu mẫu của môn đồ trong Người Tôi tớ mà Giavê làm cho có khả năng nghe và nói được:

Đức Chúa Giavê đã cho tôi lưỡi của môn đồ...

Ngài lay tỉnh khiến lời nên hoạt bát

Sáng sáng Ngài lay tỉnh tai tôi.

để tôi biết nghe như nhũng môn đồ (Is 50,4)

Lời của các môn đồ bị trói buộc bao lâu tai họ không mở ra. Trong phép lạ chữa lành kẻ ngọng điếc, người Kitô hữu có thể nhận ra kinh nghiệm của mình nếu, suốt giai đoạn khai tâm của mình vốn không bao giờ chấm dứt ở trần gian, lời của Chúa Kitô đã đạt tới mình trong chốn thâm sâu nhất. Việc chăm chỉ lắng nghe đưa đến việc quán triệt dần đần mầu nhiệm Chúa Giêsu để rồi có thể công bố. Nên không lạ gì khi vụ khai tâm Kitô giáo đã cảm hứng nhiều từ các trình thuật cửa Mátcô: việc sờ vào ngũ quan, việc dùng nước miếng, câu nói "Ephêta" đã giữ lại trong nghi thức rửa tội cổ xưa cái ý nghĩa mà Mc đã nhận thấy nơi chúng rồi.. Ai bước theo Chúa Giêsu đều biết rằng mình đã được Người giải thoát khỏi cái giam giữ mình trong sự hiểu biết hạn hẹp về cuộc sống (8,33) và rằng lưỡi mình đã được tháo cởi bằng một lời nói chắc chắn hơn mọi cam kết của con người.

3. Việc vượt qua các biên giới

Theo Mátcô, khi dẫn dắt các môn đồ tiến đến chỗ quán triệt hoàn toàn lai lịch của mình là Chúa Giêsu chuẩn bị cho họ thành sứ giả mang Tin mừng đến với mọi dân tộc (13,10; 14,9). Loạt bản văn trong đó có câu chuyện chữa lành người ngọng điếc bắt đầu với việc ra đi truyền giáo của nhóm Mười hai (6,7), và việc trở về của các "sứ đồ" (6,30) khai mào loạt giai thoại cho thấy sư đần độn của họ trước các hành vi và lời Chúa Giêsu nói. Thế mà các giai thoại này kế tiếp nhau trong nhiều cuộc di chuyển, trước tiên từ bờ này sang bờ kia của "biển Galilê" (6,30-7,23), rồi cho tới miền Tyrô và Sidôn (7,24) để trở về từ Tyrô "ngang qua Siđôn, đến biển Galilê. băng giữa xứ Đêcapoli" (7,21) Chính ở đây Mc đặt câu chuyện người ngọng đi dù có vẻ chính xác, các chỉ dẫn địa hình này vẫn không giúp ta tái lập lộ trình của một hành trình được. Chúng giao thoa với nhiều chi tiết phản ảnh một chủ đích giáo thuyết.

Đối chiếu với thái độ thù nghịch của Biệt phái và ký lục dân từ Giêrusalem(7.1-23). Mc đưa ra đức tin của một người phụ nữ gốc Phênikia vùng Syri và là ngoại giáo (7,25-30). Chính từ trình thuật truyền thống này mà chắc hẳn ông suy ra cuộc hành trình của Chúa Giêsu trong vùng Tyrô và Sidôn. Trình thuật có thể đã được lưu giữ bởi các cộng đoàn Kitô hữu sống trong vùng phần đông là lương dân đó. Nên chí ý là từ 3,8, miền này được chặt trong vùng địa lý có vang dội lời giảng dạy công khai của Chúa Giêsu. Mátcô cũng giữ lại các truyền thống cho phép ông nới rộng hoạt động trong của Chúa Giêsu tới tận Đêcapoli. Địa lý của ông có tính cách phỏng chừng: ông nới rộng "vùng dân Ghêrasa" cho đến bờ phía đông hồ Tibêlia (5,1) (Ghêrasa thực sự cách xa hồ khoảng 50 cs. Mt nói là Gađara, một nơi cách hồ locs) và địa điểm xảy ra việc chữa lành người ngọng điếc rồi phép lạ hóa bánh lần thứ hai (8,1-10) nằm trong một không gian rộng lần vô giới hạn. 

Ở đó Chúa Giêsu có thể gặp nhiều người mà không gì bảo là người Do thái và được đi theo, trong ba ngày liền, bởi một đám đông mà "có nhiều người từ xa đến" (8,2-3). Dù địa điểm bí mật mang tên Đalmanutha (8,10) là gì chăng nữa (ở đây Mt cũng còn khác Mc và nói là Magađan, một địa điểm cũng không tìm ra chỗ như Đalmanutha: 15,39), thì rõ ràng sự đối chọi giữa hai bờ hồ và việc đi qua rồi trở lại (8,10 và 13) cụ thể hóa một sự đối chọi giữa hai không gian không hoạt động của Chúa Giêsu: không gian khép kín trước lời Người, không gian của Biệt phái (8,10-13), và không gian mà Chúa Giêsu mở ra trước Người trong một miền Galilê trải rộng cho tới Tyrô, Siđôn, Đêcapoli, Kaisaria của Philipphê (8,27). Sau khi sống lại, chỗ hẹn hò với các môn đồ sẽ là Galilê (14,28; 16,7), đối lại với Giêrusalem. Chính trong miền đầy dân tứ xứ này, mà giáo quyền Giêrusalem (x. 14,70) nghi ngờ tính cách chính thống, đã vang dội Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng: chính từ đó mà Tin Mừng, được trao phó cho các môn đồ, sẽ ra đi đến khắp mọi dân (13,10 ; 14,9).

Do đấy, đối với Mátcô, không phải là không quan trọng việc dân chúng nhìn nhận công cuộc của Thiên Chúa trong hành vi Chúa Giêsu đã xảy ra chính giữa miền Thập tỉnh, không phải là không quan trọng việc Phêrô tuyên xưng Đấng Cứu thế đã xảy ra trên con đường dẫn Chúa Giêsu đến các làng mạc miền Kalsalia của Philipphê (8,27). Đức tin của các cộng đoàn phát sinh từ việc truyền giáo cho lương dân được biểu lộ trước như vậy, cũng như đã được diễn tả trong lời của viên bách quản dưới chân thập giá (15,39). Chính cái bí mật nằm trong phép lạ và trong lời tuyên tín đầu tiên đòi phải có việc biểu lộ công khai sau phục sinh và nói lên, trong các trình thuật; giá trị tiên báo, tiên thực hiện của phép lạ và lời tuyên tín đó. Nói khác đi, trình thuật chữa lành người ngọng điếc cho lấy, qua chính nét chữ của nó. Là Kitô hữu đã đọc lại trình thuật dưới ánh sáng Tin Mừng Phục sinh, trong một cộng đoàn phát sinh từ việc truyền giáo cho dân ngoại.

Không phải là một nghịch lý nhỏ của đức tin Kitô giáo việc đức tin ấy, vốn dành cho hết mọi người, cũng được nuôi dưỡng bằng một lời "trước tiên" (7,27) trao ban cho Israel. Như Con Thiên Chúa phải ẩn thân trong Giêsu thành Nadarét. Thì Tin Mừng dành cho mọi dân cũng được chuẩn bị trong việc rao giảng ở Galilê. Và như việc mặc khải phục sinh của Thiên Chúa vén màn bí mật về con người quyền năng trong công việc cùng lời nói là chính Chúa Giêsu, thì việc truyền giáo phổ quát cũng giải thích tại sao Người đã phải xuất hiện trong một miền cởi mở không có phân biệt lượng dân và Do thái. Người ngọng điếc cũng như anh mù thành Betsaiđa hay người phụ nữ gốc Phêmkia vùng Siri, bắt buộc phải vi phạm các biên giới mà người ta muốn dựng lên giữa loài người và chỉ cho mọi người thấy Đấng đang đến như ánh sáng và lời nói trong thinh lặng của cô đơn và đêm tối của họ.

Lời tiên tri của Isaia 35 và trình thuật của Mátcô soi sáng cho nhau, từ kinh nghiệm Kitô giáo. Isaia loan báo việc Thiên Chúa đến để chấm dứt cảnh mù lòa, điếc câm và tê liệt của dân Ngài. Còn Chúa Giêsu, khi chữa lành các bệnh nhân, chứng tỏ cho thấy trong Người đã bắt đầu thực hiện việc Thiên Chúa đến và loan báo con người phải khẩn trương chuẩn bị. Khi nhắc lại cuộc đời Chúa Giêsu dưới ánh sáng của Isaia, thì Mátcô và các cộng đoàn Kitô hữu trong đó phát sinh cuốn sách của ông, cũng nhớ lại lộ trình tiệm tiến họ đã phải thực hiện, ngang qua bao khủng hoảng và chiến đấu, để nhận ra và nói Chúa Giêsu lúc này và mãi mãi là ai đối với hết mọi người. Kẻ ngọng điếc và anh mù thành Betsatđa bấy giờ trở thành gương mẫu của các môn đồ còn khép kín trước lời cùng ánh sáng của Chúa Kitô và không có khả năng phát biểu cách đúng đắn đtíc tin của họ. Chúa Giêsu lôi họ đi trên con đường khổ nạn, cũng là con đường ánh sáng, nhưng họ không thể theo Người (10,32;14,51-52.54). Người dẫn họ qua Galilê và đến các biên giới, nhưng giáo thuyết đặc thù của Hêrôđê và Biệt phái (8, 15) ngăn cản họ nhận biết tính cách phổ quát của Tin Mừng Chúa Giêsu. Khi bêu diếu những chậm trễ trong đức tin của các môn đồ, Mátcô cũng đưa ra phương dược trị liệu : nếu con người không đủ khả năng sửa lại những chậm trễ đó thì Chúa Giêsu vẫn có thể mở tai, mở mắt, tháo lưỡi và phá đố những hàng rào không ngừng dựng lên và ngăn chận việc phổ biến Tin Mừng.

Trình thuật của Mátcô còn có thể hướng dẫn suy tư của các Kitô hữu ngày hôm nay. Phụng vụ phép rửa mang lại cho nó một hiện thực tính chẳng bao giờ lỗi thời. Phép rửa không kết thúc dù các nghi lễ đã hoàn tất xong. Phải chăng đức tin của một con người luôn luôn bắt kịp ánh sáng? Phải chăng ít có thể tự hào là đã chọc thủng mãi mãi bí mật của Chúa Giêsu, đã nghe rõ và nói đúng về Người trong những công thức mà chỉ cần lặp lại ? Không!

Vậy phải chăng nên chịu buồn rầu và thủ phận với việc chúng ta chẳng có thể nghe, thấy, nói? Không, Mátcô kêu mời chúng ta hãy nhìn đến Chúa Giêsu. Đức tin không thể rút lấy ánh sáng từ con người, ánh sáng này chỉ đến từ Chúa Giêsu. Phó thác cho Người không phải là cam lòng với sự bất lực của chúng ta, nhưng là thừa nhận sự giải thoát người đã mang đến cho chúng ta và cố gắng đón nhận sự giải thoát Người hứa ban trên con đường (băng qua những nghi ngờ và sợ sệt) mà Người mở trước mắt chúng ta, con đường tiến đến chiến thắng của Người.
Jean Delorme, Assemblées du Seigneur 54, tr.33-44

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Điểm cần lưu ý trước tiên, đó là Chúa Giêsu đang ở trên đất lương dân, và đang chữa lành cho một người không phải là Do thái. Người không phân biệt đối xử. Điều quan trọng đối với Người là niềm tin. Và bước đầu của niềm tin là nhận biết mình bất lực, mình đang đau yếu, cần sự giúp đỡ của một đấng cao siêu hơn, quyền năng hơn.

2."Người làm mọi sự cách hoàn hảo" (Mc 7,37). Hình như dân chúng đã khám phá ra sự liên hệ giữa phép lạ và tính cách thiên sai của Chúa Giêsu, bởi vì việc cho kẻ câm được nói, kẻ điếc được nghe đúng là những công việc của Đấng Messia mà Isaia đã tiên báo (bài đọc 1). Một điều đáng ngạc nhiên: dân chúng ít học thì trực giác bén nhạy, trái lại các thượng tế, các thầy thông luật lại không nhận ra, dù họ nghiền ngẫm Thánh Kinh mỗi ngày (x. Ga 5,39). Chỉ có những tâm hồn cởi mở, đơn sơ, khiêm tốn như Maria mới có thể thốt lên: "Chúa đã làm cho tôi những việc kỳ diệu" (Lc 1,49). Tham dự Thánh lễ là cất tiếng ca tụng và tri ân Thiên Chúa.

3. "Epphata": Ngay từ khi lãnh bí tích Rửa tội, người Kitô hữu được mở tai để nghe Lời Chúa, được mở miệng để tuyên xưng đức tin và cất lời ca tụng ngợi khen Chúa. Tuy nhiên căn bệnh câm điếc thiêng liêng luôn rình rập, đe dọa mọi người, như Chúa Giêsu đã từng khiển trách các sứ đồ "có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe" (Mc 8,18; x. Ed 12,2) Cũng như đã trách cứ Biệt phái. Bởi đó cần tránh mọi thái độ kiêu căng tự phụ, mọi thiên kiến lệch lạc, mọi tham lam dục vọng v.v.. là những nhân tố biến ta thành những kẻ "điếc lác, trước tiếng lương tâm và che mắt tâm hồn ta không nhìn thấy được Chúa.

4. Thiết tưởng nên nhấn mạnh đến mối liên lạc cá nhân mà Chúa Giêsu tạo ra giữa Người với các bệnh nhân Người chữa trị. Lối Người hành động không có tính cách xa xôi, vô danh, tổng quát. Đối với Người, con người là một nhân vị đặc biệt, độc nhất không thể thay thế. Một trong những yếu tố căn bản của mầu nhiệm Tin Mừng là sự ưu ái mà Thiên Chúa dành cho con người và mầu nhiệm ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi. Một đàng, Thiên Chúa làm việc để cả nhân loại trở nên một dân tộc, dân của Ngài, một đàng, Ngài biết tên của mọi người trong dân ấy. Trong Tin Mừng, người Mục tử biết tên mỗi con trong đoàn chiên mình. Chúa Giêsu, đối với mỗi một người, có một cái nhìn độc nhất, một lời nói riêng biệt. Một tình yêu cá nhân. Mọi người trên đời này đều đã, đang hoặc phải khám phá ra rằng Chúa Giêsu xem mình như một con người và cư xử với mình như một nhân vị. Thiên Chúa nâng con người tầm thường lên một ngôi vị.



Noel Quession - Chú Giải

 

Mc 7,31-37


Đức Giêsu lạt bỏ vùng Tia, đi qua thành Xi-đon, theo con đường băng qua miền Thập Tỉnh mà đến Biển Hồ Galilê.

Việc mô tả những cuộc hành trình (hơn 100 cây số) không phải là ngây ngô đâu ? Chúng ta thử đặt mình vào địa vị Đức

Giêsu một chút. Sau khi biến bánh ra nhiều (Mc 6,31-44). Sau bài giảng thất bại về "Bánh hằng sống" (Ga 6,66), Đức Giêsu bị đám dân chúng bỏ rơi hoàn toàn. Người rời xứ Galilê và đi ra "nước ngoài" nơi người ngoại đạo ở xứ Phênixi (Mc 7,24-26) bên kia biên giới phía Bắc xứ Palettin. Tia và Xi-đon ngày nay vẫn là hai thành phố lớn của xứ Libăng. Rời xứ này, Đức Giêsu không trở về Galilê, Người đi rẽ về phía Đông Biển Hồ, vượt qua các đồi cao Gôlăng xứ Xyria và đi về phía miền "Thập Tỉnh", bên kia sông Gio-đan, trong phần đầu của sa mạc từ I-rắc tới I-ran, mà ngày nay có những ống dẫn dầu từ vịnh Ba Tư chạy ngang qua. Đức Giêsu, con người thông minh, đã thích nghi với hoàn cảnh. Người biết rằng, với những đám đông chỉ có mất thời giờ ? Vậy từ bây giờ trở đi, Người sẽ lo đào tạo một nhóm môn đệ nhỏ. Và để thực hiện công cuộc đó, cần phải vượt qua ranh giới Do Thái, mới dễ cảm thấy thoải mái hơn.

Chúng ta cố hình dung ra Đức Giêsu, dừng lại ở mỗi đoạn đường, ở ngoài trời, luôn có khoảng hai mười người vây quanh mười hai người nam và vài người nữ để nấu ăn quanh bếp lửa, họ kể lại những biến cố trong ngày.

Ngày nay, những khối Người, trong mọi biên giới, đã trở nên ngoại đạo. Thái độ của Đức Giêsu thật có ý nghĩa. Người làm gì khi Người sống giữa dân ngoại ?

Dân chúng đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Kitô, và xin Người đặt tay trên anh.

Danh tiếng Đức Giêsu, con người hay làm phép lạ, đã lan rộng ra ngoài biên giới nước Palettin. Có một người đàn bà gốc Phêmxi, xứ Xirya đã đến mấy ngày trước, để xin Chúa chữa lành cho con gái của bà. Bây giờ lại một người câm điếc. Người ta có thể nói rằng, người ngoại đạo có lòng mở rộng đối với Chúa hơn là người Do Thái. Vậy họ đã có tai để nghe, trong khi những đám đông ở Galilê lại "điếc đố với lời của Người ? Người ngoại đạo sẽ được ngồi vào bàn tiệc của Thiên Chúa, để đón nhận Bánh Hằng Sống, trong khi đại đa số dân ít-ra-en đã từ chối ?

Chúng ta chớ quên rằng, Mác-cô viết Tin Mừng cho những cộng đoàn Kitô hữu từ' dân ngoại quốc thuộc HyLạp - La Mã trở lại. Ong là thư ký của Phêrô. Chúng ta hiểu tại sao ông lại muốn làm cho nổi bật sự kiện Chúa đã mở rộng sứ vụ của Người cho dân ngoại. Như trong Tin Mừng Chúa nhật trước về vấn đề "Sạch và Nhơ", chúng ta gặp lại ý hướng phổ quát của Đức Giêsu : Người không tự đóng khung trong nền văn hóa riêng biệt của Ít-ra-en. Người mở rộng cửa : Giáo Hội của Người phải là Công giáo nghĩa là "đa dạng" "mở rộng" "phổ quát". Chúng ta có thực sống như vậy không ? Chúng ta không thường giữ những đặc thù thích đề cao chủng tộc của mình sao ? Chúng ta không xét đoán quá cứng rắn những người có sở thích văn hóa, những cách cầu nguyện khác chúng ta sao ? Trong bàn tiệc chúng ta có những một ít chỗ cho người ngoại quốc không ?

Người kéo riêng anh ta ra ngoài khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh.

Đức Giêsu làm những cử chỉ trên là có ý nghĩa, chứ không phải tình cờ. Thiên Chúa nói với chúng ta những cử chỉ đó. Chúng ta cũng điếc chăng ? Những chi tiết này nói lên không gì ?

Đức Giêsu dẫn người khuyết tật xa khỏi đám đông. Khi làm như vậy, Chúa đã tỏ ra khác hẳn những người làm phép lạ khác, những nhà ảo thuật Hy Lạp, luôn tìm sự phi thường. Còn Đức Giêsu, một "Thiên Chúa ẩn kín" lại trốn tránh những cái nhìn soi mói, bắt đầu sợ những đám đông ham muốn phép lạ. Người lánh ẩn như để nói với chúng ta rằng, Người sắp làm một biến cố siêu việt. Sự tránh hoạt động của Thiên Chúa là mầu nhiệm cuối cùng. Người sẽ cố gắng vô ích để xin "người ta giữ bí mật" .

Đức Giêsu làm những cử chỉ trên thân xác, hầu như gây khó chịu đối với những tâm trí chúng ta, được coi là duy linh. Ngày nay người ta có khuynh hướng xóa bỏ hình ảnh này của Đức Giêsu. Chúng ta sẽ nghĩ gì nếu có một phim ghi lại cách tự nhiên và chiếu cho chúng ta xem lại cảnh này một cách thực tế ? Người dịch một lần nữa đã nghĩ nên kể lại nhẹ nhàng hơn bản văn Hy Lạp của Mác-cô, mà nếu dịch từng chữ, sẽ kể như sau : "Đức Giêsu thọc ngón tay mình vào tai người điếc, và sau khi đã nhổ nước miếng, Người sờ vào lưỡi người câm, và sau khi nhìn lên trời, Người thở dài".
Vâng, những bí tích, những dấu chỉ của Đức Giêsu đều là những cử chỉ "thuộc thân xác". Thiên Chúa đã có thể ban hồng ân của Người cho chúng ta "từ xa" một cách thiêng liêng, nhưng thực sự Người đã quyết định "tiếp xúc" với chúng ta nhờ nhân tính Con của Người đã nhập thể. Nếu chúng ta cho là điều xỉ nhục để đưa tay ra "đụng chạm" đến Mình Thánh Đức Giêsu, thì chính là vì chúng ta đã mất ý thức về phẩm giá của "Thân xác", là dụng cụ tuyệt vời để liên lạc và yêu thương. Trong Nhiệm Cục Nhập Thể (Economie de l'incarnatỉon) ân sủng thiêng thánh nhất, vô hình nhất phải qua những cử chỉ tầm thường "cụ thể" là những bí tích của Đức Giêsu. Người câm điếc lúc bấy giờ chắc không bị phân tâm trước những thuyết coi thường thể xác của chúng. ta, và anh ta cảm thấy những cử chỉ tiếp xúc đơn giản và tự nhiên của Đức Giêsu như mạc khải sự trìu mến của Người : Ngón tay của Chúa trong lỗ tai bị bịt kín của anh, nước miếng của Người trên lưỡi bị thắt buộc của anh.

Lạy Chúa Giêsu, nhờ Thánh Thể của Chúa, xin chữa lành tâm hồn con người ngày nay. Các giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội, đối với giáo dân gần thiên nhiên hơn chúng ta, đã khuyên các Kitô hữu lúc bấy giờ rước lễ dưới hai hình thức, lấy rượu đã truyền phép mà môi miệng họ vừa hiệp thông nơi Chén Thánh, để bôi lên mắt và tai của mình, nhằm thánh hóa những cơ quan này ? Bây giờ không cần phải trở lại những tục lệ của các thế kỷ đầu tiên, nhưng ít nhất chúng ta chớ làm nhẹ đi cử chỉ rước Mình Thánh Chúa. Chúng ta hãy nhận "lấy" và "ăn" theo như Chúa đã nói. Điều đó rất thích hợp với bản chất con người của chúng ta, cả về thể xác lẫn linh hồn.

Rồi Người ngước mắt nhìn lên trời, thở dài và nói.

Cử chỉ này cho ta thấy rằng, quyền năng của Thiên Chúa sẽ thực hiện không phải là một sự can thiệp y khoa bình thường. Còn về lời than thở của Đức Giêsu không những chỉ hiểu rang đó là xách biểu lộ lòng trắc ẩn đối với người bệnh, mà còn là một chuyển động nơi toàn thân Đức Giêsu đang xúc động mãnh liệt để kêu cầu Thiên Chúa, khi nhận thấy một "nỗ lực", một "nhiệm vụ khó khăn", một đối kháng rất ghê gớm cần phải vượt thắng. Đức Giêsu thực sự đang "làm lại" công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Con nói bị hư hỏng sắp tìm lại được vẻ huy hoàng nguyên thủy của mình.

Và Chúa nói : "Epphatha", nghĩa là hãy mở ra.

Lời nói của Đức Giêsu được Mác-cô ghi lại bằng tiếng Hy Lạp, nhưng đúng ra được phát biểu bằng tiếng Aramên, là tiếng nói của Đức Giêsu. Chúng hãy nghĩ rằng, đối với những độc giả của mình không hiểu tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu, Máccô phải dịch nghĩa chữ "Effata" !

Chúng ta cũng lưu ý thêm, Đức Giêsu không nói với những cơ quan bị tật nguyền mà nói với chính người bệnh : "Hãy mở ra" hay đúng hơn "hãy mở trở lại".

Nghi thức Effata này, xưa kia được thực hiện trong khi rửa tội. Vị linh mục sờ vào tai và xức nước miếng mình lên một đứa bé hay người lớn.

Lập tức tai anh mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng.

Khi dùng nghi thức này để rửa tội, Giáo Hội đã sớm hiểu phép lạ này trên bình diện tượng trưng ? "Con người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe". Đui, điếc và câm : Đó là thân phận con người trước mặt Thiên Chúa, Thánh Mác-cô sẽ lặp lại nhiều lần trong cùng một bối cảnh rằng, chính những môn đệ của Đức Giêsu cũng là những người điếc và câm, những người không hiểu gì (Mc 8, 18 - 8,52 - 7,18).

Qua phép Rửa, chính Đức Giêsu đích thân hành động. Người gặp một người tự nhốt kín mình, không thể thiên lạc được và chữa trị toàn diện : Chúa đã làm cho người này có thể nghe và hiểu Lời Chúa. Chúa cũng ban cho họ quyền thông truyền lời đó cho kẻ khác. Đó là vấn đề Đức tin. Tình trạng tự nhiên lúc vừa sinh ra của chúng ta, đó là sự tự nhốt kín mình, một tình trạng cô đơn cách biệt : Con người bị "bít kín" trước những sự việc của Thiên Chúa. Con người phải được Đức Giêsu "mở ra" để đón nhận mầu nhiệm Nước Trời .

Biết bao Kitô hữu hiện nay vẫn còn "đóng kín", mắc kẹt trong thế giới tập quán, trong sự hiểu biết hạn hẹp những truyền thống nhỏ nhoi của họ. Chúng ta có thuộc vào số những người đi nhà thờ mà không hề biết mở miệng để đáp lại chủ tế hay để hát xướng không ? Chúng ta có phải là những người mà trong cuộc sống hàng ngày, không bao giờ dám nói về Thiên Chúa, về Đức Giêsu, về Tin Mừng không?

Đức Giêsu cấm họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng cấm, thì họ càng đồn rao. Họ hết sức kinh ngạc, và nói "ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả : ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được".

Những lời ca tụng trên nhắc lại trình thuật đầu tiên về cuộc sáng tạo : "Thiên Chúa thấy tất cả những gì Người đã làm đều tốt đẹp" (St 1,30). Nhờ Đức Giêsu, một sáng tạo mới đang xuất hiện, một con người mới được tái tạo... một con người hiệp thông, một người biết lắng nghe và đáp lại Lắng nghe Thiên Chúa. Nói với Thiên Chúa.. Lắng nghe anh em. Nói với anh em.

Lạy Chúa, Chúa là Chủ sự sống, và mọi công trình của Chúa, thật đáng ca ngợi biết bao !



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được "


BÀI TIN MỪNG : Mc 7, 31 - 37 

I . Ý CHÍNH : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng việc chữa lành cho một người vừa câm vừa điếc để tỏ bầy cho chúng ta hiểu rằng cần phải có ơn Chúa soi sáng mở lòng mở trí chúng ta mới có thể nghe, hiểu về Chúa và tôn vinh danh Chúa được .

II . SUY NIỆM : 

1 / " Chúa Giêsu từ địa hạt Tyrô qua Siđon đến gần biển Galilê giữa miền thập tỉnh " : 

Từ Tyrô là nơi Chúa trừ qủy cho con gái của người đàn bà ngoại giáo ( Lc 7, 24 - 30 ) Chúa Giêsu phải qua Siđon để đến miền thập tỉnh về phía biển hồ Gali lê .

2 / " người ta đem một kẻ câm điếc đến cùng người và xin Người đặt tay trên kẻ ấy " : 

- Kẻ câm điếc đây là hình ảnh những người chưa được nghe và hiểu biết về Chúa .

- " Đặt tay " : là kiểu chúc phúc lành theo lối Do thái ( St 48, 14 - 29 ) và cũng là cử chỉ quen thuộc của Chúa Giêsu khi làm phép lạ chữa bệnh ( Mc 6, 5 ; 8, 23 - 25 ) .

- Người ta đem người câm điếc đến để xin Chúa Giêsu đặt tay chữa lành .

3 / " Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh ta và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta " : 

Chúa tách biệt anh ta ra khỏi đám đông là vì :

a / Tránh sự xôn sao rộn ràng vì sự cuồng nhiệt của dân chúng đang hăm hở muốn xem phép lạ, trong lúc Chúa Giêsu chỉ muốn kín đáo làm phép lạ để củng cố đức tin hoặc dọn tâm hồn để tin : Ở đây cũng giống trường hợp Chúa chữa con gái ông Giairô chết sống lại ( Mc 5, 37 ) hoặc chữa người mù ở Betsai đa ( Mc 8, 23 ) .

b / Những việc can thiệp của Thiên Chúa thường được hoàn toàn trong bí mật, xa mắt trần : Chúa Giêsu đưa người câm điếc tách khỏi đám đông trước khi hoàn thành một hành động bí nhiệm ( V 17 - 19 ; 2V 4, 4 - 5 ; 9, 5 - 6 ; Mc 5, 37 - 40 ; 8, 23 ) . Ở đây bí nhiệm là vì dân chúng chưa thể nhận ra động lực nào ( Động lực thần linh ) thực hiện phép lạ cách xác thực được .

Đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh : Chúa Giêsu động trạm đến cơ quan bị bệnh của bệnh nhân, không phải vì Người không có thể làm cách khác để tỏ cho bệnh nhân biết ý muốn chữa bệnh của Người, nhưng vì những đụng chạm này vẫn thường được xem như là khởi đầu cho việc chữa trị . Người đặt ngón tay vào hai tai bệnh nhân như để mở chúng, Người sức nước miếng trên lưỡi " Bị cột " của anh để cởi dây bị cột . Nước miếng này là y dược bình dân thời đó, nhưng ở đây nước miếng chất chứa một năng lực đặc biệt . Chúa dùng cử chỉ bề ngoài để biểu lộ ý lực bên trong : ý nghĩa của Bí tích .

4 / " Đoạn Người ngước mắt lên trời " : 

Cử chỉ ngước mắt lên trời được hiểu như một sự cầu nguyện van xin ( Tv 121, 1 ; Lc 18, 13 ; Ga 17, 1 ; Cv 7, 55 ) . Trong việc làm phép lạ, nó chỉ nguồn gốc từ đó Chúa Giêsu chờ đợi và lấy được quyền năng của mình ( Mc 6, 41 ; Ga 11, 41 ) : Quyền năng của Thiên Chúa .

- Người thở dài : tiếng thở dài này không diễn tả một cảm tình sót thương đối với bệnh nhân, nhưng biểu lộ một cử chỉ thiết tha kêu cầu mãnh lực thần linh, với ý thức rằng có một sức chống đối mạnh mẽ cần phải lướt thắng ( So sánh Mc 8, 12 ; Rm 8, 22 - 27 ; 2Cr 5, 2 ) .

5 / " Tức thì tai anh ta mở ra và lưỡi anh ta được tháo gỡ và anh ta nói được rõ ràng " : 

Lời nói của Chúa Giêsu : " Hãy mở ra " được hiệu nghiệm ngay . Tai kẻ điếc mở ra . Dây buộc lưỡi được tháo gỡ . Ở đây muốn nói đến hiệu nghiệm đặc biệt của quyền năng Thiên Chúa .

6 / " Chúa Giêsu liền cấm họ đừng nói điều đó với ai " : 

Cuộc đời công khai của Chúa Giêsu là cuộc đời ẩn dật của Con Thiên Chúa giữa nhân loại . Vì thế lai lịch chính xác của Chúa Giêsu : Đấng Ki tô, Con Thiên Chúa Hằng sống, không được biểu lộ cách công khai ngay, mà chỉ được công bố cách rõ ràng cho nhân loại sau khi Người chịu chết và phục sinh .

Ngay từ cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu đã là Đấng Thiên sai Con Thiên Chúa . Nhưng điều này không thể và không được phép tiết lộ, nếu tiết lộ, thì Người đã chẳng hoàn tất được công cuộc cứu chuộc của người cho đến Thập giá, và không Thập giá thì lai lịch của Người đã không được nhận biết cách xác thực .

- Việc ngăn cấm ở đây ( 7, 36 ) cũng như những lần khác : chữa người phong hủi ( 1, 44 ) chữa con gái ông Giairô ( 5, 43 ) . Chữa người mù thành Betsaiđa ( 8, 26 ) là phép lạ là dấu chỉ nói lên tính cách thần linh của sự việc, và vì nó có thể hé mở cho biết thân thế của Người ( Mt 11, 5 ), điều mà ngay bây giờ dân chúng chưa thể nhận ra được, mà phải đợi đến sau tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu .

7 / " Người làm mọi sự tốt đẹp " : 

Đây là phản ứng của dân chúng được chứng kiến hiệu quả của phép lạ . Phản ứng này mang tính cách phản ứng trước thần linh vì " Làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được " là dấu chỉ quyền lực của Thiên Chúa được thực hiện nơi Chúa Giêsu .

Phản ứng này của dân chúng làm ta liên tưởng đến sách Sáng thế . Các công việc của Chúa Giêsu làm đáng ngợi khen như công việc của Chúa Giêsu khi tạo dựng vũ trụ : " Mọi sự Người làm, Thiên Chúa thấy đều tốt đẹp " ( St 11, 31 ) . Việc chữa bệnh diễn tả việc Chúa Giêsu tái tạo con người mới, con người được giải thoát khỏi nô lệ của ma quỷ tội lỗi, đó là điều tốt đẹp .

III . ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng Theo Tin Mừng : 


Qua câu truyện Chúa chữa lành cho người câm điếc trong bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta mau mắn chạy đến với Chúa qua Giáo Hội để nhận lãnh những ở lành Chúa ban cho đời sống hằng ngày .

Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta đã được Chúa chữa bệnh câm điếc đức tin cho ta : Mở tai để nghe Lời Chúa, mở miệng để tuyên xưng đức tin .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a / Xem việc Người làm : 

* Chúa Giêsu chữa lành cho người câm điếc :

Chúng ta chữa trị bệnh điếc : điếc giáo lý, điếc Lời Chúa ... bằng cách giúp cho tha nhân hiểu biết Lời Chúa, giáo lý của Chúa .

Chúng ta chữa bệnh câm : câm vì không biết nói về Chúa, không biết tuyên xưng đức tin bằng cách giúp cho họ làm việc làm tông đồ sống tinh thần Tin Mừng .

* Chúa ngước mắt lên trời : Chúa cầu nguyện trước khi thực hiện phép lạ .

Chúng ta cần duy trì và ý thức những giây phút cầu nguyện trước khi khởi sự một công việc để xin ơn phù trợ và hiệp nhất với Chúa .

2 / Nhìn vào người câm điếc : 

Chúng ta câm khi chúng ta không biết làm việc tông đồ, không biết tuyên xưng đức tin bằng đời sống chứng tá . Chúng ta biết khi không biết đón nghe Lời Chúa để thực hành, khi không sống đức tin .

Chung quanh chúng ta có biết bao người đang điếc đức tin điếc Lời Chúa, chúng ta có biết cộng tác với Chúa để trị bệnh cho họ không ?

3 / Nhìn vào dân chúng : 

Chúng ta mau mắn đem những người câm điếc đức tin, Lời Chúa đến với Giáo Hội để xin Chúa trị .

" Người làm mọi sự tốt đẹp " . Chúng ta hãy biết ca tụng Chúa trong mọi biến cố, trước mọi kỳ công của Thiên Chúa .



Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

 

"Ephata - Hãy mở ra !"

Is 35,4-7a ; Gc 2,1-5 ; Mc 7,31-37


Có lẽ cái tên của Helen Keller, một cô gái câm điếc người Mỹ, đã trở thành bậc khoa bảng, không còn xa lạ với chúng ta nữa. Vừa được 9 tháng, sau một cơn đau màng óc, cô gái bất hạnh này trở thành mù lòa và câm điếc. Thế giới của âm thanh và màu sắc đã khép hẳn cánh cửa lại với cô.

Làm thế nào để truyền thụ kiến thức cho một người đã câm điếc lại còn mù lòa ? Cha mẹ của cô bé dường như muốn bó tay. Nhưng có một cô giáo tên là Anna Sullivan đã không muốn bỏ cuộc. Hy vọng duy nhất mà cô giáo này còn đó là có thể truyền thông và liên hệ với cô gái mù lòa và câm điếc này qua việc tiếp xúc với bàn tay của cô. Chỉ có thể tiếp xúc với thế giới bằng đôi tay, thế mà cô Helen Keller đã có thể học xong đại học, tốt nghiệp tiến sĩ và trở thành văn sĩ.

Thưa anh chị em,

Với kỹ thuật khoa học hiện đại, ngày nay người ta dường như có thể mở mắt, mở tai, mở miệng cho người mù, người câm, người điếc. Ngày xưa Chúa Giêsu đã làm phép lạ cứu chữa những người bất hạnh này. Phép lạ Chúa Giêsu đã làm để chữa người câm và điếc được Thánh Marcô ghi lại xem ra thật là đơn giản dễ dàng : Ngài kéo riêng người câm điếc ra khỏi đám đông, xỏ ngón tay vào lỗ tai anh, bôi nước miếng vào lưỡi anh, ngước mắt lên trời lâm râm cầu khẩn rồi lớn tiếng truyền lệnh : "Ephata !" nghĩa là "Hãy mở ra !" Tức thì lỗ tai điếc của anh mở ra, nghe được rõ ràng, lưỡi bị cột cứng của anh uốn được và nói được sành sõi. Cuối cùng là sự kinh ngạc thán phục của đám đông. Họ nói : "Ngài làm được mọi sự tốt đẹp. Ngài làm cho người điếc được nghe, người câm được nói".

Lời thán phục của dân chúng chính là lời Ngôn sứ Isaia đã loan báo cho dân Israel về Đấng Cứu Thế. Ông nói : "Đấng Thiên sai sắp đến sẽ cứu thoát anh em. Lúc đó mắt người mù sẽ mở ra, tai người điếc sẽ nghe được. Lúc đó, chân người què sẽ nhảy như nai và lưỡi người câm sẽ nói sõi sàng" (Is 35,3-7). Như thế chứng tỏ là dân chúng đã nhận ra Đấng Thiên Sai Cứu Thế đã đến rồi. Ngài chính là Đức Giêsu đang thực hiện lời Ngôn sứ Isaia trước mắt họ.

Nhưng giữa đám đông dân chúng chứng kiến phép lạ của những người có tai nghe được, có miệng lưỡi nói được, nhưng lại câm, lại điếc. Họ giả điếc, giả câm trước Lời Chúa. Họ cố chấp không đón nhận sự thật. Đó là những người biệt phái Pharisêu : "Họ có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe !" Quả thật, họ đang điếc trước chân lý, mù trước phép lạ đang diễn ra. Họ chẳng những không chịu hiểu Lời Chúa mà còn loan truyền toàn những điều lệch lạc, sai trái. Họ thay thế Lời Chúa bằng các tập tục của cha ông họ. Họ cần phải được chữa cho khỏi mù tối, khỏi câm điếc, mới có thể hiểu đúng và công bố Tin Mừng cho người khác. Họ phải mở tai, mở mắt để đón nhận Lời Chúa, để tin vào Ngài, thì mới được cứu độ.

Anh chị em thân mến,

Trong số những người câm điếc đó, ngày nay có thể có cả chúng ta nữa. Phải chăng chúng ta cũng nằm trong hạng người có tai thính nhưng không nghe ; không nghe vì không biết lắng nghe. Có miệng lưỡi nói được sõi sàng, nhưng không mở lời ca tụng Chúa, không nói lên tiếng nói yêu thương anh em ? Phải chăng chính chúng ta cũng là những người câm điếc cần được Chúa Giêsu cứu chữa ? Ca dao tục ngữ nước ta có nhiều câu nói gợi hình để trách cứ những người có tai mà không biết lắng nghe. Chẳng hạn, nghe mà không biết nghe gì, thì người ta bảo : "Nghe như vịt nghe sấm" hoặc "như đàn gảy tai trâu". Nghe mà không tập trung tư tưởng để mà nghe, mà hiểu, tai nghe mà lòng không suy nghĩ, thì người ta lại bảo : "Nghe tai này lọt qua tai khác" hoặc "như nước đổ lá khoai môn"… Chính vì thế mà khả năng nghe là một tình trạng tinh thần tối cần để đón nhận ơn cứu độ. Trong Kinh Thánh, biết bao lần Chúa nói rõ điều đó : Mỗi lần ban bố lề luật, Thiên Chúa kêu gọi : "Hỡi Israel, hãy nghe đây !". "Hôm nay các ngươi hãy lắng nghe tiếng Chúa phán và đừng cứng lòng". "Ai có tai để nghe thì hãy nghe". Chính Chúa Cha cũng ra lệnh cho chúng ta hãy nghe lời Con của Ngài : "Này là Con Ta rất yêu dấu, các con hãy nghe lời Ngài". Vì thế, khi chữa lành người câm điếc, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng Ngài đến không chỉ để nói mà còn để chữa lành khả năng nghe của chúng ta nữa, nếu không, thì có nguy cơ là Ngài nói mà chẳng được ai lắng nghe cả.

Nghe và nói là hai phương tiện truyền thông luôn đi đôi với nhau. Con người sống trong xã hội là phải biết tiếp nhận chân lý qua việc nghe và nói, trao đổi, đối thoại. Câm và điếc là trạng thái của người khép kín trong chính mình, tự cô lập, không chịu mở ra với người khác để đối thoại, trao đổi, mà chỉ biết sống trong ao tù suy tư của mình, nên khi phát biểu hay hành động, chỉ có thể là những tư tưởng chủ quan, cố chấp, những hành động sai trái, lỗi thời. Ta thử nghĩ xem : Trong gia đình mà vợ chồng không biết lắng nghe nhau hoặc mạnh ai nấy phát ngôn, hoặc ông nói gà bà nói vịt, không ai chịu nghe ai nữa, thì làm sao gia đình có được hạnh phúc ? Biết lắng nghe nhau và đối thoại cởi mở chân thành sẽ giúp vợ chồng thông cảm chia sẻ, như thế sẽ tránh được biết bao bữa cơm không lành canh không ngọt ! Tình cha mẹ và con cái cũng sẽ đậm đà mật thiết khi con cái biết lắng nghe cha mẹ và cha mẹ cũng biết lắng nghe con cái. Ở trường học cũng thế, giữa học sinh và thầy cô giáo, giữa các bạn trẻ, cũng phải biết lắng nghe nhau. Và nhất là trong nhà thờ, người kitô hữu phải biết lắng nghe Lời Chúa để hiểu ý Chúa muốn nói gì với chúng ta và mở miệng lưỡi ra để ca khen chúc tụng Ngài. Chúng ta không chỉ biết lắng nghe trong nhà thờ, trong gia đình, ở trường học mà còn phải biết lắng nghe ngoài cuộc sống cuộc sống xã hội nữa. Hãy tập lắng nghe tiếng nói của người cô đơn, người phiền muộn, kẻ âu lo, người nghèo đói. Đối với nhiều người, liều thuốc hiệu nghiệm nhất, món quà quý giá nhất, đó là có được một ai đó thực sự lắng nghe nỗi phiền muộn cũng như niềm vui sướng của họ và biết nói với họ những lời tình nghĩa yêu thương…

Anh chị em thân mến,

Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta đã được Thánh Thần mở tai, mở lưỡi, mở mắt để ta có thể hiệp thông với Chúa và với anh chị em. Tuy nhiên, chúng ta thường vẫn điếc khi Chúa nói với chúng ta qua các biến cố thường ngày. Chúng ta vẫn câm, vẫn ngọng khi nói lời ngợi khen Chúa và lời cảm thông với anh chị em. Chính tính kiêu căng, lòng ích kỷ, tội lỗi đã bịt tai, cột lưỡi chúng ta lại không cho chúng ta hiệp thông với Chúa và với anh chị em. Vì thế, chúng ta còn phải nhờ quyền năng cứu chữa của Chúa Giêsu để ngày càng nghe rõ hơn, nói sành sõi hơn những lời ngợi khen Chúa, những lời cảm thông với anh chị em, ngày càng thấy rõ hơn đường lối kỳ diệu của Chúa và đường lối phục vụ anh chị em. Vì "Ngài làm được mọi sự tốt đẹp. Ngài làm cho người điếc được nghe, người câm được nói". Ngài chính là Đấng Thiên Sai Cứu Thế, nơi Ngài ơn cứu độ, sự giải thoát đã đến với chúng ta.


Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 

Đức Giêsu chữa người điếc và ngọng


Sau khi Đức Giêsu bị dân Nadarét loại trừ (6,1-6a), các môn đệ được sai đi rao giảng sự sám hối và trừ quỷ (6,7-13). Nhưng khi Người đề nghị cho đám đông ăn (6,37), thì các môn đệ sửng sốt, cũng y như khi họ thấy Người đi trên mặt biển (6,51). Những người nghe đọc Tin mừng có nắm được tương quan giữa khả năng đi trên mặt nước và khả năng nuôi sống đám đông chăng ? Việc Đức Giêsu đi vào vùng Dân ngoại (địa hạt Tia và Xiđôn), tại đó Người đã chữa con gái một bà gốc Phênixi xứ Xyri (7,24-30) và chữa người vừa điếc vừa ngọng (7,31-37) cũng như hóa bánh ra nhiều lần thứ hai (8,1-10) hẳn là khích lệ các độc giả gốc Dân ngoại nhiều, và phải khích lệ chúng ta hôm nay nữa.

I. KHÁM PHÁ SỨ ĐIỆP TIN MỪNG : Mc 7,31-37

1. Hoàn cảnh (31)


Có lẽ câu truyện bắt đầu từ c. 32, còn tác giả Maccô đã tạo ra c. 31 để cung cấp một cái khung địa lý cho bản văn, vì chúng ta biết rằng Xiđôn đã được nói đến ở 3,8, còn Thập Tỉnh đã được nhắc đến ở 5,20. Vậy c. 31 là câu nối bản văn với phần đi trước. Các chi tiết gom lại ở đây muốn nói đến các miền đất ngoại giáo chung quanh Galilê và nêu bật chủ trương phổ biến Tin mừng sang đất Dân ngoại. 

2. Đức Giêsu chữa người tàn tật (32-35)

Cuộc chữa bệnh có những cách thực hành quen thuộc trong các truyện phép lạ thời đó. Đức Giêsu đưa anh bệnh ra riêng. Tất cả chuyện này có ý là giữ bí mật về cách trị liệu của vị thầy. Các cơ quan có bệnh được vị thầy chạm đến. Vị thầy ấn ngón tay trên hai tai điếc, rồi bôi nước miếng lên cái lưỡi ngọng. Ngước mắt lên trời là để xin sức mạnh siêu phàm ; thở dài hay rên cũng nhắm như vậy. Tiếng epphatha trong bối cảnh phép lạ Hy lạp là lời phù chú không ai hiểu được ; nhưng trong Tin mừng Máccô, từ này đã được dịch ra rõ ràng (tương tự 5,41). Đức Giêsu cho người ta biết rõ ràng quyền lực của Người. Đây là lời Người nói với anh bệnh cho đến lúc này vẫn chưa có khả năng nghe được, chứ không phải là nói với các cơ quan bị bệnh. Tức khắc, anh này được lành ; sự kiện anh được lành được nêu ra như một điệp khúc đáp lại lời vừa được truyền ra. Rất có thể chi tiết "lưỡi bị buộc" có ý nói đến tên quỷ của bệnh, mà nay anh này đã được giải thoát khỏi.

3. Lệnh Đức Giêsu cấm phổ biến và phản ứng của dân chúng (36-37)

Đức Giêsu truyền cả anh bệnh đã lành cũng như những người có mặt phải giữ im lăng. Nhưng những người đã đón nhận được mạc khải trong phép lạ này không thể giữ kín được. Phản ứng hứng khởi của dân cho ta lời giải nghĩa thần học của phép lạ. Nhờ hoạt động của Đức Giêsu, cuộc tạo thành đã hỏng nay được tái thiết (x. St 1,31). 

II. CHIÊM NGẮM CHÚA GIÊSU :

Đọc lướt qua, chúng ta thấy đây là một bài tường thuật về một phép lạ chữa bệnh. Thật ra, bài này, cùng với các bài tường thuật về việc chữa người mù (8,22t ; 10,46t), là một lời cam kết rằng Đức Giêsu có thể mở tai, tháo lưỡi, mở mắt cho các môn đệ, và là một lời mời gọi các ông tin tưởng vào Người, và để Người giúp các ông. Hãy nhìn nhận sự giải thoát mà Người đã mang lại cho chúng ta. Cũng hãy cố gắng đón nhận sự giải phóng mà Người đang muốn ban cho chúng ta, trên nẻo đường Người đang mở ra trước mắt chúng ta, xuyên qua những ngờ vực và những nỗi sợ hãi, mà tiến về vinh quang của Người.

III. GỢI Ý BÀI GIẢNG :

1. Thiên Chúa đến cứu độ

"Thiên Chúa của anh em đây rồi. Chính Người sẽ đến cứu anh em". Tiên tri Isaia đã loan báo cho dân chúng như thế. Thiên Chúa đến giải thoát họ khỏi những hiểm họa nào ? Khỏi những kẻ thù nào ? Lần này, các mối nguy hiểm và các kẻ thù không đến từ bên ngoài. Nỗi cay đắng trong tim không do bị sỉ nhục hay bị xử tệ từ bên ngoài, nhưng do kinh nghiệm về giới hạn cá nhân, về sự tàn tật thể lý, điều này là chắc chắn, nhưng cũng kinh nghiệm về con tim làm chúng ta ra mù lòa câm điếc trong tương quan với người khác, khiến người ta sống những "quan hệ bệnh tật", khinh rẻ nhau, chiếm hữu nhau, ích kỷ. Con người và thiên nhiên, tất cả sẽ được Thiên Chúa chữa lành, và đều được dẫn tới đời sống mới, đều được thanh luyện, đều nên phong phú. Cái nhìn nhân ái của Thiên Chúa chữa lành, khuyến khích, nâng đỡ.

2. Loài người chỉ thấy dáng vẻ bề ngoài 

Ngược lại, cái nhìn của loài người, như Thánh Giacôbê ghi nhận, thì khác hẳn cái nhìn của Thiên Chúa. Cái nhìn của họ không đi xa hơn dáng vẻ bề ngoài của các sự vật ; họ không biết ghi nhận điều cốt yếu và sự phong phú mỗi con người có nơi chính mình, đó là được Thiên Chúa tuyển chọn và yêu thương. Ngay người có đức tin cũng phải để ý, vì cũng có thể rơi vào sự thiên tư và có những phán đoán không ngay thẳng ; người ấy cũng phải trông chừng trên chính trái tim của mình để tránh sự tây vị, không những vì có một cảm thức về công bình nhân loại, mà còn vì chính Thiên Chúa đang làm việc, đang đến gặp chúng ta và bắt gặp chúng ta khi chúng ta tiếp xúc với người nghèo. Khi chúng ta tiếp xúc với người khách lạ, người bệnh tật, tàn phế trong tim hoặc trên thân xác, chúng ta có cơ hội thực thi, học cách nhìn mỗi con người bằng chính cái nhìn của Thiên Chúa, cái nhìn dịu dàng, trong sự thật, tình yêu, trên các thụ tạo của Ngài.

3. Đức Giêsu chữa người tàn tật 

Trên một miền đất Dân ngoại, trong một chuyến đi với nhiều cuộc gặp gỡ, Đức Giêsu gặp một người vừa điếc vừa ngọng. Cuộc gặp gỡ công khai trở thành riêng tư, kín đáo, huynh đệ, gồm những cử chỉ cụ thể. Trước khi chữa anh lành, Đức Giêsu ngước nhìn lên trời, hầu như để chia sẻ với Thiên Chúa Cha cái nhìn tốt lành, dịu dàng, trân trọng đối với con người tàn tật, không thể diễn tả trọn vẹn chính mình ra và đón nhận những phong phú do tương giao với người khác. Mọi người đều kinh ngạc về hiệu quả đạt được do cái nhìn lên trời đưa lại cho người tật nguyền, vì anh được chữa lành thân xác và chữa lành cả quan hệ với những người khác. Trái tim chúng ta cũng đau phải chịu biết bao thứ tật nguyền, thứ giới hạn và mỏng dòn, mà biết bao phen chúng ta tìm cách che giấu bằng những thứ vỏ bên ngoài. Nhưng chính trong kinh nghiệm về yếu đuối này, chính trong khoảng không gian của sự nghèo nàn này, Chúa đến gần con người và đưa mắt nhìn với cái nhìn yêu thương, dịu dàng, khích lệ, vén mở cho ta thấy sự thật và vẻ đẹp của đời sống chúng ta, Người chữa lành chúng ta. q

IV. LỜI CẦU CHUNG :

Mở đầu : Anh chị em thân mến, chúng ta luôn cảm thấy mình yếu đuối, giới hạn, mong manh. Nhưng Thiên Chúa tỏ mình ra là Đấng toàn năng rất yêu thương chúng ta. Vậy chúng ta cùng cầu xin Ngài thương nâng đỡ chúng ta, hôm nay và mãi mãi.

1. "Anh em đừng đối xử thiên tư". Chúng ta cùng cầu nguyện, để Họi thánh biết mô phỏng theo gương sống của Đấng sáng lập, không ao ước có được quyền lực và uy thế, nhưng đáp ứng các nhu cầu cấp bách của loài người, với lòng khiêm tốn quảng đại.

2. "Chính Thiên Chúa sẽ đến cứu anh em". Chúng ta cùng cầu nguyện để Chúa nghe các tiếng kêu của người nghèo là nạn nhân của bất bình đẳng và bất công, và Ngài thay lòng đổi dạ những người giàu có ích kỷ.

3. "Người làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được". Chúng ta cùng cầu nguyện cho cuộc giải phóng các kẻ bị giam cầm, những người bị kết án bất công, cho việc chữa lành những bệnh nhân và an ủi những người đang đau khổ.

Lời kết : Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin thương nhìn đến chúng con đang bị giằng co giữa muôn vàn chuyện tiêu cực, bệnh tật trên thân xác, đau khổ trong tâm hồn, bất công trong xã hội, ích kỷ nơi đáy lòng. Xin thương giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ ấy, để chúng con yên tâm phụng sự Chúa và mưu ích cho anh chị em. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. 

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn