Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXIV Thường Niên C

Tin Mừng Lc  15: 1-10 Bài Tin Mừng hôm nay Giáo Hội muốn chỉ cho chúng ta thấy, Chúa Giê-su là Đấng mà qua đó Thiên Chúa bày tỏ cho chúng ta niềm vui và sự nhân từ thương xót của Người và đồng thời nhắc nhủ chúng ta phải biết bày tỏ lòng nhân từ và thương xót đối với tha nhân, đặc biệt đối với những người đáng thương về phần hồn cũng như phần xác.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT - TUẦN 24 - THƯỜNG NIÊN C



Xh 32,7-11.13-14 ; 1Tm 1,12-17 ; Lc 15,1-32



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

BA DỤ NGÔN VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT (Lc 15,1-32)
(Xin xem Chủ nhật 4 Mùa Chay C)



Noel Quession - Chú Giải


Tin Mừng hôm nay, nếu đọc đầy đủ, gồm "ba dụ ngôn nổi tiếng về lòng nhân hậu , mà Luca đã tập họp trong chương thứ mười lăm. . . 1. Con chiên bị mất và tìm lại được 2. Đồng bạc bị đánh mất và tìm lại được. . . 3. Đứa con đi mất và trở về... Ba dụ ngôn này được xây dựng trên cùng một sơ đồ và đạt đỉnh cao trong dụ ngôn thứ ba mà nhan đề truyền thống là "dụ ngôn đứa con hoang đàng". Tuy nhiên, vì dụ ngôn thứ ba này đã được suy gẫm vào Chúa nhật IV Mùa Chay của cùng năm Phụng vụ này, nên hôm nay chúng ta chỉ cần chú giải hai dụ ngôn đầu.

Tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi phường đến gần Đức Giêsu mà nghe Người. Còn những ngườí thuộc phái Pharisêu và các kinh sư thì lẩm bẩm : "ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng".

"Ong này đón tiếp phường tội lỗi, đó là một định nghĩa về Chúa Giêsu, đồng thời cũng là một mạc khải của Thiên Chúa !". "Ai thấy tôi là thấy cha tôi" (Ga 14,9).

Những người Pharisêu và các kinh sư là những người rất được trọng vọng. Họ thật sự bị sỉ nhục vì Đức Giêsu thường tiếp phường tội lỗi. Phần chúng ta, chúng ta có thể hoàn toàn bỏ qua khía cạnh "Tin Mừng" của ngày hôm nay, nếu chúng ta không nhận ra rằng bài Tin Mừng này cũng vì chúng ta. Phải chăng chúng ta là những người nói rằng : "Tôi không làm gì xấu, tôi là một người tử tế, tôi không có tội".

Tuy nhiên, trong phần thư của Thánh Phaolô mà chúng ta đọc hôm nay, thánh nhân lặp lại với chúng ta : "Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi mà kẻ đầu tiên là tôi" (1 Timôtê I,15). Phụng vụ ngày Chúa nhật đầy rẫy thực tại "cứu độ" "tội lỗi được tha thứ". Chúng ta có đem lại một nội dung cụ thể cho các từ đó ? Chúng ta có thuộc phái Pharisêu chỉ nhìn thấy tội lỗi. Trong những người khác ? Trước khi đi xa hơn trong sự suy niệm của tôi, tôi cần phải bình tâm và sáng suốt nhận thực rằng tôi là kẻ tội lỗi" khi nhớ đến những thiếu sót mà tôi phạm phải trong đời tôi.

Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này : Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang để tìm cho kỳ được con chiên bị mất ?"

Đức Giêsu hỏi. Người kêu gọi kinh nghiệm của các cử tọa, các ông nghĩ gì ? Các ông sẽ làm gì ? Thật ra , không một mục đồng nào chịu mất dù chỉ một con chiên, nhưng lo lắng để tìm lại nó.

Các triết gia đã biến Thiên Chúa thành một ý niệm vững chắc : Một hữu thể bất động, không hề thay đổi... Còn ở đây chúng ta đứng trước một Thiên Chúa "chuyển động", đang mở chiến dịch tìm kiếm cái mà Người đã mất ? Và Đức Giệsu đặt trước mắt - chúng ta các cậu mục đồng vùng đồi núi Galilê đang chạy hết tốc độ, chân trần trên sỏi đá để tìm lại một con chiên đi lạc khỏi đàn. Chúng ta đoán được sự ngoan cường của các cậu trai ấy, "tìm kiếm cho tới khi nào tìm thấy ! "

Thiên Chúa là như thế . . .

Không bao giờ có người nào bị Thiên Chúa bỏ rơi.

Không bao giờ có người nào "bị mất" hẳn, bởi vì có Đấng yêu thương người ấy không ngừng đi tìm người ấy. Thiên Chúa không chịu ngồi chờ kẻ tội lỗi trở về. Người ra đi tìm họ.

Chúng ta còn phải chiêm niệm lâu dài Thiên Chúa đó, Đấng mà Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta. Khi người ta yêu thương, thì số học không còn như cũ. Lúc đó, có thể đặt dấu bằng (=) ở giữa số 1 và số 99. Đối với Thiên Chúa, mỗi người đàn ông, mỗi phụ nữ có một giá trị độc nhất, vô giá. Tôi nhìn thấy con chiên độc nhất ấy đã bò trốn hoặc đã bị mất. Đó là con chiên chiếm hết ý nghĩ của cậu mục đồng. Và xem ra chỉ có nó mới là đáng kể. Chúng ta có một Thiên Chúa như thế . Một Thiên Chúa tiếp tục nghĩ đến những ai đã bỏ rơi Người, một Thiên Chúa yêu mến những ai không yêu mến Người, một Thiên Chúa đau khổ chỉ vì một trong số các con chiên của Người làm Người lo lắng.

Đôi khi, tôi chẳng phải là con chiên đó sao ? Và, xung quanh tôi , như ông nọ , bà kia , cô X. . . , ông Y. . . không người nào bị bỏ rơi. Thiên Chúa đang tìm kiếm họ.

"Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai..."

Đây là một hình ảnh kỳ diệu, một trong những tranh thánh đã thể hiện Đức Giêsu như thế ngay từ những thế kỷ đầu : Một người chăn chiên sung sướng, tươi cười, vác trên vai một con chiên. Trong nội tâm mình, chúng ta còn phải chiêm niệm hình ảnh ấy của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã có một sự quan sát rất tinh tế với chi tiết đơn giản đó : "vác con chiên trên đôi vai", khi một con chiên đi lang thang nhiều giờ hoặc nhiều ngày xa đàn chiên, nó kiệt sức và nằm xuống. Thật ra phải vác nó thời. Và một con chiên nặng đấy ? Nhất là khi người chăn chiên cũng đã chạy nhiều giờ trên những ngọn đồi nhiều sỏi đá dưới ánh nắng mặt trời. . . Chính người chăn chiên cũng rất mệt nhọc ? Nhưng, Đức Giêsu nói, hoàn toàn vui mừng, người đó quên đi sự mệt nhọc của mình, bế nó lên tay và vác nó.

Chính Thiên Chúa được giới thiệu với chúng ta như thế ! Vả lại hình ảnh ấy không mới mẻ . Toàn thể Kinh thánh đã thể hiện Thiên Chúa dưới những đường nét của "Người chăn chiên" (Isaia 40,11 - 49,10 v.v...). Và mỗi Kitô hữu thỉnh thoảng phải đọc lại Thánh Vịnh 26 tuyệt vời : "Chúa là đấng chăn dắt tôi, tôi không thiếu thốn chi".

"Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói : "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó".

Niềm vui của người chăn chiên rất mạnh mẽ nên người ấy không thể, giữ lại cho một mình mình. "Xin chung vui với Ta" Thiên Chúa nói. Vậy giờ đây Thiên Chúa là hữu thể đang vui mừng và chia sẻ nềm vui. Chúng ta hoàn toàn khác với các người Pharisêu và kinh sư hay càu nhàu, bẳn gắt !

Vậy tôi nói cho các ông hay : "Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn".

Thiên Chúa vui mừng tha thứ cho những kẻ tội lỗi .

Thiên Chúa vui mừng để cứu độ, vì Người không biết kết án ai. Trên trời có niềm vui ! Vậy khi nào ? Mỗi lần một kẻ tội lỗi hoán cải. Chỉ một thôi ư ! Mỗi lần mà sự ác lùi lại một chút trên mặt đất.

Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà moi móc tìm cho kỳ được ?

Luca, vốn rất quan tâm đến các phụ nữ là người duy nhất thuật lại cho chúng ta dụ ngôn đầy "nữ tính" này, để nói lại với chúng ta cùng một sự việc dưới một hình ảnh bổ sung. Sự lặp lại này không đơn thuần là một minh họa mới : Đức Giêsu nhấn mạnh, như để nói với chúng ta rằng điều Người vừa mới mạc khải không phải là một sự nói quá hoặc một sự nhầm lẫn ngẫu nhiên. Tình yêu phi thường của Thiên Chúa được tái xác nhận ở đây.

Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói : "Xin chung vui với tôi vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất". 

Vậy giờ đây một niềm vui rất đơn sơ được chia sẻ giữa những Người phận nhỏ. Đây cũng là một sự quan sát cụ thể của Đức Giêsu. Người phụ nữ được đưa lên sân khấu này là một Người nghèo : Bà không sở hữu "một trăm con chiên" , bà chỉ có mười "đồng quan " ! Đồng quan này chỉ số tiền lương trung bình một ngày công nông nghiệp (Mt 20;2). Vì thế không phải là gia tài to lớn gì mà bà đã tìm lại được Nhưng bà cũng muốn chia sẻ niềm vui. Thiên Chúa là như thế đó. Chúng ta còn chưa hiểu đủ bầu khí vui mừng xuất phát từ tấm lòng của Thiên Chúa nằm rải rác khắp nơi trong toàn bộ Tin Mừng như một "Tin Mừng", và niềm vui ấy muốn tràn ngập nhân loại được "cứu thoát" .

"Cũng thế, tôi nói cho các ông hay : Giữa triều thần Thiên Chúa ai nấy sê vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối".

Hình ảnh này rất đẹp. Không nên cụ thể hóa nó. Có một cuộc lễ trên thiên giới. Niềm vui của Thiên Chúa lan truyền và trở thành niềm vui của các thiên thần.

Tất cả lễ hội hân hoan này chỉ vì sụ hối cải của một người tội lỗi ?

Tư tưởng Kitô giáo, phản ánh tư tưởng của Đức Giêsu đầy sự tinh tế. Phải nhấn mạnh rằng, không hề có một sự làm hại thanh danh với "tội lỗi" trong thái độ đó. Đức Giêsu không bao giờ nói rằng tội lỗi không quan trọng. Trái lại, sự lên án của Người đối với tội lỗi thì mãnh liệt và không chút mơ hồ. Như mọi ngôn sứ, Đức Giêsu đòi hỏi sự hoán cải và sám hối (Máccô 1,15). Và nếu các dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe là một lời rao giảng về tình yêu Thiên Chúa thì chúng cũng là một lời rao giảng về sự hoán cải cần thiết của kẻ tội lỗi. Nhưng điều được nói ở đây một cách mạnh mẽ là luôn luôn Thiên Chúa có sáng kiến "đi tìm" điều đã bị mất. 'Tình yêu cốt ở điều này ; không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta trước " ( 1Ga 4 ,10 -19 ) .

Chúng ta có để Thiên Chúa yêu thương chúng ta không ? Chúng ta có mang lại niềm vui cho Thiên Chúa không ? Và có bước vào trong niềm vui của Thiên Chúa không ? Cần phải đọc lại phần kế tiếp là dụ ngôn về đứa con hoang đàng, trong Chúa nhật IV Mùa Chay.



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

Xem lại Chúa nhật IV Mùa Chay Cha

"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải" (Lc 15,1-32).

I.Ý CHÍNH :

Thánh sử Luca thuật lại ba dụ ngôn : con chiên lạc, đồng bạc bị mất, và cậu con bụi đời trở về, để diễn tả lòng nhân từ thương xót và niềm vui của Thiên Chúa đối với người tội lỗi hối cải.

II.SUY NIỆM:

1."Những người thu thuế và tội lỗi đến gần Chúa Giê-su để nghe lời Người giảng":

Trong xã hội Do Thái, những người thu thuế được coi như tội nhân công khai và bị biệt phái lên án. Nhưng ở đây, thái độ người thu thuế và tội lỗi đến gần Chúa để nghe lời Người giảng, đã nói lên rằng Chúa Giê-su tiếp đón họ là để bày tỏ vai trò cứu thế của Người. Người muốn cứu rỗi mọi người không phân biệt ai, kể cả những người tội lỗi này, đồng thời cũng làm nổi bật ý nghĩa những hạng người tội lỗi này ý thức rằng họ cần phải đến với Chúa Giê-su và nghe lời Người, bởi vì họ không thể tìm được nơi nào khác , lời hy vọng sự tiếp đón nhân từ và thương xót đó.

2."Thấy vậy luật sĩ và biệt phái lẩm bẩm…."

Những luật sĩ và biệt phái vốn có thái độ khinh miệt và lên án những hạng người tội lỗi , nên khi thấy Chúa Giê-su tiếp đón những hạng người này thì họ tỏ vẻ bất bình, khó chịu và kêu trách Chúa.

3. "Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn":

Trước những thái độ lẩm bẩm kêu trách ấy, Chúa Giê-su đã trả lời bằng ba dụ ngôn về con chiên lạc, đồng bạc bị mất và cậu con bụi đời trở về. trong ba dụ ngôn này có một sự tiệm tiến : Một con chiên trong số một trăm con, một đồng bạc trong số mười đồng, một đứa con trong số hai người con : cái đánh mất rồi tìm thấy càng lúc càng trở nên giá trị và quý hoá hơn. Vì thế, ở đây ba dụ ngôn muốn nói lên lòng thương yêu nhân từ và niềm vui mừng của Thiên Chúa đối với người tội lỗi hối cải.

4 ".Ai trong các ông có một trăm con chiên, nếu mất…":

Hình ảnh người chăn chiên với bày chiên là một chủ đề cổ điển trong Cựu Ước để nói lên tương quan giữa Thiên Chúa và dân Người (Lc 12,32). Hình ảnh tìm thấy chiên lạc cũng là hình ảnh cổ truyền nói lên ơn cứu độ (Mt 4,6-7. Gr 23,1-4 ; Ed 34,11-1). Dụ ngôn này cũng có trong Tin-Mừng của Matthêu áp dụng dụ ngôn vào trách nhiệm những vị lãnh đạo Giáo Hội đối với những người bé nhỏ trong cộng đoàn, còn Luca nói lên việc Thiên Chúa tìm kiếm người tội lỗi.

"Để 99 con khác trong hoang địa mà đi tìm…":

"Hoang địa" ở đây được hiểu là nơi an toàn có đồng cỏ xanh tươi. "Đi tìm con chiên lạc": số 1 bị mất so với số 99 còn lại, tuy về số lượng bị chênh lệch xa, nhưng xét về tính chất thì con số 1 bị mất có tầm mức quan trọng đến nỗi khiến người chăn chiên phải bỏ 99 con kia mà đi tìm cho bằng được. Y nghĩa này nói lên tầm mức quan trọng và giá trị do sự trở về của một tội nhân : quan trọng đến nỗi bất cứ giá nào, người tội lỗi đó cũng phải được tìm về , điều đó chứng tỏ lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.

5."Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng….":

Ơ đây muốn nhấn mạnh đến thái độ của người chăn chiên đối với con chiên lạc duy nhất này. ông đi tìm, ông gặp được nó, nỗi vui mừng được phát biểu qua hai cách :

+Ong vác chiên lên vai như một dãi khăn quàng sống động để nó thật gần gũi với mình.

+Ong kêu mời bạn bè hàng xóm đến chia sẻ hạnh phúc của ông : niềm vui của ông tỏ rộng và lây sang người khác.

6."Cũng vậy, trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải…":

Ơ đây không aó ý so sánh giữa người tội lỗi hối cảivới người công chính không hối cải cho bằng muốn nêu lên rằng sự hối cải của người tội lỗi là nguyên nhân phát sinh ra niềm vui lớn lao ở trên trời, tức là niềm vui của Thiên Chúa và các Thiên Thần bên cạnh Người cùng thông dự vào niềm vui đó.

Cần lưu ý rằng "những người công chính không cần hối cải". Ơ đây được hiểu là những công chính giả hiệu, vì họ tự mãn cho mình là công chính nên không cần hối cải nữa, chứ thật ra họ không phải là người công chính đích thực. Điều này muốn ám chỉ các luật sĩ và biệt phái, là những người tự cho mình là công chính. Những người công chính giả hiệu ấy không đem lại niềm vui cho Nước-Trời bằng một người tội lỗi có lòng hối cải.

7."Người đàn bà có mười đồng bạc nếu mất một đồng":

Đây là câu chuyện xảy ra bên trong nhà người dân Palestin : nhà của họ chỉ là căn nhà bằng đất nên tối tăm, ánh sáng không có bao nhiêu và chỉ lọt qua cửa chính, vì nếu mở cửa sổ nắng sẽ hắt vào. Ngay giữa ban ngày cũng cần một ngọn đèn nhỏ để soi các các xó góc, khi muốn tìm một vật gì trong nhà, Chúa Giê-su đã dựa vào hoàn cảnh như vậy để đưa một dụ ngôn đồng bạc bị mất.

Một đồng bạc ở đây có giá trị tương đương với một ngày làm công (Mt 20,2). Ơ đây muốn nói lên sự mất mát dù chỉ có một đồng cũng là điều quan trọng khiến cho chủ nhà cũng phải tốn công tìm kiếm. Đốt đèn, quét nhà, tìm kỹ lưỡng, điều này cũng muốn ám chỉ lòng thương yêu của Thiên Chúa đối với tội nhân :Người không muốn để ai bị hư đi, nhưng muốn cứu vớt mọi người, do đó người muốn tìm kiếm mọi tội nhân trở về với Chúa.

8."Chị em hãy vui mừng với tôi…..":

Thường tình một đồng bạc chẳng đáng giá gì để có niềm vui như vậy. nhưng đồng bạc này có giá trị vì nó tương đương với 1/10 gia bảo của chủ. Vì thế nó có một giá trị lớn lao đối với chủ của cho nên nó xứng đáng được chủ của vui mừng lớn khi tìm lại được nó sau khi mất. Hình ảnh này nói lên tầm mức quan trọng của cái đã mất và của sự tìm lại được sau khi mất. Và vì vậy sự hối cải của tội nhân là điều cần thiết đem lại niềnm vui lớn cho Nước-Trời là vì vậy.

9. "Người lại phán: Người kia có hai con trai….":

Dụ ngôn này đã được suy niệm Chúa nhật IV Mùa Chay Năm C. (Xin xem lại)

III.ÁP DỤNG :

A/Ap dụng theo Tin-Mừng :

Qua bài Tin-Mừng hôm nay Giáo Hội muốn chỉ cho chúng ta thấy, Chúa Giê-su là Đấng mà qua đó Thiên Chúa bày tỏ cho chúng ta niềm vui và sự nhân từ thương xót của Người và đồng thời nhắc nhủ chúng ta phải biết bày tỏ lòng nhân từ và thương xót đối với tha nhân, đặc biệt đối với những người đáng thương về phần hồn cũng như phần xác.

B/Ap dụng thực hành:

1/ nhìn vào Chúa Giê-su : qua hai dụ ngôn này:

+ Chúa Giê-su là chủ chăn : không để mất một con chiên nào, Chúa muốn cứu vớt mọi người. là người có trách nhiệm với tha nhân, chúng ta không được bỏ rơi bất cứ một ai, nếu có người nào hư đi, chúng ta càng phải có trách nhiệm giúp họ hơn.

+ Chúa Giê-su là chủ chăn :khi tìm được chiên lạc thì vác chiên trên vai : Chúa gần giũ với kẻ có tội để cứu vớt họ. Chúa đón tiếp kẻ có tội biết thống hối như một người bạn thân thiết hay như một người con thân yêu chứ không như một tội nhân đáng trường phạt. Noi gương Chúa chúng ta xử thế như vậy đối với những ai xúc phạm, gây thiệt hại cho ta.

2. Chúa Giê-su dưới hình ảnh người đàn bà mất một đồng bạc : Chúa Giê-su lo lắng đi tìm kiếm người tội lỗi như người đàn bà đốt đèn tìm một đồng bạc bị mất. Noi gương Chúa, chúng ta có lòng thao thức và tìm kiếm những người bị bỏ rơi, những người đáng thương …chúng ta chia sẻ niềm vui của Chúa đối với tội nhân có lòng hối cải bằng cách nỗi lực và cố gắng trong việc Tông Đồ và phục vụ phần rỗi của tha nhân./.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn