Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXIV Thường Niên B

Tin Mừng Mc 8: 27-35: Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện : sau khi trắc nghiệm sự nhận thức của dân chúng và của các tông đồ về thân thế của mình, Chúa Giêsu đã tự tỏ bầy Người là Đấng Cứu Thế, nhưng là Đấng Cứu Thế chịu đau khổ .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 24 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B

Mc 8, 27 - 35 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

LƠI TUYÊ'N XƯNG CỦA PHÊRÔ VÀ LẦN

LOAN BÁO ĐẦU TIÊN VỀ CUỘC KHỔ NẠN

(Mc 8,27-35)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đoạn văn hôm nay là bản lề của hai phần cuốn sách Mc. Điều ấy có nghĩa là gì?

2. Thử tìm sự song song giữa Mc 8,27-29 với 8,22-26.

3. Tại sao Chúa Giêsu gọi Phêrô là Satan ở câu 33?

4. Các thánh ngôn (logia) (cc.34-35) đưa ra mấy điều kiện để theo Chúa Giêsu? Hoàn cảnh nào đã khiến Mc ghi lại chúng?

Lời tuyên xưng của Phêrô, lần loan báo đầu tiên về cuộc khổ nạn và các thánh ngôn (logia) về những điều kiện phải đáp ứng để theo Chúa Giêsu thuộc cả ba truyền thống Nhất lãm.

Các quan điểm có tính cách phụng vụ hơn là chú giải đã giải hạn đoạn văn đọc trong ngày hôm nay ở câu 35 - điều mà chúng ta không cần lưu ý trong lúc này. Bản văn song song của Luca (9,18-27), ngắn hơn một chút, rõ ràng là lệ thuộc Mc. Bản văn của Mt (16,13-28) đang được bàn cãi. Một vài tác giả nghĩ rằng câu trả lời dài nhất của Chúa Giêsu cho lời tuyên xưng của Phêrô (Mt 16,17-19) từ nguyên thủy đã thuộc về văn mạch của trình thuật chúng ta. Công thức phúc thật (Simon, ngươi thật có phúc...) và lời hứa quyền tối thượng (ngươi là đá ) có lẽ đã được Mt thêm vào trình thuật của Mc mặc dầu nguồn liệu của bản văn là thế nào đi nữa (x. O.Cullmann, Saint Pielre, Disciple, Apôtre, Martyr, Neuchâtel 1952, tr 154-166).
Thành thử ở đây ta không cần chú ý đến bản văn của Mátthêô.

I. VĂN MẠCH

Đoạn văn 8,27-35 chiếm một vị trí trung tâm trong Tin Mừng Mc. Nó được dùng làm bản lề cho hai phần chính cuốn sách. Trong phần đầu (1,14-8,26), Chúa Giêsu tự mặc khải như là một kẻ khác thường và huyền bí qua nhiều phép lạ và lời nói đầy quyền uy. Đám đông kinh ngạc và các môn đồ không hiểu; họ luôn tự hỏi: "ông này là ai mà làm được những việc như thế?" (x. Mc 4,41 ; 1,27; 2,7; 6,2). Tuy nhiên, trong giai đoạn nói đây Chúa Giêsu cố ý giữ bí mật về lai lịch thiên sai của Người. Sự căng thẳng này được tạm thời nói ra trong lời Phêrô tuyên tín. Qua trung gian của Phêrô, các môn đồ lần đầu tiên thấy được mầu nhiệm thật sự của Thầy họ: Người là Đấng Messia. Lời tuyên xưng này kết thúc phần đầu của Tin Mừng Mc và làm nên chóp đỉnh của phần đó.

Đàng khác, Mc 8,27-35 cũng là một thời điểm quyết định, chi phối cả phần thứ hai của Tin Mừng Mc (8,27-16,8). Trước tiên, khung cảnh địa lý thay đổi: Galilê hết là hoạt động trường của đời công khai Chúa Giêsu, và từ đây Giêrusalem trở thành trung tâm đích thực (10,1.52. Vẫn biết là Chúa Giêsu còn đến Galilê nhưng một cách kín đáo: 9,30. Từ bắc Galilê, Chúa Giêsu đi ngang qua Galilê (9,30), Giuđê và Phêrô (10,1) để lên Giêrusalem: 10,32). Hơn nữa, nội dung lời giảng dạy của Thầy cũng thay đổi: lần đầu tiên, Chúa Giêsu nói đến cuộc Khổ nạn của Người, và tiết đầu tiên của phần thứ hai trong Mc (8,27-10,52) được kết cấu chung quanh ba lán loan báo về cuộc Khổ nạn (8,31 ; 9,31 ; 10,33-34). Cuối cùng, cách phát biểu của giáo huấn mang một hình thức khác: lần đầu tiền, Chúa Giêsu nói "trống" cho các môn đồ hay; trước kia, những lời này vẫn còn bí ẩn, và việc cắt nghĩa "riêng tư " cho họ cũng không thấy dễ hiểu hơn các diễn từ bằng "dụ ngôn" mà Người ngỏ với dân chúng (Mc 4,10-20; 7, 17-23).

Trong phần kế tiếp, ta cũng thấy rõ những thay đổi này liên hệ chặt chẽ với kế hoạch bí mật thiên sai, chủ đề trung tâm của Tin Mừng Mc: "Tất cả Tin Mừng Mc thành thử được bố cục theo hai phần lớn bổ túc cho nhau: phần thứ nhất, từ 1, 14-15 đến 8,26, trình bày dưới nhiều hình thức sự kiện của bí mật; và phần thứ hai, từ 8,27 đến 15,39, mặc khải cùng giải thích bí mật đó" (x. G.Minette de Tillesse, Le secret messianique de Jésus đang l'Evangile de Marc (Lectio divina 47) Paris 1968, tr. 303-310, nhất là 309; T.A. Bulkill, Mysterious Revelation. An examination of the philosophy of St Mark's Gospol. lthaca, N.Y. 1963, tr. 145- 146).

Vậy nếu lời tuyên xưng của Phêrô và lời loan báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn, nơi Mc, chiến một chỗ trung tâm, thì ta có thể hy vọng là sẽ thấy nhiều đường chắp nối khác nhau liên kết bản văn này với văn mạch đi trước (8,22-26) và với văn mạch tiếp sau (8,34-9,13). Hiển nhiên, trình thuật Phêrô tuyên tín và trình thuật Biến hình soi sáng cho nhau thực: trong khuôn khổ vắn gọn của bài này, chỉ cần tham chiếu kết quả của một cuộc nghiên cứu gần đây về Mc 8,27-9,13 là đủ. Tiết này có một cơ cấu đồng tâm như sau (x. Lafontaine và p. Mourlon Beernaert, Essai sur la structure de Mc 8,27-9, 13 trong Rech. de Sc. Rel 57, 1969, tr.542-561):

A. Người ta bảo Chúa Giêsu là lia hay một trong các ngôn sứ (8,27-28)

B. Phêrô, nhân danh các môn đồ, trả lời Chúa Giêsu là Đấng Kitô (8,29-30)

C. Chính Chúa Giêsu dạy rằng Con Người phải chết và sống lại (8,31-33) Đoạn giáo lý (8,34-9,1) ...

C. Trời biến đổi khuôn mặt Chúa Giêsu và Cựu ước làm chướng cho Người (9,2-6)

B'. Chúa Cha mặc khải cho môn đồ biết Chúa Giêsu là Con chí ái Ngài (9,7-10)

A'. Kinh Thánh, được Chúa Giêsu đọc lại, định vị trí cho kẻ tiền hô thực (9, 11-13)

II. PHÂN TÍCH BẢN VĂN

Sự kiện Mc 8,27-35 nằm ngay trung tâm của toàn bộ khiến chúng ta gán đoạn văn này, một phần lớn, cho công trình biên soạn của Mc. Chắc hẳn ông đã đưa vào bản văn nhiều yếu tố truyền thống; và trong quá khứ, lắm người đã thử phân biệt chính xác các yếu tố truyền thống và các yếu tố biên soạn. Nhưng những cố gắng thuộc loại này luôn mang một tính cách bấp bênh, đặc biệt vì thiếu những yếu tố so sánh. Một cuộc phân tích sâu xa hơn về Mc 8,27-33 hình như cho thấy rằng phần lớn các dữ kiện của đoạn văn này, nếu không phải là tất cả, đều có thể do thánh sử biên soạn, đến nỗi người ta khó có thể tự hỏi xem đoạn văn, xét như là một đơn vị văn chương, đã có khi nào xuất hiện trước Mc không (x. E. liaenchen, Die I
1. Lời tuyên xưng Đấng Messia (8,27-39)

Mátcô đặt biến cố gần Caisaria của Philipphê, một thành tọa lạc phía bắc biển Galilê, không xa các nguồn sông Giođanô là mấy và nằm phía Tây Nam núi Hermon (x. Mc 9,2). Thoạt nhìn, người ta tưởng đây là một hoài niệm lịch sử chính xác. Nhưng, đối với Mc, dịa điểm chắc chắn cũng có một ý nghĩa thần học. Từ 8,27, Chúa Giêsu bỏ môi trường hoạt động trước của Người là Galilê. Hôm nay, lần đầu tiên, Người được nhìn nhận như là Đấng Messia, và sự việc xảy ra gần một thành ngoại đạo. Trong đất Do thái, việc mặc khải này chỉ xảy ra lúc Người sắp mất: trước Caipha, Chúa Giêsu sẽ xác quyết mạnh mẽ phẩm chức Messia của người (Mc 14,61-62).

Hôm nay, câu hỏi về lai lịch của Người không do thiên hạ hay các môn đồ đặt, nhưng do chính Chúa Giêsu ; điều đó không có nghĩa là Người chẳng biết cái thiên hạ nghĩ về Người, nhưng vì đây là giây phút đặc biệt để mặc khải, nên Người tự có sáng kiến và điều khiển cuộc nói chuyện. Trước câu hỏi thứ nhất: "Theo như thiên hạ nói thì Ta là ai?", các môn đồ có thể dễ dàng giải đáp. Dân chúng đã có một ý kiến về Chúa Giêsu (x. Mc 6,14-16). Đối với họ, người không có vẻ gì là một kẻ tầm thường. Thái độ đặc biệt của người làm liên tưởng đến Gioan Tẩy giả sống lại, đến Elia mà người ta trông đợi như tiền hô của thời sau hết, hay ít nhất như một đối thủ của các ngôn sứ xa xưa. Dù cho những so sánh này nịnh hót đến đâu, đối với Mc, chúng vẫn không làm nên một câu trả lời đầy đủ. Chẳng một phạm trù Cựu Ước nào có thể diễn tả lai lịch của Chúa Giêsu. Người hơn xa một ngôn sứ, như phần tiếp của cuộc đàm thoại sẽ mặc khải. Còn về vấn đề vị Tiền họ, nó sẽ được giải quyết ở 9,1-13: Elia đã đến trong con người của Gioan Tẩy giả.

Chúa Giêsu không bàn cãi các ý kiến của thiên hạ về Người. Nhưng sở dĩ giờ đây Người nói với các môn đồ cách trực tiếp, điều đó có nghĩa là Người coi như chắc là họ không chiều theo ý kiến của dân chúng, song có một xác tín riêng về Người. Điều Phêrô nói, nhân danh các môn đồ, vượt hẳn quan niệm của quần chúng: với tư cách là môn đồ được tuyển chọn, ông nhận lãnh mặc khải về phẩm cách Messia của Chúa Giêsu. Đối với Mc, phẩm cách này diễn tả đúng đắn lai lịch sâu xa của Chúa Giêsu, mặc dù trong câu tiếp, xem ra Phêrô chưa hiểu ý nghĩa đích thực của phẩm cách đó hoàn toàn. Hình như Mc 8,27-29 lấy lại bản văn ở 6,14-16 dưới hình thức một song song đối ngẫu. Trong lúc Hêrôđê lấy lại một trong những ý kiến của dân chúng mà xem Chúa Giêsu là Gioan Tẩy giả sống lại, thì Phêrô nhìn nhận Người là Đấng Messia. Thành thử Mc đặt đối chiếu một phán đoán sai lầm và một phán quyết đúng đắn (ít là trên hình thức) (Về sự tùy thuộc của Mc 8,27-29 đối với Mc 6, 14-16, x. E. Percy, Die Botschaft Jesu, lung, 1953, tr. 320; G. Minette de Tillesse, sđd, tr.310-312). Có lẽ Mc cũng đã thấy một sự song song giữa trình thuật Phêrô tuyệt tín và trình thuật chữa lành người mù ở Betsaiđa mà ông vừa mới kể (8,22-26) (Ta có thể tìm được một khái yếu về các tác giả đã nhận thấy sự song song này trong Minette de Tillesse, tr. 312-313; cũng xin xem R Beauvery, La guérison dun aveugle à letsaide, Mc 8,22-26 trong NRT 100 (1968), tr.1083-1091). Lúc ấy ông không muốn đối chiếu ý kiến của dân chúng với ý kiến của Phêrô hoàn toàn, nhưng đúng hơn muốn nhấn mạnh sự tiến triển dần dần trong việc nhận biết mầu nhiệm Chúa Giêsu: điều thiên hạ nghĩ về Người không hoàn toàn sai, nhưng chẳng đầy đủ. Như ngay khi vừa mới được chữa lành, người mù chỉ thấy một nửa thì thiên hạ cũng chỉ đoán được cách mơ hồ tính chất siêu việt của con người Chúa Giêsu. Và như người mù được thấy rõ nhờ quyền năng diệu kỳ của Chúa Giêsu, thì các môn đồ cũng khám phá ra rằng phẩm cách thiên sai của Chúa Giêsu dấu kín đằng sau những phép lạ và việc trừ quỷ. Lời tuyên xưng của Phêrô là đúng và trùng hợp với lời tuyên xưng của Giáo Hội mà Mc viết Tin Mừng cho. Cuộc khảo cứu về cách thức Mc đã nại tới thức hiệu Kitô trong kết cấu Tin Mừng của ông cũng đưa đến cùng một kết luận. (Xem bài nghiên cứu về tước hiệu Christos trong G. Mủlette de Tillesse, sđd, tr. 329-342).

Thành ra lời tuyên xưng của Phêrô bộc lộ niềm xác tín căn bản của Kitô giáo sơ khai: thái độ kỳ bí của Giêsu Nadarét chỉ có thể hiểu được nhờ ánh sáng đức tin biết nhận ra Đấng Messia hay Đấng Kitô trong con người ấy. Đó là điều được diễn tả cách mạnh mẽ qua danh hiệu "Giêsu Kitô"
(Giêsu là Đấng Kitô). Người ta gán cho một con người lịch sử sống trong thời gian và không gian, một thuộc tính cánh chung, đặc biệt bằng cách xác nhận Đấng Kitô là con người đó. Chúng ta năng nói đến điều này nên không thể hiểu ý nghĩa của hạn từ "Kitô" cách đầy đủ được. Tuy nhiên đây là một xác quyết mạnh mẽ chưa từng thấy: điều mà con người hy vọng vào ngày cánh chung - sự thể hiện mọi sự cách dứt khoát – đã trở thành thực tại trong thế giới chúng ta hôm nay. Tầm mức đầy đủ của xác quyết này chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng của tư tưởng cánh chung do thái, một tư tưởng đã làm nên mảnh đất phì nhiêu trong đó phát sinh những lời tuyên xưng Chúa Kitô tiên khởi.

2. Lệnh bảo mật và lời tiên báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn (30-33)

Phản ứng lạ lùng của Chúa Giêsu cấm các môn đồ nói cho kẻ khác biết Người là Đấng Messia không có nghĩa là Người phủ nhận lời Phêrô tuyên tín. Đúng ra mệnh lệnh này phù hợp với chủ đề "bí mật thiên sai", chủ đề trung tâm của cuốn sách. Thánh sử hoàn toàn biết rõ Chúa Giêsu là Đấng Messia. Và ông đã viết Tin Mừng chính để chứng minh điều đó Tự chúng, các phép lạ và việc trừ quỷ, được đặc biệt kể lại trong phần thứ nhất của Tin Mừng, biểu lộ tính cách thiên sai ấy một cách lừng lẫy. Mọi hành vi đầy quyền lực và các lời nói đầy uy tín của Chúa Giêsu đủ chứng tỏ rằng với Người, cuộc chiến cánh chung giữa Vương quốc Thiên Chúa và vương quốc Satan đã khởi sự. Nhưng cùng lúc Mc lại cho thấy Chúa Giêsu muốn giữ bí mật việc biểu lộ này lắm. Người thường cấm loan đi các hành vi quyền năng "có tính cách mặc khải" (1,25.34.44-45; 3,11-12; 5,7.10.43; 7,36-37). Ở đây (8,30) việc cấm đoán minh nhiên nhắm đến tính cách thiên sai của Người. Tại sao vậy?

Trong trình thuật chúng ta, lần đầu tiên ("Người bắt đầu") và là lần duy nhất, Chúa Giêsu nói "trống" (c.32) lý do tại sao thiên sai tính của Người phải được giữ kín: vì sự cần thiết theo ý Thiên Chúa, của cuộc khổ nạn. Trước khi vinh quang thiên sai của Chúa Giêsu được hoàn toàn bày tỏ, Người cần phải chịu khổ nạn như Thiên Chúa muốn. Ngược với niềm trông đợi chung của loài người và của dân Do thái, Đấng Messia không chỉ là một vì vua quyền thế nhưng cũng là một con người khiêm nhu và đau khổ. Là đại diện tối hậu của Thiên Chúa, Người không có thái độ làm cao, nhưng hòa mình giữa loài người, mặc lấy những khía cạnh đen tối nhất của cuộc sống nhân loại: bỏ rơi, đau khổ, nhục mạ bất công, và để kết thúc là cái chết, địch thủ tối hậu của con người. Thật thế, lời tuyên xưng của Phêrô về Chúa Kitô, như đối với nhiều Kitô hữu hôm nay, vẫn còn là một công thức thuần túy "Xét theo mô thức", công thức này là đúng thật. Nhưng các sứ đồ chưa xác tín rằng tước vị Kitô cũng bao hàm đau khổ và nhục nhã. Vì thế các ông chưa thể loan báo cho người ta biết tính cách thiên sai của Chúa Giêsu. Các ông chỉ có thể làm điều này sau ngày Phục sinh, khi cuộc Tử nạn đã được hoàn tất là đã được Thiên Chúa chứng nhận (x. Mc 9,9) (x. G. Minette de Tillesse, tr. 317-326).

Ở đây, chúng ta không thể khảo sát cách cặn kẽ vấn đề phức tạp là tìm xem trong mức độ nào các lời loan báo Khổ nạn này (Mc 8,31; 9,31 và10,32-34) là những thánh ngôn đích thực của Chúa Giêsu, hay chỉ là những "lời tiên báo hậu suy từ biến cố" (vaticinia ex oventu) được chính Mc thảo ra hay lấy lại từ cộng đoàn sơ khởi. Tuy nhiên, cho dù giả thuyết thứ hai có đúng, thì những lời loan báo này vẫn có thể là phản ảnh quan niệm của chính Chúa Giêsu. Thật vậy, về phương diện lịch sử, hầu như chắc Chúa Giêsu đã nghĩ đến các phản ứng bất thuận lợi với lời rao giảng của Người, đã thấy trước lối thoát định mệnh của cuộc đời Người, đã đi đến chỗ đương đầu cách ý thức với các nhà lãnh đạo Do thái, đã giải thích ý nghĩa tôn giáo của sự kiện Người phải chịu đau khổ để ý định Thiên Chúa được hoàn tất, và cuối cùng, dựa vào đức tin Cựu ước, đã nói một cách nào đó rằng Thiên Chúa "sẽ không để Người thấy sự hư nát" được (Tv 16,20) (Khoa chú giải gần đây cho thấy là có thể đi đến nhiều kết luận lịch sử tương đối rõ ràng về thái độ Chúa Gìêsu trước cái chết. Xem J. Guillet, Jésus devant sa vie ét sa mort, Paris, 1971). Trong trường hợp này, người ta có thể bảo là Chúa Giêsu đã loan báo cuộc Khổ nạn, và như vậy Mc đã có dùng chất hậu "truyền thống" khi chèn những lời loan báo vào trong Tin Mừng của ông. Nhưng điều này cũng không loại bỏ việc ông đã khai triển truyền thống ấy bằng cách thêm vô nhiều chi tiết chính xác, hòa hợp với trình thuật Tử nạn, hoặc biết đâu ông đã cho nó hình thức như hiện tại và xếp nó vào trung tâm của thần học.  ông Phêrô, với tư cách phát ngôn viên của các môn đồ. Phản ứng trước những lời loan báo cuộc Khổ nạn (c.32b). Ông kéo Chúa Giêsu ra một bên như muốn che chở cho Người. Với ít nhiều trịch thượng, ông coi Thầy như yếu hơn ông, và muốn cất khỏi óc Thầy các tư tưởng cuồng điên về cuộc Khổ nạn. Nhưng chính Chúa Giêsu đã quay về phía các môn đồ và đồng thời tái lập lại vị thế (c.33). Không phải Tôn sư theo môn đồ nhưng môn đồ phải theo Tôn sư. Chúa Giêsu chẳng chấp nhận một điều đình nào cả. Nếu các môn đồ không muốn theo Người cho đến thập giá, thì chỉ còn một việc phải làm : giải tán họ. phản ứng dứt khoát của Chúa Giêsu chẳng tỏ có sự bất đồng ý kiến sâu xa. Thật vậy, cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu là do ý Thiên Chúa. Cố bắt Người tránh thoát tức là thúc đẩy Người bất phục thánh ý Thiên Chúa, quy tắc duy nhất của Người. Một sự xúi giục như thế chỉ có thể là công việc của Satan, tên đã toan lôi kéo người theo đường lối đó lúc Người bắt đầu cuộc đời công khai (Mc 1,12-13; Mt 4,10). Khi hành động như vậy, các môn đồ ngăn cản Vương quốc Thiên Chúa đến. Ngoài ra, có lẽ các ông sợ rằng nếu theo Chúa Giêsu, thì cùng một số phận như thế sẽ chờ các ông. Điều này cũng làm cho các ông vấp phạm. Phản ứng của Phêrô để lộ thâm ý của các ông: tư tưởng và tước vọng của các ông đang còn quá bị các tiêu chuẩn của thế gian này làm chủ. Các ông không nghĩ đến những điều thuộc về Thiên Chúa, nhưng đến những điều thuộc thế gian, và theo phe Satan. Các ông, những môn đồ, các ông trở tàhnh phát ngôn nhân cho kẻ thù số một của Thiên Chúa ! Mâu thuẫn biết bao (x. D.E. Ninehan, Saint Mark (Pelican~gospel Commentaires), Londres, 1967, tr.223-227).

Thành thử Chúa Giêsu nặng nề khiển trách Phêrô, không phải như là một cá nhân, nhưng như đại diện của các môn đồ (c. 33), bởi đức tin của các ông vào Đấng Messia vẫn còn thiếu; lời khiển trách cũng nhắm đến tất cả những ai muốn theo người nữa (c.34) Ngay khởi điểm phần thứ hai của Tin Mừng Mc, một đường phân giới đã được vạch ra rõ rệt. Chúa Giêsu, Đấng Messia, mang trên mình cuộc Khổ nạn cùng cái môn đồ, cho đến cuối, sẽ từ chối nhìn nhận Người là đấng Messia. Thái độ của các ông trở nên đặc biệt hiển nhiên trong trình thuật Khổ nạn : không những Giuđa (14,10-11 : phản bội), mà ngay cả Phêrô (14,26-32.66.72 : chối Chúa), Giacôbê và Gioan (14,32-42: ngủ ở vườn Ghetsêmani), cuối cùng tất cả các môn đồ (14,50: bỏ Người, các ông chạy trốn hết) đều bỏ Chúa Giêsu cô đơn. Các môn đồ quả là chẳng hơn chi người thường trong khía cạnh đó.

3. Các thánh ngôn về những điều kiện theo Chúa Giêsu (8,34-35)

Ngược lại với quang cảnh có vẻ bí truyền trước, các thánh ngôn về mấy điều kiện để theo Chúa Giêsu không những chỉ nói cho các môn đồ (có lẽ đầu tiên là vậy trong truyền thống), nhưng còn cho đám đông nữa. Chắc hẳn. Mc muốn thích nghi các thánh ngôn truyền thống cho Kitô hữu độc giả của ông. Các câu 32b-33 cho chúng ta cảm nhận ra bầu khí, môi trường mà cc.27-33 và thần học về bí mật thiên sai tùy thuộc. Vì nói cho nhiều Kitô hữu đang hoang mang trước cảnh bắt bớ, trong lúc một số người, để thoát khỏi nguy hiểm và cái chết, tỏ ra sẵn sàng chốt bỏ tuyên xưng Chúa Giêsu như Đấng Kitô, Mátcô đã phản ứng cách mãnh liệt. Ai muốn trở nên môn đồ, phải giống Chúa Giêsu. Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng đã không chỉ tỏ ra như một hữu thể thần thiêng đầy quyền lực và vinh quang trong cuộc sống trần thế, nhưng còn như một con người đã theo ý Thiên Chúa mà ý thức chịu lấy cuộc Khổ nạn. Vì thế người Kitô hữu không thể trốn chạy sự đau khổ do đời sống chứng nhân gây nên và như vậy chối bỏ tư cách môn đồ Chúa Kitô của mình.

Mặc dù 8,34-9,1 là một khối duy nhất, ở đây chúng ta chỉ chủ giải chi tiết cc.34-35, là những câu mà phụng vụ hôm nay giữ lại. Câu 34 kể ra các điều kiện phải thực thi để theo Chúa Giêsu, nghĩa là để trở nên môn đồ Người. Trước hết phải từ bỏ mình, nghĩa là "tự ghét mình" đã (x. Lc 14,26 và của 12,25). Sự từ bỏ này nằm trong đòi hỏi căn bản mà Chúa Giêsu luôn đặt ra cho những ai Người mời gọi đi theo: từ bỏ hết. Từ bỏ chính mình cách cụ thể, có nghĩa là liều mất mạng sống của mình đi. Điều kiện thứ hai là vác thập giá, nghĩa đen: vác đến pháp trường khí cụ khổ hình của mình. Con đường đến chốn khổ hình như thế bao gồm sự lăng mạ và vũ nhục tột độ; nó tương đương với việc công khai bị loại trừ khỏi đời sống chung. Động từ theo", còn nằm cuối câu 34 một lần nữa, cần phải hiểu theo nghĩa "đi sao và song đối với chữ "vác thập giá của mình". Do đấy, "vác thập giá mình" và "theo" Chúa Giêsu có nghĩa là theo Thầy tiến về nơi xử tử, điều mà văn mạch giả thiết cách minh nhiên (8,31-33). Trong viễn tượng ấy đó là việc thông phần vào đau khổ của Chúa Giêsu. Thành thử theo Mc 8,34, để trở nên môn đồ Chúa Kitô, phải sẵn sàng chịu sự xấu xa nhất với Người, Đấng đã bị loài người kết án tử, phải luôn sẵn sàng tuẫn giáo. Yêu sách này, diễn tả trong c 34, cần phải được biện giải. Người môn đồ, người tín hữu như vậy là phải dấu thân vào cái chết sao? Trước hết, người ta không được tìm cách cứu mạng sống mình sao? Câu 35 trả lời; ai muốn cứu mạng sống khỏi mọi đe dọa bên ngoài lúc này đây thì sẽ mất nó. Việc thêm "vì Tin Mừng" ở c.35 là do Mátcô. Qua chữ "Tin Mừng", ông muốn nói đến cái tin về Chúa Giêsu Đấng Kitô mà ông đã loan báo cho cộng đoàn tín hữu, và như vậy minh chứng cho hành vi và lời nói của Người. Cũng qua đó Mc xác định: với tất cả đời sống mình, người Kitô hữu phải tuyên xưng, nếu cần bằng việc đổ máu, không những Chúa Giêsu mà còn Tin Mừng nữa, nghĩa là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô như đã được loan báo trong lời rao giảng của Giáo Hội. Chúng ta gặp ở đây cách phát biểu đầu tiên của yêu sách: "Hiến mạng sống vì đức tin".

III. KẾT LUẬN

Cuộc sống người Kitô hữu thông phần nào sự nghịch lý của con người Chúa Kitô. Chúa Kitô chỉ đạt được vinh quang thiên sai một khi đã qua cuộc Khổ nạn và cái chết theo ý Thiên Chúa. Chỉ có sự hạ mình sâu xa nhất mà cuộc sống nhân loại của Người đã nếm biết mới biểu lộ rõ rệt sự cao cả của tư cách Con Thiên Chúa của Người. Ai muốn mang danh "Kitô hữu phải sống cái nghịch lý của Kltô giáo: Cứu mạng sống mình là đánh mất nó; mất mạng sống mình vì Chúa Kitô là cứu được nó.

Adebert Deuaux, Assemblées dt' Seigneul: 55. tr. 31-39

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Ngày nay có nhiều kẻ nhắc đến Chúa Giêsu, ca tụng con người và sự nghiệp giải phóng của người; nhưng cũng lắm kẻ không biết đúng Người là ai, nên hoặc sinh nghi ngờ đố ky, hoặc phớt lờ không muốn nghe nói đến. Còn đối với ta. Chúa Giêsu là ai? Một bóng ma ám ảnh hàng thế kỷ'? Một quan toà phải đối chất vào phút chót? Một kỷ niệm đáng nhớ ? Một bảo đảm cho thành công ? Một chướng ngại trong sơ yếu lý lịch ? Câu trả lời đúng, chính là xác tín Người là đường, là Sự thật, là Sự Sống của ta và làm cho cuộc sống cùng thái độ sống hằng ngày của ta phù hợp với Tin Mừng và Giáo Hội của Người.

2. Vì tin không chỉ là nhìn nhận Chúa Giêsu là một vĩ nhân, một ngôn sứ của Thiên Chúa, cũng không chỉ là noi gương Người để sống bác ái huynh đệ . Tin là tuyên xưng sự cứu rỗi của nhân loại là hoàn toàn ở nơi Chúa Giêsu, rằng chỉ mình Người mới có thể mặc khải trọn vẹn và đã mang đến đầy đủ cho ta ơn cứu rỗi bằng cuộc sống và cái chết-phục sinh của Người.

3. Để đi đến cùng đích đời mình và hoàn thành sứ mệnh, Chúa Kitô phải từ bỏ hết ý muốn riêng tư (8,33), thành quả công việc, sự ủng hộ và dư luận tốt của quần chúng (cc 28-29) cùng ngay cả mạng sống bản thân (c.31). Người phải từ bỏ tất cả để được Đấng là Tất Cả . Đấy là con đường tất yếu cho những ai muốn sự sống thật, hạnh phúc thật. Và Chúa Giêsu cũng dạy cho các kẻ muốn đi theo con đường này (cc 34-35). Bởi vì mọi cái ngoài Thiên Chúa chỉ mang lại những hạnh phúc thoáng qua. Thiên Chúa muốn chúng như là những phương tiện, những bậc thang để dẫn đến Ngài. Từ bỏ những phương tiện hấp dẫn này (nghĩa là coi chúng chỉ như phương tiện) luôn luôn gây đau đớn cho ta. Vác thập giá theo Chúa Kitô là như thế. Nhưng có vậy mới đạt đích như Người.



Noel Quession - Chú Giải

 

Mc 8,27-35


Các nhà chú giải Tin Mừng theo Thánh Mác-cô đều đồng ý công nhận rằng, trong Tin Mừng mà chúng ta sắp suy niệm là đỉnh cao của Tin Mừng ông. Cho tới đây, Mác-cô mới viết trình thuật để minh chứng rằng mọi người vẫn còn thắc mắc về con người đích thực của Đức Giêsu, vị ngôn sứ thuộc Na-za-rét :

"Đây là gì ?" (Mc 1,27).

"Chúng tôi chưa bao giờ thấy như vậy" (Mc 2,12).

"Ong ấy mất trí rồi " (Mc 21).

"Thực sự ông này là ai " (Mc 4,41).

"Tất cả mọi người đều kinh ngạc" (Mc 5,20).

"Bởi đâu ông ta được như thế " (Mc 6,2).

"Đó là ma " (Mc 6, 49).

"Ong ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả" (Mc 7,37).

Vâng, sự nhận biết Thiên Chúa trong Đức Giêsu, cũng như sự nhận biết toàn diện con người phát triển dần dần từ trong tâm hồn con người tự do, những con người đã cùng sống và quan sát người. Con đường Đức tin luôn tiệm tiến. Tôi có tiến lên không ?

Đức Giêsu và các môn đệ đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê-phi-líp. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ...

Đó là làng Xêdarê Phi-líp-phê : Mác-cô xác định vị trí rõ ràng và chính xác. Tin Mừng không phải được viết trên không. Vùng này, dưới chân núi Héc-môn, là một nơi xanh tươi nước chảy trên những sườn đồi có tuyết : Nguồn của sông Gio-đan phát xuất từ đó. Đức Giêsu đã dẫn dắt các bạn hữu đến giữa cảnh thiên nhiên, xa các đám đông. Người biết Người muốn gì ? Người sẽ trắc nghiệm đức tin của các môn đệ.

Theo dư luận quần chúng, thì Thầy là ai ?

Đây là một cuộc thăm dò dư luận. Những tổ chức Sofrès và Ifop đã dành thời giờ của họ để thăm đò xem ta nghĩ gì về chứng nhân vật chính trị, về trường học, về một sản phẩm nào đó. Ngày nay, chúng ta có chấp nhận câu hỏi trên đây của Đức Giêsu không ?

Các ông đáp : "Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy giả. Có kẻ thì bảo là ông Êlia. Kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó".

Vậy thì dư luận cũng khá nhất quán : Người ta cho rằng Đức Giêsu là một vĩ nhân, là Gioan Tẩy giả đã sống lại thì cũng không phải là việc thường, là ngôn sứ Êlia, kẻ phải đến liền trước Đấng Mêsia. Do đó Đức Giêsu được coi như là phát ngôn viên của Thiên Chúa". Ngày nay, đa số người ta cũng vẫn coi Đức Giêsu như là một nhân vật siêu phàm. Ngu dốt thì mới quả quyết ngược lại, hay xem thường Người. Không một người hiểu biết nào đã học lịch sử mà lại có thể chối bỏ sự kiện Đức Giêsu Na-za-rét đã ghi dấu ấn của Người lên lich sử hành tinh chúng ta.

Người lại hỏi các ông : "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?".

Ngày nay, câu hỏi này vẫn còn đặt ra cho chúng ta : Người ta nói gì về Đức Giêsu chung quanh chúng ta ?

Không nên trả lời bằng những câu san có. Các bạn hãy nhìn xem những gì các bạn đã sống trong tuần qua, nơi khu phố, trong công viên, trong những ngày nghỉ "Giêsu ? Tôi có bao giờ nghĩ nói về ông ấy...".

Giêsu ư ? Ta đâu cần biết tới. Trong một khóa huấn luyện thể thao mà người ta hoàn toàn không để ý đến một yếu tố luân lý sơ đẳng nào, tôi dã tự hỏi xem có phải mình đã bất bình thường, khi không làm như những người khác". Nhưng còn bạn. . . bạn nói gì về tôi ? Trong nhóm người kinh doanh, giải trí, làm việc... bạn có bị"Người ta hạch hỏi về nội dung đức tin của mình không ? Có thể chúng ta không thích điều đó lắm, vì nó quá bó buộc.

Có thể chúng ta sống một cách nào đó mà không ai nảy ra ý kiến đặt câu hỏi như trên. Điều này không đáng lo ngại sao ? Đức tin của chúng ta nơi Đức Giêsu không làm thay đổi gì cuộc sống chúng ta sao ? Như Thánh Giacôbê đã nghiêm khắc nhắc nhở chúng ta ? (2,14-18).

Ong Phêrô trả lời : "Thầy là Đấng Kitô".

Nói lên quan điểm của người khác chưa đủ. Mỗi người chúng ta cần phải trả lời. Chúng ta nói lên lời "Tuyên xưng đức tin" nào ?

Do đó, nhóm Mười Hai mà Thánh Phêrô đứng đầu, sẽ trả lời vượt xa hơn những câu trả lời thông -thường của quần chúng. Họ là một thiểu số rất nhỏ. Không ai nghĩ ra một điều như thế, chỉ trừ nhóm này.

Tước vị "Christos" "Meshiah" trong tiếng Hêbrơ có một nghĩa rất mạnh như biến cố bùng nổ tại ít-ra-en : Đó là Đấng được Thiên Chúa xức dầu. Đó là Đấng được mọi người mong đợi để đến "hoàn tất lịch sử". Đấng các Ngôn sứ đã báo trước, Đấng sẽ cho cuộc sống con người có ý nghĩa.

Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người.

Bản kịch đã làm nhẹ bản văn Hy Lạp. Đúng ra phải dịch là : "Chúa đã la mắng họ để họ đừng nói điều đó với ai cả. "Bí mật về Đấng Mêsia" là một trong những đề tài của Máccô. Đức Giêsu đã luôn yêu cầu người ta đừng công bố tước vị của Người (Mc 1,34 - 1,44-45 - 3,11 - 5,43 -7,33-36 - 8,26 - 8,30).

Đó không phải là không công nhận tước vị Mêsia mà Thánh Phêrô gán cho Người, nhưng chỉ là đề cao cảnh giác để người ta đừng tiết lộ Người quá sớm. Thái độ chờ đợi Đấng Mêsia nơi người Do Thái đã quá hàm hồ. Lát nữa chúng ta sẽ nhận ra điều này, khi nghe Phêrô nói. Thiên Chúa không giống như chúng ta thường mong đợi. Thiên Chúa không tìm kiếm vinh hiển, quyền năng, thành công theo nghĩa của loài người- Thiên Chúa ưa ẩn dật. Thiên Chúa thích thinh lặng. Thiên Chúa lánh mình sau tạo vật của Người.. Thánh Phaolô sẽ nói rằng : "Người là mầu nhiệm được bao phủ trong im lặng" (Rm 16,25).

Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết con người phải phịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại.

Đây là khúc ngoặt lớn của Tin Mừng Đức Giêsu đang rời xứ Galilê,bắt đầu tiến lên Giêrusalem, và biết rõ mình sẽ bị giết chết tại đó. Thập giá đã hiện ra trước Đấng Mêsia của Thiên Chúa.

Máccô sẽ kể lại cho ta ba lần Chúa loan báo rõ ràng cuộc thương khó của Người (Mc 8,31 - 9,31 - 10,33). Đây là cớ vấp phạm cho con người.

Về mặt lịch sử, chắc chắn Đức Giêsu đã phân tích rất kỹ những phản ứng bất lợi đối với lời rao giảng của Người : Người đã thấy trước sự kết thúc số phận đời mình và Người đã ý thức tự mình đối chất với nhưng nhà lãnh đạo Do Thái Người kể ra ở đây ba nhóm người làm nên Thượng Hội Đồng, là cấp xét xử tôn giáo cao nhất bây giờ. Người bắt đầu nói với họ rằng cần phải Người bắt đầu nói với họ, Người sẽ bị đau khổ, ruồng bỏ, trục xuất ra khỏi dân tộc và phải chết dữ dằn. Mỗi lần Đức Giêsu loan báo với họ về biến cố đó. Người đều khẳng định về sự Phục sinh của Người. Nhưng lạ thay, các tông đồ hình như không bao giờ nghe được lời cuối này.

Chúng ta cũng vậy, chúng ta không bao giờ nghe Chúa nói đến cùng. Do đó, chúng ta tiếp tục bị khựng lại trước sự dữ trên thế gian, trước những thử thách riêng của ta : Như thể thế gian và những thử thách đó thắng thế luôn mãi, như thể sự Phục sinh, sự sống đời đời không thể có bao giờ. Chúng ta cần thú nhận điều đó.

Người nói điều đó, không úp mở.

Tiếc thay, một lần nữa bản dịch lại làm nhẹ bớt bản văn Hy Lạp. Lẽ ra phải dịch như sau : "Một cách quả quyết, Đức Giêsu đã nói Lời". Lạy Chúa, con cần biết như Máccô đã nói, Chúa đã phát biểu những lời đó "một cách quả quyết" không chút sợ hãi, đầy can đảm. Con cần biết rằng, Chúa là Lời Thiên Chúa qua kiểu nói mạnh mẽ này (Người đã nói lên lời Chúa). Con đoán rằng, nhân cách của Chúa không chỉ là nhân cách của nhà hiền triết, một bậc Thầy, một vĩ nhân, nhưng là sự "hiện diện" của ngôi Lời Thiên Chúa. "Từ khởi thủy đã có Ngôi Lời . . . " ( Ga 1,1) "Người nói Lời cách quả quyết" . Con Người phải bị giết và sống lại chữ "phải" này làm chúng ta chìm đắm trong "ý định đời đời và không hiểu được" của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, Chúa thấy cái chết và sự Phục sinh của Chúa hoàn toàn khác hẳn với biến cố ngẫu nhiên. Đó là chương trình mầu nhiệm của Chúa Cha. Chúng ta cũng cần lưu ý, đây là kinh "Tin kính" đầu tiên, từ chính môi miệng Đức Giêsu thốt lên.

Ong phêrô liền kéo riêng Người ra mà trách. Nhưng khi Đức Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phêrô : "Đồ quỷ Sa tan ! Xéo đi !".

Do đó, lệnh truyền giữ bí mật không phải là vô ích.

Mặc dù vừa gán cho Thầy mình tước vị đẹp đẽ, nhưng Phêrô đã không hiểu gì cả. Ong vẫn đợi một Đấng Mêsia vinh quang, chiến thắng theo kiểu loài người, một Đấng Mêsia hoạt động chính trị, một nhà giải phóng trần gian.

Còn chúng ta thì sao ? Không phải chỉ đọc kinh "Tin kính" thật đúng là đã đủ. Những từ đúng nhất cũng có thể hàm chứa sai lầm, và những từ không đúng lắm cũng có thể diễn tả chân lý. Các bạn tin ở Đấng Mêsia nào ? Có phải Đấng Mêsia của Thánh Phêrô ngày đó không ? Con người do trời sai đến để tái lập cách kỳ diệu trật tụ dưới thế gian này ? Con người mà chúng ta có thể trút đổ vào tay người đó những trách nhiệm của chúng ta ?

Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài Người. Rồi Đức Giêsu gọi đám đông dân chúng và các môn đệ lại. Người nói với họ rằng : "Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà Thểo. Quả vậy ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy".

Đức Giêsu vừa kiên quyết loan báo thập giá chỉ Phêrô.

Liền sau đó, Người cũng loan báo điều đó "cho chúng ta", cho các môn đệ của Người, sau khi đã hỏi : "Anh em nói Thầy là ai ?" Người hỏi : "Anh em nói anh em là người thế nào ?". Anh em cho cuộc sống của mình ý nghĩa nào ? Sự sống được ban cho anh em để làm gì ? Để giữ nó ư ? Để cho nó ư ? Để yêu thương ? Hay . . . để làm gì ?



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Thầy là Đức Kitô, Con người sẽ phải khổ nhiều "


BÀI TIN MỪNG : Mc 8, 27 - 35 

I . Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện : sau khi trắc nghiệm sự nhận thức của dân chúng và của các tông đồ về thân thế của mình, Chúa Giêsu đã tự tỏ bầy Người là Đấng Cứu Thế, nhưng là Đấng Cứu Thế chịu đau khổ .

II . SUY NIỆM : 

1 / " Chúa Giêsu cùng các môn đệ đi về phía làng nhỏ miền Cêsarê thuộc quyền Philiphê " : 

Sau khi chữa người mù ở Betsaiđa ( Mc 8, 22 - 26 ), Chúa Giêsu và các môn đệ ngược lên mạn Bắc, đến thành Cêsarê Philiphê, gọi là Cêsarê Philiphê là để phân biệt với một thành khác cũng gọi là Cêsarê ở bờ biển Địa Trung Hải, miền này là dân ngoại, xa dân chúng Do thái và nhất là xa con mắt những thù địch như Luật sĩ, Biệt phái, nên thuận tiện cho việc chuyện trò thân mật giữa Chúa Giêsu và các môn đệ .

2 / " Dọc đường Người hỏi các môn đệ : Người ta bảo Thầy là ai ? " : 

Trên đường đi vào thành, khung cảnh yên tĩnh cho việc trao đổi tâm tình, Chúa Giêsu muốn trắc nghiệm về nhận thức của dân chúng đối với Người qua sự nhận xét của các môn đệ .

3 / " Các ông đáp lại rằng " : 

Các môn đệ trả lời theo dư luận khác nhau của dân chúng về Chúa Giêsu rằng :

+ Có người gọi Chúa Giêsu là Gioan Tẩy Giả vì Hêrôđê cho rằng Gioan Tẩy giả đã sống lại ( Mt 14, 2 ) .

+ Kẻ gọi là Êlia vì tiên tri Malakia ( 3, 23 ) đã viết " Này Ta sai đến cho các ngươi tiên tri Êlia, trước khi ngày của Giavê đến " ( Mc 9, 13 ) . một số khác lại cho là một trong các vị tiên tri, có nhiều dư luận khác nhau nữa, nhưng tựu chung đều cho rằng Chúa Giêsu là người trong hàng ngũ các tiên tri .

Ở đây cho thấy sự nhận thức của dân chúng về Chúa Giêsu chưa xác thực, vì họ chỉ nhận ra Người là một vị đặc biệt như những người đặc biệt khác trước đây, chứ chưa có ai nhận ra Người là một nhân vật trổi vượt hẳn trên các nhân vật khác của Kinh Thánh . Họ chưa nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế .

4 / " Còn các con, các con bảo Thầy là ai ? " : 

Chúa Giêsu đặt câu hỏi này với các môn đệ là để nhắc nhủ các ông phải nhận thức về Người cách xác thực hơn sự nhận thức của dân chúng .

5 / " Phêrô lên tiếng đáp : Thầy là Đấng Kitô " : 

Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế . Đây là lời tuyên xưng xác thực về thân thế của Chúa Giêsu . Chính Chúa Giêsu đã xác quyết về lời tuyên xưng này trước mặt Caipha ( Mc 14, 61 - 62 ) .

Cần lưu ý Lc 9, 20 và Mc 8, 19 chỉ nói : " Thầy là Đấng Kitô " còn Mt 16, 16 lại thêm " Con Thiên Chúa Hằng sống " . Lý do sự khác biệt này có lẽ là do Mc đã viết theo bài giảng của Phêrô, mà Phêrô lại không kể yếu tố " Con Thiên Chúa Hằng sống ", và Lc thì viết Tin Mừng theo tài liệu của Mc, nên cũng bị ảnh hưởng .

6 / " Người nghiêm cấm các ông không được nói về Người với ai " : 

Chúa Giêsu ngăn cấm không phải vì Người phủ nhận lời tuyên tín của Phêrô, nhưng Người cấm là vì : một đàng để tránh sự cuồng nhiệt của dân chúng, đàng khác sự xác thực về Đấng Cứu Thế chịu đau khổ như ý Thiên Chúa muốn lại ngược với niềm trông đợi của dân Do thái . Hơn nữa, sứ mệnh thiên sai của Chúa Giêsu chỉ được bầy tỏ cách hoàn hảo qua cuộc tử nạn phục sinh của Người thôi .

7 / " Người bắt đầu dậy các ông biết Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều " : 

Đây là lần đầu tiên ( Lần thứ hai Mc 10, 33 ; Mt 20, 17 - 19 ; Lc 18, 31 - 33 ) Chúa Giêsu loan báo về sự tử nạn và phục sinh của Người, điều mà Người vẫn giữ kín . Chúa Giêsu giữ kín điều này với các môn đệ là vì sợ các ông còn yếu đức tin . Nay, qua lời tuyên tín của phêrô, các ông đã được biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, nên các ông có thể nhận và làm quen với ý tưởng Đấng Cứu Thế chịu đau khổ .

Ở đây Chúa Giêsu tự xưng là " Con Người " để nhấn mạnh về nhân tính của Người, thứ nhân tính mà Người tự đồng hóa với tội nhân, mặc dầu Người vô tội .

8 / " Bấy giờ Phêrô kéo Người lui ra mà can trách Người " : 

Tuy vừa mới tuyên xưng, nhưng Phêrô chưa hiểu rõ về lời mình tuyên xưng - Đấng Cứu Thế chịu đau khổ - nên ông đã có phản ứng theo kiểu phàm nhân trước lời loan báo của Chúa Giêsu .

Sự can trách của Phê rô chứng tỏ rằng :

+ Chúa Giêsu mà chịu khổ nạn như vậy thì các môn đệ cũng sẽ chịu đồng số phận ấy, điều mà theo sức tự nhiên các ông chẳng ai muốn .

+ Tư tưởng và ước vọng của các môn đệ đang còn theo kiểu thế gian . Các ông không nghĩ đến các điều thuộc về Thiên Chúa, nhưng đến những điều thuộc về thế gian .

9 / " Satan hãy lui đi, vì ngươi không biết việc Thiên Chúa mà chỉ biết việc loài người " : 

Chúa Giêsu quở trách Phêrô là vì cuộc khổ nạn của Người là quy định của Thiên Chúa, bây giờ can Người điều đó, tức là xúi dục Người bất phục tùng thánh ý Thiên Chúa . Sự xúi dục như thế chỉ có thể là công việc của Satan, kẻ đã toan lôi kéo Người theo đường lối đó lúc Người bắt đầu cuộc đời công khai ( Mc 1, 12 - 31 ; Mt 4, 10 ) và vì vậy chứng tỏ Phêrô không hiểu biết việc Thiên Chúa mà chỉ hiểu biết việc loài người .

10 / " Người tập họp dân chúng cùng các môn đệ lại " : 

Sau khi đã loan báo trước về cuộc khổ nạn mà Người sẽ chịu và trách mắng Phêrô vì đã can ngăn Người chịu đau khổ, Chúa Giêsu bắt đầu giảng dậy dân chúng và các môn đệ con đường theo Chúa là con đường Thánh giá .

11 / " Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mà theo Ta " : 

Ai muốn theo Ta : Đây là một lời mời gọi nói lên ý hướng tự do của người theo . Theo Chúa là quyền tự do của con người lựa chọn, Chúa không bắt buộc nhưng mời gọi .

Hãy từ bỏ mình : có nghĩa là " Tự ghét mình " ( Lc 4, 26 ; Ga 12, 35 ) . Sự từ bỏ này nằm trong đòi hỏi căn bản mà Chúa Giêsu muốn đặt cho những ai Người muốn mời gọi : Từ bỏ hết, từ bỏ chính mình cách cụ thể có nghĩa là liều mất mạng sống của mình .

Vác thập giá mà theo Ta : có nghĩa là theo Chúa Giêsu trên đường khổ nạn . Đó là việc thông phần vào đau khổ của Chúa Giêsu ( chịu khó, hy sinh, vì mến Chúa để đền tội ) . 

12 / " Ai muốn cứu mạng sống mình, sẽ mất " : 

Ai muốn ( nằm lì ) cuộc sống mình ở trần, thì kẻ đó sẽ mất sự sống ở đời sau .

Ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống mình .

Ai sẵn sàng chịu hao mòn, chịu mất mát và thậm chí chịu chết mạng sống thuộc về thế gian của mình vì Chúa và vì tinh thần Tin Mừng thì sẽ nhận lãnh được sự sống của mình ở đời sau .

Ở đây muốn nói ai không chấp nhận thanh tẩy cuộc sống của mình ở trần gian thì không được vào Nước Trời . còn ai sẵn sàng vì theo Chúa và vì sống tinh thần Tin Mừng mà chịu mất sự sống thuộc về trần gian của mình thì sẽ được vào Nước Trời .

II . ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc nhủ chúng ta phải xác tín hơn vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu chuộc, để chúng ta biết dùng những đau khổ trong cuộc sống thông phần vào những đau khổ của Chúa Kitô trên Thánh giá .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a / Xem việc Người làm : 


Chúa Giêsu đã dựa vào bầu khí thuận tiện yên tĩnh xa sự nhòm ngó của người chung quanh để tâm sự và tỏ bầy ý định thầm kín của mình cho các môn đệ : Chúa cũng muốn tỏ bầy ý định thầm kín của Người cho chúng ta khi tâm hồn chúng ta yên tĩnh, xa cách những chi phối, những ràng buộc của thế gian trần tục . Chúa dễ dàng phán bảo chúng ta khi tâm hồn chúng ta biết từ bỏ mọi sự để quy hướng về Chúa .

Chúa Giêsu nặng lời với Phêrô vì thấy ông theo kiểu Satan cản trở ý định của Thiên Chúa . Khi chúng ta đi theo thói đời ngược với tinh thần của Chúa, thì chúng ta cũng phải nghĩ đến Chúa sẽ nặng lời với chúng ta khi ta đến trước toà phán xét của Người .

b/ Nghe lời Người nói : 

* Người ta bảo Thầy là ai ? chúng ta cũng phải quan sát tìm hiểu tâm trạng và tinh thần những người chung quanh, đặc biệt những người chúng ta có trách nhiệm liên đới và ý thức đạo đức của họ để trình bầy với Chúa trong những giờ cầu nguyện, xin lãnh ý của Chúa để phục vụ đắc lực hơn .

* Còn các con, các con bảo Thầy là ai ? là người tông đồ của Chúa, Chúa cũng hỏi chúng ta lời này để tỉnh thức niềm tin của chúng ta vào Chúa, và nhờ đó chúng ta biết tuyên xưng Chúa cách xác thực qua đời sống tông đồ của ta . Chúng ta cũng noi gương Chúa biết tìm hiểu dư luận chung quanh về mình để biết người biết ta hơn .

* Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình : theo Chúa, chúng ta có đủ can đảm từ bỏ chính mình để chấp nhận hy sinh gian khổ trên đường hoàn thiện đời sống không ?

2 / Nhìn vào các tông đồ : 

+ Chúa hỏi các tông đồ về ý thức của dân chúng Chúa cũng đòi hỏi chúng ta về liên đới trách nhiệm phần rỗi của tha nhân .

Noi gương Phêrô chúng ta phải biết tuyên xưng đức tin của mình cách cụ thể qua đời sống .

+ Phêrô bị Chúa khiển trách là Satan vì ông ngăn cản ý định của Thiên Chúa . Chúa cũng khiển trách mỗi lần chúng ta từ bỏ tinh thần của Chúa mà chạy theo tinh thần thế gian .

* Sinh ra đời, ai cũng mang mầm mống ích kỷ trong mình . Người ta thích thu hơn là thích cho đi, thích hưởng thụ hơn là chia sẻ, thích cai trị hơn là phục vụ . Nhưng người theo Đức Kitô phải khác hẳn họ yêu người nên ban tặng, họ vị tha nên dấn thân và họ bỏ mình để phục vụ .

* Bỏ mình là hy sinh, là mất mát thiệt thòi . Nhưng khi bỏ mình vì Chúa, bạn không lỗ lã gì . Bỏ hữu hạn để được Đấng tuyệt đối, bỏ các giai đoạn để được vĩnh viễn . Nếu bạn còn đức tin thì đừng suy tư kiểu loài người mà khắc nghi giáo huấn Chúa " Ai liều mạng vì Ta sẽ được sống " .

* Từ bỏ chính mình không phải là điều quyết định một lần là đủ, mà phải là tâm trạng luôn luôn sẵn sàng trong suốt cuộc đời .

* Sống giữa xã hội, điều trái ý là bạn đường của ta . Dù không muốn có nhiều lúc bạn gặp cô đơn, bệnh tật, nghèo đói, bị nói hành, sỉ vả nhục mạ, có khi bị hành hạ, tra tấn ... nếu là vì Chúa, bạn sẽ thấy Đấng bỏ mình chấp nhận chén đắng để vâng ý Cha : Người đã chịu tất cả những điều đó và đang ở bên bạn . Nhưng bạn hãy hết sức tránh nếu chỉ vì lý do khác, Chúa chỉ muốn bạn bỏ mình " Vì Thầy" thôi .


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn