Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXIV Thường Niên A

Tin mừng Mt 18: 21-35: Trong đoạn văn này, Chúa Giêsu nhấn ngạnh đến việc thường xuyên tha thứ, chứ không đến các điều kiện cụ thể để được thứ tha. Nhưng trong đoạn song song Lc 17, 3-4, Người lại bắt việc tha thứ lệ thuộc lòng hối cải. Tại sao đòi buộc điều kiện cụ thể ấy?...


CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN A
 

NGÀY 13/09/2020
 



Tin mừng Mt 18: 21-35

 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

LỜI DẠY THA THỨ CHO NHAU DỤ

NGÔN NGƯỜI BẦY TÔI ÁC NGHIỆT


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Câu hỏi của Phêrô về việc thường xuyên tha thứ có phải là cảm hứng theo pháp luật không? Còn câu trả lời của Chúa Giêsu thì sao? Trong dụ ngôn, đâu là những chữ diễn tả lý do khiến ông chủ đã tha cho người tôi tớ mắc nợ lút đầu?

2. Con số 77 mà Chúa Giêsu dùng phát xuất từ đâu? Ngoài việc dùng con số 7 với ý nghĩa biểu trưng cổ điển là sự viên mãn, tròn đầy, phải chàng ở đây Chúa Giêsu cỡn ám chỉ đến một nhân vật Cựu ước nữa?

3. Trong đoạn văn này, Chúa Giêsu nhấn ngạnh đến việc thường xuyên tha thứ, chứ không đến các điều kiện cụ thể để được thứ tha. Nhưng trong đoạn song song Lc 17, 3-4, Người lại bắt việc tha thứ lệ thuộc lòng hối cải. Tại sao đòi buộc điều kiện cụ thể ấy?

4. Trong dụ ngôn, tất cả đều như có thật hay chỉ gồm những nét có tính cách tượng trưng?

5. Dụ ngôn nhấn mạnh đến số lần tha thứ hay đến đòi hỏi phải tha thứ để được thứ tha?

Cái liên kết đoạn này với đoạn trước là ý niệm tội lỗi. Nhưng ở đây nói rõ đó là tội trực tiếp can hệ đến người anh em, còn đoạn trên kia thì chẳng nhấn mạnh như thế. Người ta không xác định ở đây bản chất lẫn tính cách trầm trọng của lỗi phạm, nhưng hình như đề cập đến lãnh vực các thiếu sót đối với giới luật yêu thương, là giới luật căn bản "gồm tóm Lề luật và các ngôn sứ ".

2. Câu hỏi của Phêrô biểu lộ khuynh hướng cố hữu muốn hiểu giáo huấn Chúa Giêsu theo một nghĩa duy luật. Tâm hồn con người là vậy, bao giờ cũng thiên về việc lập điều lệ cho ân sủng hoặc trái lại lợi dụng nó! Câu trả lời của Chúa Giêsu thật rõ ràng, dụ ngôn kèm theo cũng sáng sủa: Ai đã được Thiên Chúa tha thứ thì phải thứ tha luôn luôn. Đoạn song song Lc 17, 3- 4, trong đó Chúa Giêsu bắt việc tha thứ lệ thuộc lòng hối cải cho thấy việc thi thố lòng nhân lành không phải là lời khích lệ thói xấu, nhưng trái lại nhằm đỡ nâng người phạm tội đứng lên.

3. Dụ ngôn quy hướng về giáo huấn căn bản vừa nói và còn chất chứa nhiều giáo huấn khác nữa:

a.Nó tỏ cho thấy Thiên Chúa, trong con người của vị vua, dù có quyền trên tôi lớ mình, nhưng vì trắc ẩn, đã bằng lòng không sử dụng quyền ấy và chịu mọi mất mát thiệt thòi.

b. Đồng thời nó nhắc lại đâu là thân phận của con người trước mặt Thiên Chúa: Một con nợ không thể trả nổi. Dù kê khai mọi thứ quí nhất mình có, dù thu vén mọi của giá trị nơi bản thân và nơi vật sở hữu, người tôi tớ vẫn biết rõ y không thể nào thỏa mãn các yêu sách của chủ y, dù đã đoan hứa này nọ. Nhưng nhà vua đã quyết định tha cho y chỉ vì ông "chạnh lòng thương xót" Người tôi tớ nợ lút đầu chỉ được tự do nhờ một sắc lệnh ân xá hoàn toàn vậy: "ông thả y về và tha bổng cả món nợ ".

c. Sau cùng, dụ ngôn cho thấy đâu là chủ đích, ý nghĩa của việc Thiên Chúa thứ tha. Người tôi tớ đã để lộ sự bất xứng của mình khi, "đi ra, y gặp một người bạn đồng liêu mắc nợ y 100 đồng bạc" và y đã bóp cổ đòi nợ. Xa cách chủ y, y đã quên... hay đúng hơn đã không hiểu rằng việc y được tha nợ chẳng phải là một may mắn tình cờ, song là một ân huệ, và ân huệ không xứng đó đòi buộc ở y một bổn phận, trói buộc y trong cuộc sống cụ thể nhất của y và từ đây phải soi sáng cùng hướng dẫn thái độ y đối với các anh em mình.

Với một ngôn từ cụ thể, Chúa Giêsu đặt ra ở đây vấn đề lớn của luận lý Kitô giáo, mà sau này sẽ trở thành một trong các chủ đề chính yếu của lời rao giảng sứ đố: "Anh em hãy cư xử sao cho xứng với Tin Mừng... " (Pl 1, 27), "Hãy mặc lấy người mới đã được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa" (Ep 4, 24), "Hãy là những người noi gương Thiên Chúa... " (Ep 5, 1). Thay vì noi gương chủ, người tôi tớ vô tâm đối xử với bạn mình không như chủ đã đối xử với y: "Há ngươi không phải thương xót bạn đồng liêu với ngươi sao, như chính Ta đã thương xót ngươi?". Ân sủng phát sinh một đời sống mới hoặc chẳng phải là ân sủng. Nó đánh đau khởi điểm chứ không phải sự tận cùng của các liên hệ giữa ta với Thiên Chúa.

4. Các "bầy tôi " của vua trong Thánh kinh cũng như ở Đông phương chỉ các viên chức triều đình. Ở đây hai viên chức xem ra thuộc về hai cấp bậc khác nhau: người ta không vay nợ 10.000 nén vàng mà không ăn xài xa xỉ; đối lại người lúng túng khi phải trả 100 đồng bạc nợ (tức tương đương với 1/3 lợi tức hàng năm của một người làm công nhật) chỉ có thể là một viên chức hạng quèn. Nếu dựa trên các cách bình giá tiền tệ của flavius Jotsèphe, một người đương thời với Chúa Giêsu, thì một nén vàng hồi đó tương đương với 10.000 đồng bạc (Ant. 17, 323) có nghĩa là món nợ 10.000 nén vàng tương đương với 100 triệu đồng: thành thử tỷ lệ giữa hai khoản nợ là 1/1.000.000. Số tiền này thật ra quá đáng và chẳng tương ứng với thực tế chút nào (vì ta biết tiền cống thuế của cả một tỉnh thuộc đế quốc Rôma thường chỉ vài trăm nén vàng chứ không hơn. Xem F.Josèphe, Ant 17, 11, 4): lý do duy nhất của con số khổng lồ ấy là "10.000 và "nén vàng" tượng trưng cho những gì quá sức vĩ đại (10.000 là con số cao nhất mà người ta dùng và nén vàng là kim bản vị lớn nhất được biết đến tại Cận đông thời đó). Với số tiền khổng lồ quá sức tường tượng như vậy, người ta chỉ muốn làm nổi bật sự đối nghịch với số bạc nhỏ bé 100 đồng. Thành thử dụ ngôn đã tiềm ẩn lời giải thích: đằng sau ông vua là Thiên Chúa, và đằng sau kẻ mắc nợ là con người với khả năng nghe sứ điệp thứ tha.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Đến bảy lần không?". Học thuyết Do thái giáo của các giáo sĩ có đề cập đến việc anh em tha thứ cho nhau, nhưng trong một hệ thống duy luật; người ta tranh luận về số lần tha thứ, và con số 4 thường được coi là tối đa; khi hỏi phải chăng tha đến 7 lần, Phêrô nghĩ là "cấp tiến" lắm đối với Thầy của ông.

"Đến 77 lần" (Nguyễn Thế Thuấn: 70 lần 7): trong câu Người trả lời, Chúa Giêsu lấy lại bài ca báo thù của Lamek nơi St 4, 24: "ca in được báo thù gấp bảy, nhưng Lamek tới 77 lần", song Người trở ngược lạ i trong nghĩa tha thứ. Con số đó muốn nói rằng việc báo thù hay việc tha thứ sẽ vô cùng vô tận.

"Ay vậy về Nước Trời thì cũng in như... ": Dụ ngôn này là của riêng một; nó diễn tả một cách cụ thể giáo thuyết của Huấn ca (28, 1- 7) mà Chúa Giêsu đã từng công bố (6, 14). Nhưng ở đây có đào sâu thêm về phương diện giáo thuyết. Huấn ca cho thấy sự chối từ tha thứ là một hành vi điên rồ từ phía người cần được tha thứ. Trong Tin Mừng, lòng nhân từ đã được chính nhà vua thi thố và lẽ ra phải nêu gương cho kẻ bầy tôi. Công thức nhập đề (dụ ngôn bất đầu với dữ cách: datit) không có ý nói Nước Trời giống như ông vua, như là bảo rằng trong Nước Trời do Chúa Ki-tô khai mạc, các sự việc sẽ xảy ra như dụ ngôn trình bày (ở đây bản dịch của BJ thật là tuyệt hảo).

Trong các trình thuật Thánh kinh, ông vua tượng trưng Thiên Chúa là ông vua phương Đông, có quyền tối thượng, quyền sinh sát trên mọi thần dân, vì làm vua là kiêm luôn chức vụ Thẩm phán tối cao. Động từ "tính sổ " (sunairoin, cũng như trong 25,19) có ý chỉ đó là những việc tính sổ dứt khoát và trọn vẹn.

"Tôn chủ ra lệnh bán y và vợ con...": Luật Do thái chỉ cho phép bán một người Israel trong trường hợp trộm cắp, khi tên trộm không thể hoàn trả đồ đã lấy (thế nhưng, ở đây chẳng nói người bầy tôi đã sống bất lương, mà chỉ bảo y không thể trả nợ nổi). Hơn nữa việc bán vợ là một việc bị cấm chỉ hoàn toàn. Thành thử câu chuyện giả thiết vua và bầy tôi đều là người ngoại giáo.

"Xin Ngài khoan hồng cho với...": người bầy tôi không xin tha, vì y hứa một ngày kia sẽ trả đủ nợ, y chỉ xin khất lại một thời gian. Ta cũng nhận xét được như vậy về đứa con hoang đàng xin cha cho mình làm việc như một gia nhân trong Lc 15,19.

"Tôn chủ... tha bổng cả món nợ": Nhà vua thi ân cho người tôi tớ gấp bội điều y xin: ông tha bổng cả món nợ. Thật là một hồng ân cao quí. Do đó người đầy tớ sẽ không lý nào mà sau đó lại tỏ ra tàn nhẫn; y chẳng mắc nợ gì nữa, mà còn giữ được gia sản mình, một gia sản chắc chắn không phải nhỏ. Động từ chỉ mối trắc ẩn của vua (chạnh lòng thương xót) thường thấy xuất hiện với nghĩa ấy trong Cựu ước và Tân ước (Mt 9, 36 ; 15, 32 ; 20, 34 v.v...)

"Xin khoan hồng cho tôi với... ": Những lời đây cũng giống những lời mà viên chức cao cấp đã thốt lên lúc nãy, nhưng không có chữ "hết", vì lần này chẳng đáng giá bao nhiêu và con nợ có thể trả nổi mà không cần minh nhiên bảo đảm sẽ giao hoàn trọn vẹn. Qua hai lời van xin tuyệt đối giống nhau ấy, chắc chắn một muốn làm nổi bật sự song song giữa hai con nợ, và do đó làm nổi bật nét tương phản giữa thái độ nhà vua và thái độ viên chức cao cấp.

"Y lại đi bỏ tù": Ngục tù xem ra không phải là phương thế tốt để con nợ có thể xoay sở mà trả hết bạc tiền. Nhưng người ta có thể bắt đương sự lao động, như người Rôma xưa vẫn làm; hoặc con nợ sẽ quyết định đem bán các của cải chìm để trả, hay bạn bè y sẽ thanh toán cho y.

"Cho lý hình": ở Israel chẳng có việc tra tấn,.nên đây còn là một bằng chứng cho thấy câu chuyện không xảy ra tại Palestine. Ở phương Đông có luật dùng biện pháp tra tấn đối với các quan lại bất trung hay chểnh mảng trong việc đóng thuế, để khám phá ra nơi họ chôn dấu tiền bạc, hoặc để làm áp lực với thân nhân, bằng hữu. Khi miêu tả các phương sách tài phán xa lạ với người Do thái và bị họ coi như là vô nhân đạo, Chúa Giêsu muốn cho thấy hình phạt thật ghê rợn đến độ nào.

"Cũng vậy Cha Ta, Đấng ngự trên trời, sẽ xử với các ngươi": Ở đây cũng như nhiều nơi khác (6, 14-15 ; 7, 1-2 v.v...), Chúa Giêsu láy lại học thuyết Do thái về hai "đấu", nhưng Người biến đổi nó hoàn toàn (thật không phải là chuyện tình cờ nếu văn chương Do thái chẳng cống hiến một dụ ngôn nào song song với dụ ngôn chúng ta). Do thái giáo dạy rằng Thiên Chúa dùng hai "đấu" để cai trị thế giới: lòng nhân ái và sự công bằng. Tuy nhiên trong ngày phán xét cuối cùng, công bằng là đấu duy nhất còn lại: "Đấng Tối cao sẽ xuất hiện trên ngai trong tư thế vị thẩm phán. Bấy giờ sẽ là cùng tận, lòng nhân ái sẽ biến mất, niềm trắc ẩn sẽ xa đi và đức nhẫn nại sẽ tiêu tan..." (4Edr 7, 33). Trái lại Chúa Giêsu dạy rằng vẫn còn lòng nhân ái trong ngày Chung thẩm; nhưng vậy thì lúc nào Thiên Chúa sẽ sử dụng đấu nhân ái và lúc nào sử dụng đấu công bằng? Chúa Giêsu trả lời: ở đâu mà sự tha thứ của Thiên Chúa thúc đẩy đến thái độ sẵn sàng thứ tha, ở đó lòng nhân ái của Ngài sẽ tuyên bố tha bổng; còn kẻ nào chẳng biết sử dụng hồng ân thứ tha của Thiên Chúa, thì sẽ bị sự công bằng của Ngài luận xử cách nghiêm khắc, như thể y chưa bao giờ được tha thứ vậy.

KẾT LUẬN

Kết luận của câu 35, lấy lại các đoạn trong Diễn từ trên núi (6, 14- 15 ; 7, 1 -2) về việc tha thứ và xét xử nhau, cho thấy rằng cuối cùng tất cả đều sống đời sống của kẻ được tha thứ đều tùy thuộc vào cuộc phán xét dứt khoát thời cánh chung, khi Thiên Chúa sẽ trả cho mỗi người theo công việc họ đã làm. Do đấy ngay từ bây giờ, ai nấy đều bị xét xử theo cách họ tiếp đón và san sẻ cho anh em ơn tha thứ đã nhận được từ Chúa Cha. Mỗi người càng "thật tâm " tha thứ cho anh em mình bao nhiêu, như Thiên Chúa thứ tha họ, thì ơn tha thứ luôn luôn đi đầu của Chúa Cha sẽ được thể hiện bấy nhiêu trong cộng đoàn và trong mỗi kẻ đã biết san sẻ nó cho anh em Như vậy ta thấy rõ ràng lời cầu xin của Kinh Lạy Cha: "Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" (6, 12) thật là sâu xa và mối chân phúc thứ năm: "Phúc cho những kẻ biết xót thương vì họ sẽ được thương xót" (5,7) thật là đúng vậy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Vị vua tha bổng một số nợ kếch xù, chỉ vì người ta cầu xin như thế, chính là Thiên Chúa. Lòng nhân lành của Ngài thật vô biên, và thực thể số nợ lại vượt quá sức loài người. Trong dụ ngôn hôm nay, Ngài mặc khải cho ta thảy vẻ uy nghi, sự cao cả và lòng thương xót bao la của Ngài. Nhưng không chỉ có vậy mỗi người chúng ta đều tiết rằng mình cần lòng nhân ái vô biên đó để có thể đứng vững trước mặt Thiên Chúa vì chúng ta cứ chồng chất thêm nợ nần mãi như người bầy tôi thứ nhất của dụ ngôn. Nếu Thiên Chúa tha nợ cho thì trước mặt Ngài, ta vẫn còn như người bầy tôi chỉ sống nhở lòng hào hiệp và nhân ái của chủ.

2.Chính vì thế mà ta hiểu rằng bổn phận tha thứ cho anh em cũng chẳng có giới hạn. Kẻ được hưởng một lòng thương xót vô biên, không được khép kín mình lại và để con tim ra chai đá. Kẻ đang nợ nần vô số chớ nên coi một ai khác như có mắc nợ với chính mình. Vì Thiên Chúa lấy đấu nào mà đong cho ta, ta cũng phải lấy đấu đó đong lại cho anh em. Mối tương quan của ta đôi với anh em phải được qui định bởi mối tương quan của ta đối với Thiên Chúa. Chính vì thế Ngài yêu cầu ta hãy sẵn sàng hoa giải với nhau, đừng hạn chế chút nào. Chỉ với cách đó mà ta mới có thể hy vọng được cứu rối trong ngày phán xét sau hết.

3. Mối liên hệ giữa anh em nhờ đấy được nâng lên một bình diện khác hoàn toàn. Tất cả chúng ta đối với nhau đều như những người sống nhờ lòng nhân n ái của cùng một Thiên Chúa. Sứ mệnh của ta là san sẻ cho nhau và gieo rắc ngằn nào có thể lòng nhân ái đã được thi thố cho ta như thế.

 
Noel Quession - Chú Giải


Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: "Thưa Thầy nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?"

Chúa nhật trước, chúng ta đã nghe từ miệng của Đức Giêsu thái độ phải có đối với "người anh em trót phạm tội".

Nhưng ngày hôm nay Phêrô đưa ra một vấn đề có tính chất cá nhân hơn. Trường hợp được xác định: Giờ đây không còn là một tội lỗi nói chung có nguy cơ làm hư hỏng cộng đoàn, nhưng là một sự xúc phạm mà một cá nhân phải chịu. "Nếu có một người nào đó xúc phạm đến con…"

Phản ứng đầu tiên, hầu như là theo bản năng của người bị xúc phạm là phải trả đũa lại. Sự trả thù theo Kinh Thánh như một con dã thú nằm phục trong bóng đêm ở cửa nhà, sẵn sàng nhảy ra nhe răng và vượn vuốt (Sáng Thế 4,7). Sự nhận xét này rất sâu sắc. Con dã thú ấy ở đâu đó trong lòng con người. Luật rừng là tự vệ đê sinh tồn thế thôi. Bản năng này làm cho sự tha thứ trở thành khó khăn. Trong Tin Mừng mà chúng ta sắp nghe là lời giải đáp cho một trong những vấn đề thời sự nóng bỏng. Nhân loại có thể sống... trong sự leo thang của bạo lực mà chúng ta thấy hôm nay? Có thể nào phá vỡ cái vòng tròn quỷ quái của thù hận mà lòng thử ghét, khiêu khích. đe dọa, trả thù cột chặt vào nhau bằng dây xích? Nhưng không cần phải đi tìm những xung đột chính trị hay quốc tế đầy ắp các trang báo, các bản tin trên đài hoặc trên truyền hình…

chúng ta phải dám nhìn thật gần vào chính chúng ta, trong cuộc sống mỗi ngày, bạo lực tiềm ẩn đang đầu độc bao mối quan hệ con người của chúng ta. Với sự linh hoạt thường có và sự thẳng thắn của một con người của dânn chúng, Phêrô nhấn mạnh với Đức Giêsu rằng dù sao có những sự tha thứ vượt qua giới hạn! Tha thứ "một lần", "hai lần", "ba lần", thêm nữa? (Trong các trường học của các kinh sư vào thời Đức Giêsu, người ta nhượng bộ đến "bốn lần"). Vì thế Phêrô tưởng rằng mình rất quảng đại khi đề nghị tha thứ đến bảy lần cho kẻ tái phạm không chịu sửa chữa và không ngừng làm chúng ta đau khổ.

Đức Giêsu đáp: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy".

Một lần nữa với sự tự chủ rất cao cả, Đức Giêsu làm nổ tung mọi tính toán của chúng ta và mời gọi chúng ta tha thứ đến vô cùng: Người nói, phải luôn luôn tha thứ và để biểu lộ tất cả sự mới mẻ của cuộc cách mạng chân chính đối với nhân loại, Đục Giêsu đã ám chỉ đến bài ca cổ xưa nhất nhưng cho nó ý nghĩa trái ngược. Con người đã ca bài ca này từ lâu. Đó là bài ca dữ tợn mà La-méc hát cho các bà vợ ông, đây là tiếng vang của lòng thù hận giữa các bộ tộc nguyên thủy: "A-đa và Xi-la, hãy nghe tiếng ta? Thê thiếp của La-méc, hãy lắng tai nghe lời ta! Vì một vết thương, ta đã giết một người, vì một chút sây sát ta đã giết một đứa trẻ. Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy" (Sáng Thế 4,23-24).

Nếu tôi lấy ác báo ác, thì cái se sẽ ngừng lại ở đâu?

Lòng thương xót, tha thứ hẳn là một giá trị độc đáo của thái độ mà Đức Giêsu đề cao. Mỗi tôn giáo, và cả những phong trào chính trị, chiến đấu chống lại điều xấu và thương cảm đối với những người đau khổ... nhưng giữ khoảng cách đối với những người "làm điều ác. Cái mới đặc biệt của Đức Giêsu đó là sự khổ nạn của Người, Người vốn vô tội bị các đao phủ hành hạ thế mà Người đã nhìn những kẻ đóng đinh Người để tha thứ cho họ. "Lạy Chúa, xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết việc ho làm" (Lu ca 23,33).

Còn bạn, bạn đã khổ sở khi tha thứ bạn hãy nhìn lên Thánh Nhan Chúa.. ,khuôn mặt hiền từ không chống cự của Đức Giêsu trên thập giá.

Vì thế Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách, khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn. đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn nén vàng. Y không có gì để trả nên tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ.

Rõ ràng, đây là một dụ ngôn do óc tưởng tượng của một thiên tài kể chuyện Phương Đông. Tổng số tiền nợ là do tưởng tượng. Sử gia Flavius Joseph cho chúng ta một điểm so sánh khi thuật lại rằng vào năm thứ tư trước công nguyên hai tỉnh Galilê và Pêrê nộp hai trăm nén vàng tiền thuế nghĩa là chỉ bằng một phần năm mười con số mà Đức Giêsu kể ra ở đây. Con số không tưởng này chỉ có ý nghĩa tượng trưng, với một điểm khôi hài. Đức Giêsu muốn dạy cho chúng ta hiểu một điều quan trọng trong phần tiếp theo của câu chuyện. Sự tò mò của người nghe được kích thích. Điều gì sẽ xảy ra? ông vua đó là ai dể có những con nợ như thế? Người không thể trả nợ có thể làm gì.

Bấy giờ tên đầy tớ ấy sấp mình xuống bái lạy: Thưa Ngài xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết. Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương cho y về và tha luôn món nợ...

Đây là một món quà vượt qua mọi sự tưởng tượng: 60 triệu ngày công?

Vậy điều gì đã xảy ra từ quyết định đầu tiên của ông vua đòi hỏi phải thực hiện công lý đến quyết định thứ hai này, tha hết mọi món nợ?

Đức Giêsu nói với chúng ta điều đó: "Tôn chủ chạnh lòng thương trước sự khẩn cầu khóc lóc của con nợ ấy". Chúng ta gặp lại ở đây chữ Hy Lạp "splagchnistheis" có nghĩa đen là "cảm động đến ruột gan". Đây là một từ mà các tác giả Tin Mừng dành riêng cho Đức Giêsu động lòng thương xót trước sự khóc lóc của bà góa thành Na-im (Lu ca 7,13 ) , hoặc khi Người xúc động vì vết thương mưng mủ máu của một người bị bệnh phong hủi (Mác-cô 1,41), hoặc khi Người đau buồn trước những đám đông chán nản và bị bỏ rơi như bầy chiên không người chăn dắt (Mát-thêu 14,14 - 15,32).

Điều mà Đức Giêsu muốn cho chúng ta hiểu món tiền nợ quá lớn đó chính là: Thiên Chúa thì vô cùng, và với lòng thương xót vô cùng, Người có thể tha thứ' tất cả!

Tổng số điều ác, xấu trong thế gian cộng lại không thể tính nổi: Thiên Chúa "động lòng thương xót tha hết mọi món nợ. Vâng, Đức Giêsu nói Thiên Chúa là như thế.

Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y môt trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: "Trả nợ cho tao?". Bấy giờ Người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: "Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh". Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ.

Con người ấy thật là đê tiện! Hắn không biết gì về lòng tốt mà hắn vừa được hưởng, không nghe lời cầu khẩn của người đồng bạn, cũng dùng những từ ngữ như hắn, hắn đòi phải được trả lại món nợ nhỏ xíu: một phần sáu trăm ngàn của món quà mà nó nhận được! Con người ấy thật là bất nhân Lương tri của dân chúng nghe lời giảng dạy của Đức Giêsu không thể chịu đựng một sự bất công như thế.

Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. Bấy giờ tôn chủ cho đòi y đến và bảo: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho người, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao ". Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ cho ông…

Chúng ta chớ kẹt cứng vào một chi tiết cụ thể nào đó mà phải di đến điều chủ quan. ông vua này không phải là một ông vua thông thường. Bỗng dưng cũng qua lời Đức Giêsu, ông trở thành một ông Thẩm Phán đáng sợ vào ngày cánh chung: Một ông vua xét xử người ta dựa vào tình yêu mà họ dành cho nhau! (Mát-thêu 25,31-46).

Chúng ta không quên câu hỏi mà Phêrô đã đưa ra lúc nãy Và chúng ta cảm thấy rất khó khăn khi phải tha thứ.

Một lần nữa, đây không phải luận cứ của luân lý hay xã hội học, vì dù chúng có cao siêu, Đức Giêsu cũng không rút ra từ đó những lý do cho những gì Người đòi hỏi chúng ta. Sự tha thứ cho nhau, theo Đức Giêsu, được đặt trên nền tảng chính yếu là chúng ta được Thiên Chúa ban ân tha thứ. Vậy muốn có khả năng hòa giải, chúng ta phải nhìn về phía Thiên Chúa: Có lẽ chúng ta có thể tha thứ cho những ai đã làm khổ chúng ta khi chúng ta có ý thức rất nhiễu về sự tha thứ mà chính chúng ta đã nhận được. Vấn đề là làm phản chiếu trên đồng bạn chúng ta tình yêu nhân hậu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta chớ vội vàng cho rằng dụ ngôn này không liên quan đến chúng ta Hoặc tệ hơn nữa, chỗ tìm kiếm

những lý do rất tinh vi rút ra từ sự đầu độc của các ý thức hệ về tập thể trong thế giới khắc nghiệt mà chúng ta đang sống (sự xung đột há không cần thiết sao! ). Biện minh cho thái độ khước từ tha thứ quá dễ. Bài Tin Mừng này bắt mỗi người chúng ta phải suy nghĩ. Tôi có can đảm nhìn kỹ cuộc đời mình, và đặt những cái tên và những khuôn mặt có thể lên những nhân vật của bài "dụ ngôn" HÔM NAY?

ấy vậy Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.

Tư tưởng này rất quan trọng... vì thế Đức Giêsu bảo chúng ta đọc lại mỗi ngày trong kinh nguyện: "Xin tha tội cho chúng côn như chúng con cũng tha -cho những người có lỗi với chúng con (Mát-thêu 6,12-14). "Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong- đấu ấy cho anh em" (Mát-thêu 7,2 ; Lu ca 6,38).

Thiên Chúa không trừng phạt ai. Chính con người tự trừng phạt mình. Thiên Chúa yêu thương người đầy tớ không có lòng thương xót và sẵn sàng tha thứ cho anh ta lần nữa. Nhưng anh ta, đóng kín lòng mình trước sự tha thứ ấy qua việc không tha thứ cho người khác. Hỏa ngục, chính khi nói không có tình -yêu thương. Đức Giêsu đã lấy lòng nhân hậu mà bảo cho chúng ta biết rằng không yêu thương thật là khủng khiếp. Anh em hãy tha thứ.

 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy"(Mt 18,21-35).

I.Ý CHÍNH:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu giáo huấn các môn đệ về vấn đề phải tha thứ cho nhau, vì tha thứ để được Thiên Chúa thứ tha.

II.SUY NIỆM:

1/ "Lạy Thầy khi anh em xúc phạm đến con.."

Khi khuyến dụ về vấn đề phải sửa lỗi cho nhau. Chúa Giê-su không xác định về loại lỗi phạm nào, nhưng khi dạy về sự tha thứ ở đây thì Chúa Giê-su lại nói rõ về những lỗi xúc phạm đến chính người tha thứ. Và như vậy có thể nói đây là những lỗi phạm đối với luật yêu thương là giới luật căn bản: "gồm tám lề luật và các tiên tri".

"Con phải tha cho họ mấy lần."

truyền thống giới hạn của người Do Thái giới hạn việc tha thứ 2,3,4 lần là cùng (G33,39. Am 1,3; 6,9). Khi Phêrô nói tới bảy lần là có ý tỏ lòng khoan dung lắm rồi. Thế nhưng Chúa Giê-su vẫn chưa bằng lòng.

2/ "Thầy không bảo con phải tha đến 7 lần..":

Bảy mươi bảy lần: có bản ghi là 77 lần 7, trong câu trả lời này, Chúa Giê-su đã đưa vào bài ca báo thù của Lamek nơi sách sáng thế 4,24 "Cain được báo thù gấp 7, nhưng Lamek tới 70 lần 7". Nhưng thay vì nói báo thù thì Chúa Giê-su lại nói tha thứ. Cả hai cách nói đều có ý nói số lần là vô hạn vì thế ở đây Chúa dạy là phải tha thứ luôn.

3/ "Vấn đề này thì nước trời cũng giống như…":

Đến đây Chúa Giê-su lấy dụ ngôn về người đầy tớ bất nhân để giải thích về sự tha thứ.

Nước Trời giống như ông vua kia…: không có ý nói đến Nước Trời giống như một ông vua, nhưng có ý bảo rằng Nước Trời do Chúa Giê-su khai mạc, các sự việc sẽ xảy ra như dụ ngôn trình bày.

Ong vua kia: trong Kinh thánh, ông vua tượng trưng Thiên Chúa, là ông vua Phương Đông, có quyền tối thượng, quyền sinh sát trên mọi thần dân. vì làm vua là kiêm luôn chức vụ thẩm phán tối cao.

Tính sổ: có ý chỉ đó là những việc tính sổ dứt khoát và trọn vẹn theo sự công bình.

Các đầy tớ: trong Kinh thánh đầy tớ không luôn luôn chỉ các nô lệ hay tôi đòi, nhưng nhiều khi chỉ các nhân vật quan trọng nữa (1Sm 8,14.2V 5,6. Mt 13,27. 25,14-30). Đầy tớ ở đây được hiểu là những tội nhân đối với Thiên Chúa và cũng là thụ tạo của Người.

4/ "Một người mắc nợ đến 10 ngàn nén bạc."

Một nén bạc thời đó tương đương với mười ngàn đồng bạc và món nợ 10 ngàn nén bạc tương đương với 100 triệu đồng. Đây là món nợ khổng lồ, diễn tả tội loài người phạm đến Thiên Chúa thì nặng vô cùng.

5/ "Người này không có gì để trả nên chủ ra lệnh…":

vì món nợ quá lớn khiến con nợ không có cách nào để trả nợ. Cũng vậy, tội con người xúc phạm đến Thiên Chúa quá nặng, khiến con người không có cách nào đền trả cho cân xứng.

Chủ ra lệnh bán y, vợ con cùng tất cả tài sản.

Trong Kinh thánh có nói đến trường hợp khi không trả được nợ thì chủ nợ bắt con nợ làm nô lệ để đền nợ (2V 4,1).

Lệnh của ông chủ ở đây cho thấy cả gia đình đều liên đới với món nợ, điều này cho thấy hiệu quả của tội lỗi không giới hạn của một người.

6/ "Xin vui lòng cho tôi khuất một kỳ hạn…"

Người đầy tớ này không xin tha nợ vì ý thức được bổn phận phải trả nợ. Vì vậy đòi hỏi tội nhân phải ý thứ về tội của mình.

nhưng y hứa một ngày kia sẽ trả đủ nợ, vì thế y chỉ xin khuất lại một thời gian. Ơ đây diễn tả quyết tâm trả nợ. Cũng vậy, đòi hỏi tội nhân không những có ý thức về tội mà còn phải quyết tâm đền tội nữa. mặc dù vậy đền tội của mình chẳng bù lại tội mình đã xúc phạm đến Thiên Chúa. về ý nghĩa này, chúng ta cũng gặp thấy nơi trường hợp đứa con hoang đàng xin cha cho mình làm việc như một kẻ làm công (Lc 15,19).

7/ "Người chủ động lòng thương..":

cho dù món nợ quá lớn, nhưng thấy con nợ xin khất và hứa trả thì ông chủ động lòng thương: không những không bán y , vợ con và tài sản của y mà còn tha hết nợ nần nữa.

cũng vậy, tội dù có nặng đến đâu đi nữa nhưng nếu tội nhân biết ý thức và quyết tâm chừa cải thì Chúa cũng động lòng thương ban ơn tha thứ và còn ban nhiều hơn điều họ xin nữa.

8/ "Gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc…":

số tiền nợ này quá nhỏ, so với số tiền nợ quálớn đối với ông chủ. Ơ đây có ý nhấn mạnh về hai món nợ quá chênh lệch để diễn tả ta xúc phạm đến Thiên Chúa thì quá nặng, còn tội ta xúc phạm đến anh em thì quá nhỏ nhặt. Lý do là vì tội phạm đến Thiên Chúa là đấng tốt lành vô cùng, nên việc ta xúc phạm xét bề ngoài dù có nhỏ bé, nhưng hậu quả thật lớn lao.

9/ "Y tóm lấy cổ mà nói..: "hãy trả nợ cho ta"

Diễn tả thái độ khắc nghiệt của tên đầy tớ chủ nợ đối với con nợ của mình. tương phản với thái độ nhân từ của ông chủ nợ đối với tên đầy tớ này. Thiên Chúa thường nhân từ với ta là tội nhân, nhưng ta lại thường có thái độ khắc nghiệt đối với anh em xúc phạm đến mình.

10/ "Xin vui lòng cho tôi khuất ột kỳ hạn…":

Lời khẩn khoản xin khất này cũng giống như khẩn khoản xin khất trên kia, chứng tỏ cả hai trường hợp đều có quyết tâm đền trả.

Matthêô muốn trình bày song song giữa con nợ để làm nổi bật nét tương phản giữa thái độ của ông chủ với thái độ của tên đầy tớ khắc nghiệt đối với con nợ. một bên khoan dung tha thứ, một bên khắc nghiệt độc ác với con nợ.

11/ "Y không nghe, bắt người bạn ống giam vào ngục":

Ơ trong tù không phải là phương tiện tốt để con nợ có thể xoay sở mà hết trả nợ. nhưng người ta có thể lao động cưỡng bức để trừ dần món nợ, hoặc nhờ người nhà bán đồ đặc để lấy tiền trả nợ, hoặc xin bạn bè giúp đỡ. Ơ đây nói lên sự độc ác của tên đầy tớ chủ nợ đã không biết khoan dung với con nợ của mình như mình đã được ông chủ khoan dung tha nợ. cũng vậy, tội nhân muốn được khoan dung tha thứ, nhưng lại không muốn tha thứ cho anh em mình. đó al2 điều mâu thuẫn đáng phạt.

12/ "Các bạn y chứng kiến cảnh tượng ấy rất khổ tâm..":

Diễn tả người có thành tâm thiện chí, có lòng tốt thì không thể chấp nhận sự ác tự do hoành hành. Vì thế họ đi thuật lại với ông chủ tất cả câu chuyện, để tìm cách chận đứng sự ác.

13/ "Sao ngươi không chịu thương bạn như ta đã thương ngươi":

Thiên Chúa là tình thương và Ngài đã làm gương mẫu đó qua hình ảnh ông chủ nợ nhân từ đối với đầy tớ mắc nợ ông tình thương tha thứ trở thành một điều kiện ta phải thực hiện để được tha thứ "xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha nợ cho những kẻ mắc nợ với chúng con" là vậy đó.

14/ "Chủ nổi giận trao ngươi cho lý hình":

Việc không tha thứ cho nhau không những là điều độc ác với anh em mà còn phải bội lòng thương yêu khoan dung của Thiên Chúa nữa, khiến Người phải nổi giận, tức là khiến Người không thể tha thứ được nữa nên Người giáng phạt tội nhân.

Kiểu nói "Cho lý hình hành hạ" diễn ra một thứ hình phạt ghê rợmvô cùng.

15/ "Vậy Cha trên Trời cũng xử các con đúng như thế":

Lời Chúa Giêsu kết luận về dụ ngôn trên nói lên điều kiện để được Chúa tha thứ tội lỗi , là ta phải thực lòng tha thứ cho nhau.

III.ÁP DỤNG:

A/Ap dụng theo Tin-Mừng:

Qua bài Tin-Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắn nhủ chúng ta phải có lòng từ tâm tha thứ những xúc phạm của tha nhân để xứng đáng được ơn tha thứ của Chúa.

B/Ap dụng thực hành:

1/Nhìn vào Chúa Giê-su:

Nghe giáo huấn của Người.

Thầy không bảo phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy: Chúa nhắc nhở ta phải tha thứ cho nhau, tha luôn mãi và tha luôn điều kiện. Việc tha thứ này là việc tha cho tội nhân chứ không phải tha tội, vì chỉ mình Thiên Chúa mới là người có quyền xét xử tội và phúc thôi.

Về vấn đề này: Nước Trời giống như ông vua kia: Chúa Giê-su dùng dụ ngôn này để giải thích về sự tha thứ cho nhau. Qua dụ ngôn này chúng ta nhậnra bài học như sau:

a) bài học chính là:ai đã được Thiên Chúa tha thứ thì phải tha thứ cho nhau luôn luôn. Đoạn song song Lc 17,3-4, trong đó Chúa Giê-su bắt việc tha thứ lệ thuộc lòng hối cải, cho thấy việc tha thứ không phải là lời khích lệ thói xấu nhưng nhằn nâng đỡ bệnh nhân đứng lên.

b) Những bài học khác:

Dụ ngôn này cho thấy Thiên Chúa trong con người của vị vua, chủ nợ dù có quyền trên tôi tớ mình, nhưng vì trắc ẩn động lòng thương, đã bằng lòng không sử dụng quyền ấy và chịu mọi mất mát thiệt thòi.

Dụ ngôn nhắc lại đây là thân phận con người trước mặt Thiên Chúa, một conm nợ không thể trả nổi, chúng ta chẳng bao giờ đền hết tội của mình đối với Chúa, nhưng nếu nhà vua quyết định tha cho con nợ chỉ vì ông chạm lòng thương xót" thì chúng ta cũng chỉ tha thứ nhờ lòng thương xót của Chúa ban ân xá hoàn toàn thôi.

Dụ ngôn này cho thấy ý nghĩa việc Thiên Chúa thứ tha: việc Thiên Chúa thứ tha cho ta là một ân huệ, ân huệ này đòi ta phải phát sinh một đời sống mới, nghĩa là phải giải bày ân huệ ấy bằng việc tha thứ cho anh em mình luôn mãi.

2/ Nhìn vào Phêrô

Đôi khi chúng ta cũng có lòng sốt sắng như Phêrô muốn tha thứ cho anh em mìn, nhưng sự tha thứ này vẫn có những giới hạn và có điều kiện vì nó còn ở ý riêng mình: tha 7 lần thôi, nhưng Chúa đòi ta phải tha thứ theo tinh thần của Chúa là vô giới hạn và vô điều kiện.

3/ Giáo lý về sự tha thứ:

a) Ngay từ trong Cựu Ước, giáo lý về sự tha thứ cho đồng loại dễ được Chúa nghe lời cầu xin đã được đề cao (Mc 28,1-7).

b) Luật báo thù tương đương "mắt đền mắt răng đền răng" đã được Chúa sửa lại bằng luật tha thứ và yêu thương (Mt 5,38).

c) Luật tha thứ này được Chúa ghi lại một trong tám mối phúc (Mt 5,7) và trong kinh lạy Cha như một điều kiện để được tha thứ tội lỗi(Mt 6,12).

d) Khi tha thứ đừng bận tâm về những bất công do tội lỗi người khác đã gây ra vì "oán phạt thuộc về ta. ta sẽ trả oán"(Rm 12,14)

4/ Mấy áp dụng thực hành:

a) Tha thứ là tham dự vào bản tính nhân lành của Thiên Chúa. Khi tha thứ không những ta không bị mất mát mà còn nâng giá trị bản thân minh lên cao nữa.

b) Cũng như lời đầy tớ trong Dụ ngôn được chủ đối xử nhân từ hơn điều họ có ý xin. Thiên Chúa vẫn đối xử với ta như vậy. ta cần tìm hiểu và ý thức sự cao sâu lòng nhân từ của Chúa.

c) Trong con người ta có khuynh hướng hay tìm báo thù bằng những hình thức khó nhận ra. nhờ xét mình nguyện gẫm, ta sẽ tìm được những hình thức đó và luyện tập để vượt thắng.

d) Khiêm tốn nhận biết mình có lỗi cần được Chúa tha thứ. Điều này dễ giúp ta dễ tha thứ cho người khác. trái lại càng tự phụ kiêu căng, càng khó tha thứ cho người khác.



 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

"Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ"

Hc 27,30-28,1-7 ; Rm 14,7-9 ; Mt 18,21-35

Liền sau thế chiến thứ hai chấm dứt, Bà Corrie-Ten-Boom, với những vết thẹo trên thân thể, tàn tích của những khổ hình mà bà phải chịu trong trại tập trung Đức Quốc Xã, đã dấn thân đi khắp các nước Âu Châu để rao giảng sự tha thứ cho những kẻ đã làm hại mình. Bà rao giảng sứ điệp tha thứ với niềm xác tín là chính mình đã thực sự tha thứ cho tất cả những ai đã hành khổ bà trong trại tập trung.

Nhưng vào một ngày Chúa Nhật kia, sau khi đã kêu gọi mọi người tha thứ cho nhau trong nhà thờ của thành phố Munich, ở Đức, bước ra ngoài, bà Corrie-Ten-Boom bất ngờ đối diện với một gương mặt quen thuộc, đó là dung mạo của người lính đã hành khổ bà và hàng ngàn nữ tù nhân khác trong trại tập trung Đức Quốc Xã. Những tiếng than khóc, những cảnh tra tấn phút chốc xuất hiện trong tâm trí bà. Những tiếng kêu trả thù nổi dậy mạnh mẽ trong tâm trí bà. Người đàn ông tiếng lại gần khiêm tốn đưa tay ra vừa muốn bắt lấy tay bà vừa nói: "Thưa bà, tôi rất cảm ơn những lời đẹp đẽ bà đã kêu gọi cho sự tha thứ, xin bà tha thứ cho tôi".

Lúc đó, bà Corrie-Ten-Boom như chết điếng người, vì trước đây nhiều lần bà đã cầu nguyện và đã nhất quyết với Chúa là đã tha thứ thật sự cho kẻ hành khổ mình, nhưng giờ đây phải đối diện với một người cụ thể đã từng tra tấn mình, bà Corrie-Ten-Boom đứng lặng im, hai tay không thể nào đưa ra bắt lấy đôi tay của người đến xin bà tha thứ.

Sau này, vào năm 1971, khi kể lại biến cố trong tập sách có tựa đề: "Nơi ẩn trốn", bà Corrie-Ten-Boom đã cho biết như sau: "Trong giây phút thinh lặng đó, tôi đã cố gắng dâng lên Chúa một lời cầu nguyện thầm: "Lạy Chúa, Chúa thấy con chưa thể tha thứ cho người đã hành khổ con. Xin Chúa hãy ban cho con những tâm tình của Chúa để con có thể tha thứ như Chúa". Và chính trong lúc đó, bà đã hiểu là con người chỉ có thể tha thứ cho nhau khi nhìn nhận tình thương yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Tại sao phải tha thứ cho nhau?

Không phải chỉ bây giờ chúng ta mới đặt ra câu hỏi này. Khi Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng của tình thương và sự tha thứ, thì các môn đệ cũng đã đặt ra câu hỏi tương tự như vậy.

Tại sao phải tha thứ và tha thứ bao nhiêu lần?

Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho câu hỏi chúng ta vừa đặt ra: Tại sao phải tha thứ và phải tha thứ đến bao nhiêu lần? - Chúng ta phải tha thứ cho nhau, vì Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Chúng ta cần tha thứ luôn luôn cho anh em, vì Thiên Chúa luôn luôn tha thứ cho chúng ta.

Như thế, tha thứ là sống noi gương Thiên Chúa Cha, Đấng đầy lòng nhân từ và giàu lòng thương xót. Tình thương tha thứ là một phát minh tuyệt vời của Thiên Chúa để giúp con người sống hiệp thông với Ngài và hiệp thông với nhau, để xây dựng tốt đẹp cộng đoàn xã hội.

Nếu như từ đầu, khi con người phạm tội xa cách Ngài mà Thiên Chúa đã không có biện pháp tha thứ, thì chắc chắn sẽ không có tương lai gì tốt đẹp cho con người, nhưng kể từ giây phút có sáng kiến thực hiện chương trình tha thứ cho con người, thì từ giây phút đó nhân loại có thể hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn, nếu nhân loại biết vâng phục lắng nghe lời dạy của Ngài mà tha thứ cho nhau.

Vậy mỗi lần ta tha thứ cho anh chị em là mỗi lần ta để tâm hồn mình hòa điệu với Thiên Chúa, Đấng giàu lòng nhân từ và hay tha thứ. Mỗi lần ta tha thứ cho anh chị em là mỗi lần ta thoát ra khỏi cảnh nô lệ cho những giới hạn ích kỷ của con tim mình, để hòa mình với những tâm tình yêu thương tha thứ vô biên của Thiên Chúa.

Trong câu chuyện dụ ngôn, Chúa cho thấy món nợ của con người với Chúa thật to lớn, đời đời không trả được. Nhưng Chúa là tình yêu, Ngài sẵn sàng tha thứ tất cả. Còn món nợ giữa con người với tha nhân tương đối nhỏ, có thể hoàn trả được, thế nhưng con người không biết chờ đợi, không biết yêu, nên không tha thứ cho nhau được.

Con người không biết tha thứ cho anh em, đối xử với anh em tàn tệ là tự chuốc lấy cho mình cơn thịnh nộ của Thiên Chúa: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì người đã van xin ta ; còn ngươi, sao không chịu thương hại bạn ngươi như ta đã thương ngươi?" Và Chúa kết luận: "Vậy Cha Ta trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu anh em không hết lòng tha thứ cho nhau". Như thế, từ chối tha thứ cho anh em là ngăn chặn ơn tha thứ đang dào dạt tuôn chảy vào tâm hồn mình vậy. "Vì chính khi thứ tha là khi chúng ta được Thiên Chúa tha thứ".

Thưa anh chị em,

Trong đời sống thực tế, muốn biết thật lòng tha thứ thì hãy biết quên đi những lỗi lầm của anh em. Đừng nhắc đi nhắc lại, đừng nhớ dai, đừng tích chứa trong lòng. Chuyện ngày xửa ngày xưa, ba bốn đời… khi vui, thuận vợ thuận chồng, thì không nói, khi không bằng lòng nhau thì lôi chuyện cũ ra xào nấu lại làm cho nhau đau khổ. Còn Chúa, đã tha thứ thì Ngài tha luôn, vì "nếu Chúa tôi nhớ hoài tội lỗi, nào có ai đứng vững được chăng?" (Tv 129).

Chúng ta hãy cầu nguyện như Bà Corrie-Ten-Boom khi thấy mình không thể tha thứ được: "Lạy Chúa, Chúa thấy con chưa thể tha thứ được cho anh em con. Xin Chúa hãy ban cho con những tâm tình của Chúa để con có thể tha thứ như Chúa". Amen.


 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

THA THỨ CHO NHAU
 
T
rong một thế giới khắc nghiệt bị chi phối bởi lề luật, xung đột và hận thù, Giáo hội vẫn trung thành với giáo huấn của Thầy mình, không ngừng nhắc lại bổn phận tha thứ. Tha thứ không phải vì công lý nhưng vì tình yêu.

Chiến tranh sẽ mau chóng chấm dứt, bạo lực sẽ không còn và hận thù sẽ tiêu tan nếu như mọi Kitô hữu trên toàn thế giới thực thi mạnh mẽ đòi hỏi của Tin Mừng: hãy tha thứ với tất cả con tim! hãy làm điều tốt cho những ai làm hại mình. Lời kinh lay Cha mỗi người vẫn đọc trên môi miệng hàng ngày: "Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con" phải trở nên nếp sống, nên luật sống.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Hc 27,30-28,7

Bỏ qua lỗi lầm của anh em

Như Thiên Chúa tha thứ và bỏ qua những lầm lỗi của nhân loại, đến lượt mình con người cũng phải biết tha thứ cho nhau, tha thứ trong mọi hoàn cảnh.

a. Giận dữ, thịnh nộ, báo thù đều là những hành vi đáng tội trước mặt Chúa và sẽ bị Ngài trừng phạt.

b. Khi trong lòng đầy hận thù và giận ghét, ta không thể nào cầu xin được ơn tha thứ nơi Thiên Chúa.

c. Thân phận con người rồi sẽ chết, sẽ hư hoại. Hãy đến thân phận này để tỏ lòng yêu thương tha thứ cho nhau và kính sợ Thiên Chúa. Cần phải biết bỏ qua những lỗi lầm thiếu sót của nhau vì lòng mến Thiên Chúa.

2. Bài đọc II: Rm 14,7-9

Thiên Chúa làm chủ sự sống và sự chết

Thánh Tông đồ trong đoạn trích thư Roma này khẳng định: chúng ta thuộc về Đức Kitô, Đấng là chủ vận mạng mỗi người. Do đó, sống hay chết là đều cho Người.

a. Kitô hữu sống theo qui luật sau: thuộc về Đức Kitô cả về đời này lẫn đời sau; cho nên, theo Chúa nghĩa là phải sống và chết cho Chúa.

b. Sống và chết không phải là chuyện riêng tư cá nhân; không phải là hai thực tại tách rời nhưng có liên hệ với nhau và liên hệ với chính cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.

c. Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy là cùng chịu chết, mai táng và phục sinh với Đức Kitô. Để rồi không còn sống cho mình nữa mà cho chính Người, Đấng cai trị kẻ sống và kẻ chết.

3. Tin mừng: Mt 18,21-35

Dụ ngôn người đầy tớ độc ác

Dụ ngôn người đầy tớ độc ác nhấn mạnh về đòi buộc phải tha thứ cho anh em bằng tất cả tấm lòng của mình không ngần ngại, không hạn chế. Đó là điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ, là đòi buộc của người con cái Chúa; và đó cũng chính là cách thức thể hiện đức ái.

a. Tha thứ đến bảy mươi lần bảy: ở đây không thể hiểu theo nghĩa đen với công thức toán học để tìm ra con số lần phải tha thứ cho anh em. Tha thứ không giới hạn, tha thứ vô cùng vô tận.

b. Tha thứ là việc làm không dễ dàng. Dụ ngôn người đầy tớ độc ác đã phơi bày sự thật của lòng người ích kỷ, thiếu quảng đại, thiếu bác ái. Đây là dụ ngôn của riêng Matthêu diễn ra theo 3 phân cảnh: Nhà vua tha nợ cho tên đầy tớ độc ác; tên này không biết tha thứ cho người bạn và cuối cùng phải lãnh chịu một thảm kịch.

c. Con người mắc nợ Thiên Chúa một món nợ khổng lồ, nhiều vô kể, không thể trả nổi nhưng Thiên Chúa luôn thương tha thứ cho tất cả. Ngài chỉ đòi hỏi một điều duy nhất đó là yêu thương và tha thứ như Ngài.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG:

1. Tha thứ vô điều kiện, không giới hạn:

Phêrô nêu lên con số 7 vì tin chắc như thế là nhiều lắm rồi, vì giáo huấn của các Rapbi thời đó chỉ đòi hỏi tha có ba lần. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy việc tha thứ còn phải đi xa hơn nhiều. Tha đến bảy mươi lần bảy. Tất nhiên ở đây không phải là một bài toán để tìm ra số lần phải tha thứ nhưng giáo huấn của Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến việc tha hoàn toàn, tha trọn vẹn, tha không giới hạn. Dụ ngôn người đầy tớ độc ác cho thấy nền tảng của việc tha thứ như thế. Tên đầy tớ nợ mười ngàn nén bạc thì được tha, trong khi đó bạn bè nợ y có một trăm bạc y lại xiết nợ, không tha. Tội lỗi anh em xúc phạm đến mình có xá chi đối với tội lỗi của chính chúng ta xúc phạm đến Chúa. Con người nợ Thiên Chúa một món nợ khổng lồ không thể trả nổi vậy mà Ngài vẫn tha tất cả, vẫn quảng đại dâng hiến chính con một của mình là Đức Giêsu Kitô để làm của lễ đền tội cho nhân loại. Vì thế, có tha thứ cho anh em đến đâu đi nữa vẫn còn là ít so với ơn tha thứ mỗi người đón nhận từ nơi Thiên Chúa.

2. Tha thứ là điều kiện để được thứ tha:

Kết thúc dụ ngôn người đầy tớ độc ác là lời cảnh báo cho những ai không sẵn lòng quảng đại tha thứ cho anh em mình. Tên đầy tớ đã phải đón chịu một kết cục bi thảm vì không biết tha thứ. Chúa Giêsu khẳng định Chúa Cha trên trời sẽ không tha thứ nếu con người không biết tha thứ cho nhau. Thiên Chúa giàu lòng thương xót luôn sẵn lòng tha thứ ; không chỉ thế, Ngài còn chủ động đi bước trước đối xử rất quảng đại đối với tội nhân. Ngài tha nhưng đòi một điều kiện là phải biết tha thứ.

Thiên Chúa đã tha thứ những lỗi lầm không cùng kích cỡ với những lỗi lầm của chúng ta đã phạm. Chính vì thế, chúng ta phải sẵn sàng tha thứ cho nhau.

3. Tha thứ bằng tình yêu:

Mục đích của dụ ngôn dạy cho chúng ta biết phải tha thứ cho nhau tận đáy lòng, tha thứ cách thực tâm. Mối tương quan của Thiên Chúa với con người là mối tương quan của tình yêu. Ngài cũng muốn con người đối xử với nhau bằng tình yêu. Chính vì tình yêu mà sự tha thứ của Thiên Chúa đã vượt trên sự công bằng mà con người mong muốn. Món nợ lớn mà Chúa tha được cách dễ dàng thử hỏi làm sao con người có thể làm được như thế nếu không sống tình yêu của Chúa. Lòng nhân hậu của Chúa thật vô biên, nhờ đó nhân loại mới được tạo dựng, được cứu độ. Lòng từ tâm của Chúa mà khép kín và xét xử dựa trên sự công bình, tất cả đều bị hủy diệt. Nhưng Chúa không làm thế, Ngài luôn yêu thương khoan thứ tất cả. Tình yêu đáp đền tình yêu, ân tình đền đáp ân tình. Đón nhận ơn tha thứ vì yêu, mỗi người cũng phải biết yêu thương tha thứ cho nhau. Chỉ có yêu thương mới có thể tha thứ vô điều kiện, vô hạn định vì bản chất của tình yêu là không biên giới.

v Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:

Chúa Giêsu đã hiến dâng chính mình trên hy tế thập giá đễ ban ơn cứu độ cho nhân loại vì yêu thương. Với hiến tế Thánh Thể, Người vẫn tiếp tục tuôn đổ ơn cứu độ trên chúng ta. Đón nhận Thánh Thể là nguồn sức mạnh, nguồn tình yêu để chúng ta biết tha thứ cho nhau.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Trong niềm tin tưởng Chúa đã yêu thương và tha thứ mọi lỗi lầm, chúng ta cùng dâng lên Ngài ước nguyện của cộng đoàn.

1. Chúa Giêsu đã trao ban cho các tông đồ quyền tha thứ tội lỗi. Chúng ta cùng hiệp ý cầu xin cho các thừa tác viên trong Hội thánh luôn ý thức sứ vụ đã được trao ban để chuyển thông ơn tha thứ của Thiên Chúa cho con cái mình.

2. Thế giới ngày càng chồng chất bạo lực, hận thù, khủng bố… Chúng ta cùng cầu xin cho mọi dân nước trên toàn thế giới luôn học biết bài học tha thứ và cảm nghiệm tình yêu tha thứ từ nơi Thiên Chúa để có thể tha thứ và xây dựng hòa bình.

3. "Xin tha tội chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có tội chúng con". Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho lời nguyện tha thứ trong kinh Lạy Cha chúng ta đọc mỗi ngày được thể hiện trong chính cuộc sống của mọi Kitô hữu.

Lời kết: Lạy Chúa, chúng con luôn là những thụ tạo bất tín, bất trung với Chúa ; nhưng Chúa vẫn luôn tiếp tục yêu thương và tha thứ cho chúng con. Xin cho mỗi Kitô hữu luôn tin tưởng vào tình yêu tha thứ của Ngài, năng đến với Bí tích Hòa giải để lãnh ơn tha thứ và lên đường làm hòa và tha thứ cho nhau. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.


Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn