Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXV Thường Niên A

Tin mừng Mt 20: 1-16: Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại dụ ngôn ông chủ thuê thợ làm vườn nho, để trình bày việc vào Nước Trời không phải là một món tiền lương do công lao của con người, nhưng là một ơn nhưng không do lòng nhân lành của Thiên Chúa ban cho...


CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN A
 

NGÀY 24/09/2017
 



Tin mừng Mt 20: 1-16

 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

DỤ NGÔN THỢ LÀM VUỜN NHO

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Vì sao dụ ngôn thợ làm vườn nho (được đóng khung trong cùng một châm ngôn: 19,30 = 20,16). lại nằm trong văn mạch này và đâu là trọng tâm của nó?

2. Trong Cựu ước, vườn nho tượng trưng cái gì?

3. Khi trả cho mỗi người cùng một đồng tiền công, trong lúc số giờ làm việc lại khác nhau, phải chăng chủ vườn nho đã lỗi đức công bằng xã hội? Ta có thể đặt ra vấn đề cứu rỗi bằng ngôn ngữ công nghiệp cá nhân tương đương với các quyền lợi đối với Thiên Chúa không?

4. Những người thợ giờ thứ nhất phản đối sự bất công hay lòng tốt của gia chủ?

5. Phải chăng có sự tương tự giữa thái độ của các người thợ này với thái độ của người anh cả trong dụ ngôn đứa con hoang đàng?

1.Ý nghĩa tổng quát của dụ ngôn thật rõ ràng, nhưng cách dụng nó lại hơi khả nghỉ. Vì thế có lẽ đầu tiên nên đi từ ý nghĩa tổng quát trước khi sang phần áp dụng cụ thể.

Nếu thu gọn lại trong hai vế của một so sánh, dụ ngôn có thể tóm tắt như thế này: cũng như sau một ngày lao động trong đó các người thợ đã làm việc với những số giờ rất khác nhau, ông chủ đã trả cho tất cả cùng một số tiền, vì muốn tỏ ra ông rãi với một vài kẻ đồng thời không bất công với bất cứ ai, thì cũng thế, Chúa có quyền đối xử rộng rãi với những kẻ Ngài muốn mà không bao giờ lỗi đức công bằng, và chẳng ai có quyền chỉ trích chuyện ấy được. Hình như đây đúng là ý nghĩa tự nhiên nhất của dụ ngôn như nó hiện ra trong Mt. Chủ đề của dụ ngôn rõ ràng là chủ đề về lòng quảng đại của Thiên Chúa, Đấng ban cho mọi người cùng một hồng ân lạ lùng và nhưng không, gọi là ơn cứu rỗi. Tình yêu của Thiên Chúa tuôn tràn đến tất cả mọi người chẳng phân biệt ai. Điều chủ yếu là đón nhận tình yêu ấy, chứ đừng đo lường lòng tốt của Ngài theo bản thanh toán của công bằng giao hoán nhân loại.

2. Dụ ngôn này được gửi đến ai? nhắm ai? Căn cứ vào văn mạch trực tiếp đóng khung dụ ngôn, một số cho rằng nó được gởi đến các môn đồ. Số khác, dựa vào văn mạch chung của cả phần này (ch.19-23), một văn mạch rõ ràng là có tính cách tranh luận, nghĩ rằng đúng hơn dụ ngôn nhắm đến nhóm Biệt phái đang ghen tức vì thấy Chúa Giêsu quan tâm đến hạng thu thuế và tội lỗi: họ bảo Người muốn trả lời Biệt phái ràng, dù "đã vác nặng cả một ngày thường" qua việc tuân giữ Lề luật từ buổi thơ ấu, họ không được phép chỉ trích việc Thiên Chúa lấy lòng nhân lành ban cho các tội nhân, vào muộn trong nước Trời, cùng một phần thướng như họ. Sau hết có kẻ áp dụng dụ ngôn vào mối liên hệ giữa Do thái và lương dân: nhưng người này, dù vào trễ trong nhiệm cục cứu rỗi của Đấng thiên sai, cũng sẽ thừa hưởng các lời hứa đã ban cho tuyển dân; việc họ gia nhập muộn màng không có nghĩa là họ thông phần ít hơn vào các của cải thiêng liêng Chúa Kitô mang đến. Phải chọn lối nào trong ba lối áp dụng vừa nêu?

3. Nếu lưu tâm đến 'toàn bộ thần học Mt, ta có thể tiên thiên bảo rằng trong ba lối áp dụng này, lối nào cũng có thể chấp nhận được. Quả vậy, mỗi lối đều đáp ứng một số bận tâm và chủ đề nòng cốt của Tin Mừng thứ nhất. Thành thử không có lý do gì để loại bỏ một trong ba, như thể nó mâu thuẫn với viễn thông của Mt. Dầu vậy, ta vẫn có thể xếp hạng chúng theo thứ tự đáng ttu tiên chấp nhận nhiều hay ít. Vì dù cả ba lối áp dụng đều dung nạp được, bộ không có một lối nào nổi bật hơn hai lối kia ư?

Câu trả lời dĩ nhiên là có, và người ta có lý để ưa lối thứ nhất hơn, là lối áp dụng dụ ngôn vào các môn đồ. Quả thế, văn mạch trực tiếp rất rõ ràng về điểm này: trong các đoạn văn đi trước và đi sau, chỉ có các môn đồ được đề cập. Và vì để trả lời cho một câu hỏi cụ thể của Phêrô mà Chúa Giêsu kể dụ ngôn này. Phải chăng Người cũng có nghĩ tới Biệt phái hoặc toàn thể Israel, được đại diện qua những kẻ "đầu hết" trở nên cuối hết"? Điều ấy có thể lắm, nhưng chẳng có gì trong bản văn xác quyết cho ta như vậy. Thành thử tốt hơn là nên lưu ý tới chính cách trần thuật của bản văn Tin Mừng và giải thích dụ ngôn dựa vào câu hỏi của Phêrô. Nhưng như thế thì nó sẽ mặc ý nghĩa nào?

4. Phêrô xem ra có một lối suy tưởng hơi tính toán. Phải tha mấy lần (18, 18- 22)? ông đã sẵn sàng tỏ ra quảng đại và đề nghị một giới hạn rộng rãi: 7 lần. Dù thế, ông vẫn mong một câu trả lời rõ rệt. Và Chúa Giêsu đáp: người phải tha đến 77 lần, nghĩa là luôn luôn. Kỳ thực, qua cách trả lời đó, Chúa Giêsu khẳng quyết ta không thể qui định vấn đề các tương giao liên vị dựa trên một nền tảng có tính cách định lượng được.

Trong trường hợp hiện tại cũng vậy, Phêrô muốn biết những ai đã từ bỏ mọi sự để phục vụ Chúa Kitô sẽ được phần thưởng nào. Ông nghĩ cả hai vế của phương trình phải cân đối: phục vụ và hy sinh bao nhiêu, phần thưởng sẽ là bấy nhiêu. Chúa Giêsu vồn vã trả lời và đoan chắc với ông rằng các tôi tớ người sẽ được ân thưởng bội hậu. Tuy nhiên câu hỏi của Phêrô đã bị chuyển hướng và cho thấy ông có thái độ sai lầm. Nước Trời đâu phải dựa trên luật giao hoán đổi chác, lao động bao nhiêu, tiền lương bấy nhiêu! Không nên áp dụng cái có thể là thủ tục hoàn toàn chính đáng trong lãnh vực kỹ nghệ hay thương mại vào việc phục vụ Thiên Chú.a. Quả vậy, trong Nước trời. Chẳng có vấn đề công nghiệp cá nhân được đánh giá theo giờ lao động đâu. Đây tiên vàn là vấn đề đón nhận ân sủng. Thiên Chúa không mấy nhìn đến nỗ lực của người thợ cho bằng đến lòng quảng đại bao la của Ngài, hằng muốn hiện thân cho tất cả cách sung mãn, trọn vẹn. Thành thử trong văn mạch này, văn mạch nói đến việc trả lương cho các môn đồ (câu hỏi của Phêrô), dụ ngôn đã nêu lên một trường hợp trả lương cho các người thợ trong đó lòng quảng đại thắng lướt óc tính toán hơn thua.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Về Nước Trời thì cũng in như một gia chủ ": Bây giờ ta đã quen với loại công thức này rồi. Thực vậy, Nước Trời không giống như gia chủ, nhưng giống như toàn thể câu chuyện trong đó gia chủ đóng vai trò chính.

"Sau khi đã thuận giá với thợ là một quan tiền": Quan tiền tương đương với một phật lăng vàng và lượng trưng tiền công bình thường của một ngày làm việc thời Chúa Giêsu. Việc ghi nhận hợp đồng tiên quyết giữa chủ và thợ đây sẽ thấy là quan trọng vào cuối dụ ngôn: khi chỉ nhận một quan tiền, toán thợ đầu tiên không hề bị thiệt thòi gì cả, vì đó là tiền lương đã thỏa thuận với nhau.

"Giờ thứ ba, ông ra... ": Dù theo qui định, một ngày bắt đầu từ lúc hoàng hôn (xem "việc thánh hóa hưu nhật" bắt đầu từ chiều thứ 6), người ta vẫn chỉ lính giờ kể từ lúc mặt trời mọc. Như thế giờ thứ 3, thứ 6, thứ 9 và thứ 11 tương ứng với 9 giờ, 12 giờ trưa, 15 giờ và 17 giờ; ngày làm việc chấm dứt lối 18 giờ.

"Tôi sẽ tính phải chăng cho các anh": Qua câu nói đó, các người thợ sau phải hiểu rằng tiền công của họ sẽ là một phần quan tiền.

"Khởi từ cuối hết cho đến đầu hết": Đây là một việc dị thường đối với tập tục dương thời, nhưng trình thuật cố ý kết cấu như vậy để làm cho ra vẻ thực các lời kêu trách của những người thợ chứng kiến lòng tốt lạ lùng của gia chủ đối với những kẻ lãnh đầu tiên.

"Đã vác nặng cả một ngày trường, với nắng nôi thiêu cháy": Theo toán thợ giờ thứ nhất, họ đã bị thiệt thòi trong hai chuyện: vất vả suốt 12 giờ, trong lúc các kẻ khác chỉ làm việc có một tiếng, và hơn nữa đã phải hái nho dưới cơn gió nóng cháy trong lúc những kẻ đến sau lại được hưởng khí trời mát mẻ ban chiều. Thời hạn và điều kiện làm việc khó khăn cho họ quyền được trả lương cao hơn.

"Này bạn": Toán thợ giờ thứ nhất đã chẳng xưng hô với gia chủ bằng tên hay tước hiệu của ông, và đây ông ta làm cho họ hổ ngươi khi bất đầu câu trả lời của mình như thế (x.Lc 15, 31). Người ta vẫn thường dùng lối gọi này lúc nói với kẻ không biết tên; ở đây nó vừa đầy nhân hậu vừa đầy trách móc: "bồ ơi...". Trong 3 đoạn Tân ước có lối gọi này (Mt 20,13; 22,12; 26, 50), kẻ mà người ta nói với là kẻ có phạm lỗi gì đó.

"Hay bạn ghen tương (Nguyễn Thế Thuấn: hay mắt bạn lườm nguýt) vì tôi tốt lành": Câu này là kết luận thật sự của dụ ngôn, như ta sẽ thấy dưới đây, do đó phải nặc cho nó tất cả tầm quan trọng. Quả thế, thường thì câu kết luận của dụ ngôn là chìa khóa để hiểu dụ ngôn. Chữ "ghen tương", nếu dịch cho sát sẽ là: "mắt ác cảm", "mắt dữ tợn", một thành ngữ cổ xưa của Kinh Thánh thường xuất hiện trong Châm ngôn và huấn ca, để diễn tả, như ở đây, cơn tức giận và ghen tương của cả con người. Nếu đặt thành ngữ "mắt dữ tợn" vào lại trong nguyên bản, thì sự tương phản giữa các hạn từ mới nổi bật, và bài học của dụ ngôn trở nên rõ ràng hơn: "Hay mắt bạn dữ lợn vì tôi tốt lành?". Cách cư xử của gia chủ chẳng phải là hậu quả của một tính khí chướng kỳ, một bất công hữu ý, nhưng chỉ là kết quả của tâm địa tốt lành nơi ông: chính đó mới quan trọng. ông không muốn gây thiệt hại cho người này, ông chỉ muốn làm điều thiện cho người kia.

"Thế đó, những kẻ cuối hết sẽ nên đầu hết, và kẻ đầu hết sẽ nên cuối hết ". Vài tác giả xem châm ngôn này như một phần tất yếu hay hơn nữa, như mộ phần chủ yếu của dụ ngôn. Nghĩ như thế tất nhiên buộc lòng phải ép lối giải thích dụ ngôn sao cho ăn khớp với câu kết luận đó. Thánh Gioan Kim Khẩu đã tỏ ra sáng suốt hơn khi tuyên bố trong bài giảng thứ 64 của ngài: "Chúa Giêsu không diễn dịch châm ngôn này từ dụ ngôn đâu. Những người đầu tiên chẳng trở thành kẻ cuối hết; trái lại tất cả đều được thướng như nhau" (PG 58,614). Khiếu chú giải của ngài đã chỉ cho ngài giải pháp đích thực: châm ngôn không phát xuất từ dụ ngôn, nhưng đã được thêm vào do loại suy mà thôi.

Thực vậy, nếu thử liên kết câu tục ngữ với dụ ngôn mà nó được coi như là lại giải thích. Ta thất ngay rằng câu tục ngữ không thể nào phát xuất từ dụ ngôn, và cả hai chẳng có thể đi không với nhau được. Theo châm ngôn, thì các kẻ cam kết phải thực sự nên đầu hết và những kẻ đầu hết phải trở nên rốt cùng. Thánh Gioan Kim Khẩu ghi nhận một cách chí lý là bản văn hiện thời không thỏa mãn hai yêu sách ấy. Cùng lắm và theo một nghĩa nào đó, ta có thể chấp nhận rằng các người cuối hết đã nên đầu hết vì họ là những kẻ đầu tiên được gọi đến nhận tiền lương. Nhưng việc xếp hạng này chỉ có tính cách bề ngoài. Kỳ thực, tất cả đám thợ, lãnh cùng một phần thướng, đều ngang hàng như nhau. Đối với họ, chỉ có tiền mới đáng kể. Trẻ em có thể hưởng lợi lộc hơn khi được kêu đầu, nhưng người lớn lại xem việc trả lương trước hay sau cũng chả ăn thua. Vì thế, nếu dụ ngôn xem ra biện minh cho câu tục ngữ, thì đó chỉ là bề ngoài và theo lối chơi chữ mà thôi, chứ thực tế không phải vậy. Tục ngữ nói đến sự đảo ngược vị trí, còn dụ ngôn lại nói về việc đối xử đồng đều.

Chính bản văn giúp ta xác quyết lối giải thích vừa nêu. Các người thợ đầu tiên, khi tỏ ra ghen tương về quyền lợi đến độ căm tức, đã phàn nàn về chuyện gì? Về việc lãnh lương sau cùng ư? hay về chuyện bị đẩy lui vào hàng cuối? Chắc chắn là không! Chẳng thay họ phàn nàn, chống đối gì điểm này. Xin nói lại điều đó không ăn thua gì với họ cả; họ chỉ cần được trả lương đầy đủ, còn trước hay sau đôi chút không quan trọng. Họ phàn nàn ở chỗ là: dù đã lao công nhiều hơn kẻ khác, họ vẫn lãnh cùng một đồng lương như những kẻ đến làm việc sau cùng.

Trước giọng phàn nàn ấy, gia chủ đã đưa ra câu trả lời duy nhất thích hợp: "Này bạn, tôi đâu xử bất công với bạn, bạn đã chẳng thuận giá một quan với tôi sao? Bạn hãy lấy phần bạn mà đi. Còn việc cho người cuối hết này bằng bạn, tôi muốn thế. Há tôi lại không được phép làm như tôi muốn về của cải tôi sao?". Tất cả ý nghĩa của dụ ngôn đều nằm nơi câu nói ấy của ông chủ vườn nho. Thế mà trong đó chẳng có vấn đề ngôi thứ, mà chỉ là sự bình đẳng trong đồng lương. Các chữ dứt khoát thật rõ ràng: "Này bạn, tôi đâu xử bất công với bạn...Việc cho người cuối hết này bằng bạn, tôi muốn thế... Há tôi lại không được phép.... sao?".

Thành thử dụ ngôn không ăn khớp với câu châm ngôn cuối cùng. Câu này chẳng có tương quan nào khác với dụ ngôn ngoài một tương tự (loại suy) có tính cách ngôn từ về đề tài mà thôi. Đó là một câu kết luận bề ngoài. Như trong nhiều trường hợp tương tự, kết luận bề ngoài này hẳn đã được thêm vào câu chuyện, có lẽ do chính Chúa Giêsu, hoặc do chính tác giả Tin Mừng hay đo truyền khẩu bằng cách vay mượn câu nói đó ở một văn mạch khác. Dù sao, các câu kết luận bề ngoài phải được giải thích dưới ánh sáng dụ ngôn (chứ không ngược lại?), nhưng với sự tự do uyển chuyển phù hợp với một loại văn thể như thể. Vì đã được gắn vào phần cuối câu chuyện (19, 16), nên có lẽ câu kết luận đó cũng được ghi lại ở đầu (19, 30) để làm khung văn chương cho dụ ngôn và để thay thế cho câu nhập đề lịch sử.

KẾT LUẬN

Mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa thuộc bình diện ân sủng. Đó là đối tượng đích thực, là giáo huấn căn bản của dụ ngôn. Thật vậy, dụ ngôn đưa ra một mặc khải chủ yếu về Thiên Chúa và cách Ngài nhìn xem sự vật, hay như dụ ngôn người mắc nợ bất nhân (18, 23-33). Trong lúc đó, các giáo sĩ thường tính toán phần thưởng mà người ta có quyền lãnh nhận, xác định phần thưởng mà Thiên Chúa ban cho mỗi việc lành. Cách quan niệm sự vật này hoàn toàn bị dụ ngôn đạp đổ. Ta còn có thể hy vọng gì khi phần thưởng tương ứng với công nghiệp của ta? Trái lại, nếu ta chờ đợi tất cả từ lòng tốt của Thiên Chúa và không nại tí gì vào sự công bằng của Ngài, thì đó chẳng phải là niềm hy vọng của ta sao?

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Ta không thể dựa vào trình thuật này để kết luận rằng Thiên Chúa chẳng ân thưởng cho mỗi người tùy theo công việc của họ. Như thế sẽ đi ngược với Thánh Kinh. Nhưng đúng hơn phải kết luận rằng: ngay cả lúc Thiên Chúa ân thưởng mỗi người tùy theo công việc của họ, Ngài cũng chỉ làm vì lòng tốt chứ không vì bất cứ một sự công bình giao hoán nào cả. Mỗi liên hệ của ta với Thiên Chúa chẳng phải là một cái gì khả dĩ đo lường được cũng như giản lược được vào thứ ngôn ngữ công bằng. Hai cái đều là ân sủng.

2. Đó là một sự thật trước tiên có tính cách hạ con người xuống vì nó bảo với con người rằng: ngươi không phải là kẻ có thể thực sự nói tay đôi với Thiên Chúa vĩnh cửu, nhân danh quyền lợi mà ngươi đã chiếm hữu nhờ sức mạnh của riêng ngươi, không phải là kẻ có thể tính sổ với Ngài được. Vì theo sự thật đó, tất cả đều được bao phí bởi lòng nhân ái tự do của Thiên Chúa, bởi những ý định khôn dò của Ngài. Nhưng đối với chúng ta, đó cũng là một sự thật đầy an ủi phấn khích, một sự thật giải phóng ta khỏi một gách vô cùng nặng nề. Vì nếu ta đòi tính sổ với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa cũng sẽ đòi tính sổ với ta, và bấy giờ chắc chắn ta là kẻ thiệt thòi. Tốt nhất là phó mặc tất cả vào lòng nhân ái của Thiên Chúa! Vì nếu như vậy, thì dù bắt đầu phục vụ Thiên Chúa sớm hay muộn, dù khi có cảm tưởng như Giáo Hội đòi hỏi nhiều ở ta, ta vẫn có thể luôn luôn an tâm và nói: Chúa là Thiên Chúa của mọi niềm an ủi và từ bi, Chúa là Thiên Chúa thi ân và trả cho mỗi người một quan tiền mà bản thân họ không thể tự sức mình làm ra được, Chúa là Thiên Chúa ân thưởng chúng con, ngay cả lúc chúng con thực sự chỉ là những tôi tớ mọn hèn và tội nhân nghèo khó.

3. Ta không được phẫn uất nếu, ngay từ đời này, ta nhận thấy những kẻ là la coi như là những đại tội nhân (nhưng ta có được quyền phê phán giá trị thiêng liêng của họ không?) được mạnh khoẻ, thông minh hơn, giàu có hơn ta v.v... Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài muốn. Ngài thích tỏ ra nhân hậu ngay cả đối với những kẻ vô ơn với Ngài.

4.Chỉ Thiên Chúa mới có thể hoàn toàn yêu thương, tha thứ con người, yêu thương trên hết mọi sự và như thế làm đảo lộn mọi tính toán đê tiện của con người. Ngài là Đấng yêu thương một cách sung sướng vì Ngài chẳng để ý đến các công nghiệp nhỏ bé của ta cho bằng đến tình yêu bao la của Ngài.

5. Nếu nhìn kỹ hơn thì những kẻ được ưu đãi thực sự trong dụ ngôn có lẽ là những người thợ giờ thứ nhất. Dĩ nhiên, họ đã "vác nặng cả một ngày thường với nắng nôi thiêu cháy", song chủ đã làm họ khỏi nỗi sợ thất nghiệp, khỏi mối lo về cơm bánh là những thứ hẳn từng dày vò các người khác, những kẻ mà buổi chiều mới được mướn làm công. Cũng vậy các tín hữu đã anh dũng trung thành với đức tin suốt đời là những người được ưu đãi so với những kẻ chỉ đến với Chúa vào cuối cuộc sống, những kẻ có lẽ chưa bao giờ kinh nghiêm được sự bình thản nội tâm, kinh nghiệm được niềm vui và sự an lòng vì biết mình ở trong tay Thiên Chúa.


 
Noel Quession - Chú Giải
 

Dụ ngôn "những người thợ làm vườn nho vào giờ sau hết" rất nổi tiếng. Người ta thường phê bình dụ ngôn này, đưa ra những phán đoán chỉ trên bình diện con người theo sự công bằng xã hội và theo kinh tế. Về phương diện này, thái độ của vị Thầy chí thánh ít ra cũng rất kỳ lạ và khác thường. Một ông chủ xí nghiệp sẽ nói với bạn rằng theo gương ông chủ vườn nho chỉ có nước làm phá sản xí nghiệp. Một "công nhân" sẽ nói với bạn rằng không tôn trọng một tháng lương hợp lý căn cứ vào công việc thực tế được hoàn thành là việc không bình thường... và một ông chủ độc đoán như thế thật là bất xứng...Nhung tất cả những lời giải thích này thì quá phiến diện chưa đạt đến sự thật. Rõ ràng Đức Giêsu không đề cao sự bất công xã hội. Phải có một cách đọc khác trong trang Tin Mừng nổi tiếng này... xứng đáng là một Tin Mùng!

Chúng ta hãy nhớ rằng "dụ ngôn" là một thể loại văn chương rất xác đáng mà người ta không thể đọc bằng bất cứ cách nào cũng được. Trong một dụ ngôn, khác với lối văn phúng dụ, mọi chi tiết cụ thể không cứa đựng bài học: Phải tìm kiếm cao điểm của câu chuyện, ý nghĩa trung tâm của nó. Những chi tiết còn lại chỉ để tạo ra sự mạch lạc trong câu chuyện, tô điểm cho câu chuyện thêm thú vị đôi khi với sự hóm hỉnh khiến người ta phải chú ý, quan tâm.

Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình...

Giờ đây, mọi sự bắt đầu như một câu chuyện có thật. Chúng ta đang ở Pa-lét-tin trời vừa tảng sáng. Những "thợ làm công nhật" trên quảng trường của ngôi làng chờ đợi người ta đến thuê làm công nhật, ngày này qua ngày khác. Tình trạng sống lây lất qua ngày ấy thật thảm hại. Chúng ta phải ghi nhận điều đó nơi những con người không có việc làm ổn định: tình trạng này vẫn còn là tình trạng của hầu hết các người cha trong gia đình ở các nước Thế Giới Thứ Ba.

Tuy nhiên, dù phần mô tả đoạn đầu có thực tế đến đâu thì chúng ta cũng được báo cho biết ở đây điều quan trọng không phải là một bài học xã hội, nhưng là một mạc khải về Nước Trời. Vậy chúng ta hãy coi chừng.

Sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc Khoảng giờ thứ ba ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ mười một ông trở ra và thấy còn có những người khác đang đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đấy suốt ngày không làm gì hết?". Họ đáp: 'Vì không ai mướn chúng tôi". ông bảo họ: "Cả các anh nữa hãy đi vào vườn nho!"

Nếu tính ra giờ hôm nay ông chủ đi ra tìm thợ từ sáng sớm, rồi lúc 9 giờ sáng lúc giữa trưa, lúc 3 giờ và lúc 5 giờ chiều. Vì thế chúng ta phải đoán ra rằng đây không phải là một ông chủ bình thường: không ai lại đi thuê thợ làm vườn trước lúc nghỉ việc chỉ có một giờ! Đây là một "ông chủ" quan tâm sâu sắc đến bi kịch của những kẻ thất nghiệp ấy: "Tại sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?". Câu chuyện mà Đức Giêsu kể lại nhắc chúng ta rằng vấn đề thất nghiệp trầm trọng, than ôi, không chỉ là vấn đề của ngày hôm nay. Và nếu chúng ta dừng lại ở phần đầu của dụ ngôn này không để cho các thiên biến của ý thức hệ chi phối, thì chúng ta thấy Đức Giêsu mô tả một người đã nhân từ một cách tuyệt vời rồi: năm lần trong một ngày, ông không mệt mỏi, lo lắng đem lại việc làm, đồng lương, nhân phẩm... cho những người nghèo bị rơi vào cảnh khốn cùng.

Chúng ta không quên ghi nhận điệp khúc được nhắc lại: Hãy đi vào vườn nho Trong toàn bộ Cựu Ước, và do đó đối với các thính giả đầu tiên của Đức Giêsu, vườn nho là biểu tượng của "dân thiên Chúa" (I-sai-a 5,1-7; Giê-rê-mi-a. 2,21; Ê-đê-ki-en 17,6; Hôsê 10,1; Thánh Vịnh 78,9-16). Theo nghĩa này, vườn nho là nơi hạnh phúc, nơi Giao ước với Thiên Chúa, nơi mà Thiên. Chúa không ngừng mời gọi chúng ta bước vào. "Hãy đi vào vườn nho của tôi... Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh! " (x. Mát-thêu 25,21-23).

Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất".

Nói theo kiểu của con người thì chỉ bắt đầu từ lúc này trở đi, cậu chuyện xem ra không có thật. Đây là dấu chỉ chúng ta phải đến gần "cao điểm" của dụ ngôn. Một cách rõ ràng hơn, ông chủ rất kỳ lạ này muốn rằng những người có công nhiều nhất với vườn nho phải làm chứng nhân - cho điều mà ông- chủ sắp làm cho những người vào sau hết: họ sẽ chứng kiến việc ông chủ trả lương cho những người khác, Tại sao? Sẽ rất đơn giản nếu như ông chủ trả công cho người làm nhiều trước và để họ ra về trước.

Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một (5 giờ chiều) tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt!"

Bản văn Hy Lạp dùng một chữ có nghĩa chính xác: "họ lẩm bẩm "... Đó là từ ngữ trong Kinh 'Thánh nói về những tiếng lẩm bẩm, cằn nhằn của dân ít-ra-en trong sa mạc (Xuất hành 16,9; Thánh Vịnh l06,25), nó diễn tả thái độ rất thường gặp của chúng ta khi chúng ta không hiểu những thử thách đang ập xuống chúng ta... khi chúng ta phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt khi chúng ta lên án Thiên Chúa. Những kẻ lẩm bẩm, cằn nhằn ấy trong dụ ngôn này vào thời Đức Giêsu, rõ ràng là các kinh sư và Pha-ri-sêu

họ không ngừng lẩm bẩm chống lại Đực Giêsu khi Người tiếp đón những "kẻ thu thuế, kẻ tội lỗi và gái điếm". Vào thời của Mát-thêu, những người "sau cùng" được đặt ngang hàng với những người "đầu tiên", đó là những dân ngoại được đưa vào trong Giáo hội ngang hàng với những người Do Thái bản địa. Ngày nay cũng thế, chúng ta còn nghe Đức Giêsu nói lại với chúng ta một cách mạnh mẽ rằng với Thiên Chúa, không có những người được ưu đãi, có đặc quyền. Những "người thợ của giờ sau cùng" được đối xữ bình đẳng với những người đầu tiên hưởng nhờ Vườn nho của Thiền Chúa! Trong Tin Mừng, Đức Giêsu thường đề cao giá trị của những người nghèo, những kẻ bị loại trừ, những người sau hết... những người tội lỗi! Đối với những người cảm thấy khó chịu, lẩm bẩm, Đức Giêsu dám nói rằng đó chính là thái độ của Thiên Chúa... "giàu lòng thương xót " dives in miséricordia" theo một tước hiệu đẹp của một thông điệp của Đức Gian Phao lô II.

Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa -thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần - của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng đước bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?"

Không, chúng ta không còn ở trong một hoàn cảnh bình thường để rút ra những nguyên tắc về công bình xã hội chúng ta lắng nghe một "mạc khải thần học về những thái độ của Thiên Chúa. Đây là một chân dung tuyệt vời mà Đức Giêsu vẽ lại Cha Người cho chúng ta:

Một Thiên Chúa yêu mến mọi người, đặc biệt những người bị bỏ rơi, và muốn đưa họ vào "Vườn nho" của Người, trong hạnh phúc của Người.

Một Thiên Chúa tuôn đổ những ân huệ một cách dồi dào, Người "mời mọc" và "kêu gọi" mọi lúc, mọi tuổi? trong mọi hoàn cảnh...

Một Thiên Chúa mà lòng "nhân từ" không bị giới hạn bởi công nghiệp của chúng ta, và Người cho chúng ta nhiễu hơn cái mà chúng ta có đượe bởi những nỗ lực của riêng mình. Một Thiên Chúa gạt bỏ người nào cho rằng mình đặc quyền và ngăn cản người khác được hưởng những quyền lợi ấy..

Như thế Tin Mừng hôm nay công bố với chúng ta một chân lý chủ yếu của đức tin chúng ta mà Thánh Phaolô đã triển khai rộng ra trong các thư Rôma và Ga-lát: "Tất cả những ai tin đều được như thế... Thật vậy, mọi người đã phạm tội vạ bị tước mất vinh quang.Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không... Vậy thì hãnh diện ở chỗ nào? Chẳng còn gì để hãnh diện... Thật vậy, chúng tôi nghĩ rằng: người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì luật dạy (Rôm 3,22-31).

"Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?"

Dụ ngôn này phải đem lại một niềm hy vọng lớn lao cho biết bao bậc cha mẹ hôm nay nhìn thấy con cái họ từ bỏ đức tin. Đối với Thiên Chúa, không có gì mất đi mãi mãi Người còn đi ra thuê thợ cho đến phút chót. Không bao giờ Người đến quá muộn. Vả lại, chúng ta, hãy nhớ rằng Đức Giêsu không chỉ bằng lòng với việc "kể lại" câu chuyện này... Người còn áp dụng câu chuyện này vào cuộc sốngg khi ban Thiên dàng vào giây phút chót cho người trộm bị đóng đinh vối Người..

Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.

Thay vì giữ chặt chúng ta trên vẻ bề ngoài bất công, giờ đây chúng ta được mời gọi hãy vui mừng chỉ vì lòng nhân từ tuyệt vời của Cha chúng ta. "Anh em hãy có lòng thương xót như Cha anh em trên trời là Đấng xót thương". Từ' vài thập kỷ, yêu sách về sự công bình hay công lý trên thế giới đã có nhiều tiến bộ. Dĩ nhiên là không có Vấn đề quay lại đàng sau. Nhưng việc thế giới tiến bộ về hướng tình yêu thương và tấm lòng há chẳng cần thiết sao? Đó là một chủ đề mà Đức Giáo Hoàng diễn tả trong một thông điệp của ngài:

"Trong thế giới hiện đại, ý thức về công lý trên bình diện rộng đã trỗi dậy... và Giáo Hội chia sẽ với nhân loại ở thời đại chúng ta ước muốn mãnh hệt, sâu xa và một đời sống công bằng ở mọi phương tiện…Tuy nhiên, người ta dễ dàng nhận ra những chương trình xây dựng trên ý tướng công bằng khi đem ra thực hiện nhiều khi phải chịu sự biến dạng... bởi lòng oán hận, thù nghịch mà cả sự tàn ác.. Kinh nghiệm của quá khứ và của thời đại chúng ta chứng tỏ chỉ có công lý mà thôi không đủ, nếu người ta không cho phép một sức mạnh sâu xa hơn là tình yêu thương xây dựng đời sống con người..

Thế thì, chúng ta được trả về với sự chiêm ngắm lòng thương xót của Thiên Chúa: "Lòng nhân hậu là một sức mạnh đặc biệt của tình yêu còn mạnh hơn tội lỗi và sự bất trung..Trong một nghĩa nào đó, lòng nhân hậu ở vị trí đối lập với công lý của Người, và trong nhiều trường hợp tỏ ra mạnh hơn, căn bản hơn công lý" (Gioan Phaolô II).


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Hay mắt bạn ganh tỵ vì tôi nhân lành chăng"

I.Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại dụ ngôn ông chủ thuê thợ làm vườn nho, để trình bày việc vào Nước Trời không phải là một món tiền lương do công lao của con người, nhưng là một ơn nhưng không do lòng nhân lành của Thiên Chúa ban cho.

II.SUY NIỆM:

Dưới đây là những ý nghĩa dẫn bài học của dụ ngôn:

Chủ nhà là Thiên Chúa.

Vườn nho là Giáo Hội.

Thợ làm vườn nho là loài người.

Thợ vào làm vườn nho theo những giờ khác nhau là việc trở lại của mọi người: có người phụng sự Chúa từ đầu khi mới sinh ra người khác hiến thân phụng sự vào những tuổi khác nhau. Thiếu thời thanh niên, đứng tuổi về già. Một số chỉ trở lại sau khi chết.

Đồng tiền là tiền lương công nhật theo thánh Gioan Kim Khẩu thì đồng tiền đây là quyền được vào Nước Trời.

1/ "Nước Trời giống như chủ nhà kia"

Thực ra Nước Trời không giống như chủ nhà kia, nhưng giống như toàn thể câu chuyện được kể, trong đó chủ nhà đóng vai chính. "sáng sớm ra thuê người làm vườn nho" bên Do Thái tới mùa hái nho, chủ ruộng thường ra ngã ba đường cái, hoặc ra chợ để thuê thợ và thường vào lúc sáng sớm. Ong chủ này xem ra có lòng bác ái đối với những người nghèo thất nghiệp, nên đã thuê thợ vào những giờ giấc khác nhau mà không tính toán hơn thiệt.

Điều này diễn tả Thiên Chúa muốn mời gọi mọi người gia nhập Giáo Hội để vào Nước Trời.

2/ "Khi đã thoả thuận với người làm thuê":

thời Chúa Giêsu một đồng là tiền lương công nhật của một người thợ làm vườn nho, sự thoả thuận ngay từ đầu này là quan trọngvì vào cuối dụ ngôn người chủ đã nhắc lại thoả thuận này để cho những người đến trước biết rằng họ không bị thiệt hại gì và cũng để cho những người đến sau thấy rằng tuy họ không có quyền đòi công ột đồng như những người làm cả ngày, nhưng vì lòng nhân từ chủ đã thương nên cũng cho một đồng để họ có đủ sống và nuôi gia đình.

Thiên Chúa mời gọi mọi người vào Giáo Hội để được Nước Trời là tuỳ thuộc vào lòng nhân từ của Thiên Chúa chứ không phải do công lao của con người có nhiều hay có ít. Tuy nhiên Thiên Chúa rất nhân từ nhưng cũng rất công bằng chẳng để ai phải thiệt.

3/ "Khoảng giờ thứ ba.."

theo luật Do Thái thì một ngày được bắt đầu từ lúc mặt trời lặn. Vì thế, luật thánh hoá ngày sabat phải bắt đầu từ chiều hôm trước. Nhưng khi tính giờ, người ta lại tính từ lúc mặt trời mọc. Thời gian kể từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn chia ra làm 12 giờ. Vậy giờ 3,6,9 và 11 kể trong dụ ngôn tương đương với 9,12,15,17 giờ ta dùng hiện nay. Ngày lao động kết thúc lúc 18 giờ.

Câu này muốn diễn tả con người đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa gia nhập vào Giáo Hội để phụng sự Chúa theo những thời gian khác nhau: lúc mới sinh ra, khi lớn lên,lúc về già, và thậm chí có khi ngay lúc chết nữa, tức là vào giờ phút cuối cùng của đời người.

4/ "Ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng"

Đây là lời ông chủ nói với những người thợ làm việc không đủ giờ công. Lời này muốn nói lên rằng ông chủ không thoả thuận tiền lương một đồng với những người đến sau, mà chỉ nói trổng rằng "sẽ trả công xứng đáng" và những người thợ đến sau phải hiểu rằng lương của họ chỉ là một phần của đồng lương mà thôi.

Ơ đây muốn làm nổi bật việc ông chủ trả lương cho những người thợ đến sau cũng một đồng là do lòng nhân lành của ông chủ. Cũng vậy Thiên Chúa yêu thương những người lành và ban ơn cứu độ cho họ, thì người cũng nhân từ với những người tội lỗi có lòng ăn năn, vì người không muốn cho kẻ có tội phải chết. Đúng vậy lòng nhân từ của Chúa vượt lên trên sự công bằng có tính cách tính toán theo kiểu con người.

5/ "Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt cả ngày.."

những gn thợ này đang ở trong tình trạng thất nghiệp vì không ai thuê họ. Điều này muốn nói ông chủ thuê những người này làm vườn nho vào giờ cuối cùnglà vì muốn cho họ có công ăn chuyện làm để nuôi sống họ chứ không phải vì nhu cầu công việc đòi hỏi.

Cũng vậy qua cử chỉ của ông chủ. Thiên Chúa muốn biểu lộ lòng nhân từ của người cách nhưng không chứ không phải vì công lao của con người.

6/ "Từ người đến sau hết đến trước hết..":

Đây là việc có vẻ khác thường đối với tập tục thời bấy giờ. Thực ra thứ tự trả lương trước hay sau không quan trọng bằng đồng lương. Nhưng khi nêu điều đó lên, dụ ngôn chỉ có ý đề cao lòng nhân từ của ông chủ đối với người đến sau. Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho những tội nhân trở về vaò cuối đời là do lòng nhân từ của người.

7/ " Vậy những người làm vào giờ thứ 11…tới phiên những người tới làm trước …cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng":

ai phụng sự Thiên Chúa, tức là những người vào làm vườn nho cho ông chủ đều có quyền được vào Nước Trời. Ơ đây muốn nói đến việc đối xử như nhau.

8/ "Đang khi lãnh tiền họ lẩm bẩm trách chủ nhà":

những người thợ đến làm từ đầu thiệt thòi tới hai chuyện vất vả suốt ngày, trong lúc những người đến sau chót chỉ làm việc có một tiếng đồng hồ.

Làm việc dưới con gió nóng cháy, trong lúc người đến sau lại được hưởng khí trời mát mẻ ban chiều.

Đó là lý do khiến người thợ đến trước đưa ra để đòi lương cao hơn.

Thật ra những lý do này đã nằm trong thoả thuận với ông chủ rồi, vì làm một ngày được trả một đồng lương, do đó những người này không có quyền dựa vào đó để đòi lương cao hơn. Ơ da96y biểu lộ tâm trạng phân bì, ganh tỵ, không muốn cho ai hơn mình. Điều này trái ngược với lòng nhân từ của Thiên Chúa.

9/ "Này bạn tôi không làm thiệt hại bạn đâu":

Này bạn: lời xưng hô này của ông chủ tỏ ra dịu dàng, nhân từ, khác hẳn lời nói cứng cỏi của mấy người thợ nói lẩm bẩm "ông kể họ bằng chúng tôi sao?

tôi không làm thiệt hại bạn đâu: việc trả lương một đồng cho người thợ đến trước không gây thiệt hại gì cho họ vì đó là tiền lương đã thoả thuận lúc ban đầu.

10/ "Tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao?"

việc trả lương cho người đến sau cũng một đồng tiền lương là do ý muốn của ông chủ chứ không phải do công lao của người thợ.

Cũng vậy việc biểu lộ lòng nhân từ là tuỳ thuộc ý muốn của Thiên Chúa chứ không phải do công lao của con người xứng đáng. Ơ đây Chúa muốn nhắn nhủ đừng ganh tỵ với tha nhân vì thấy Chúa nhân từ với tha nhân như đã nhân từ với mình.

11/ "Hay mắt bạn ganh tỵ vì tôi nhân lành chăng?"

đây là câu nói then chốt của dụ ngôn. Thái độ cư xử đặc biệt của ông chủ không phải là do tính kỳ quặc, hay thay đổi hoặc bất công nhưng chỉ do hiệu quả của lòng nhân từ mà thôi.

Quả vậy ông chủ đã chẳng làm thiệt hại cho người đến trước vì đã trả lương theo đúng thoả thuận nhưng chỉ muốn tỏ lòng nhân lành đối với những người đến sau nên cũng trả lương bằng người đến trước. Chúa khuyên ta phải biết đón nhận lòng nhân từ của Thiên Chúa đừng dùng cách thế của loài người mà phê phán công việc của Người.

12/ "Kẻ sau hết sẽ lên trước hết":

câu này xem ra không ăn hợp với dụ ngôn vì trong dụ ngôn này, vấn đề sau hay trước không quan trọng. Những người làm việc từ sáng sớm không phàn nàn vì mình lãnh sau, nhưng phàn nàn vì người đến trước và người đến sau cùng được lãnh công bằng nhau. Đối với thợ việc lãnh lương trước hay su không ăn thua gì, tiền công mới là điều đáng kể.

Vì thế dụ ngôn này không nói tới việc đảo lộn địa vị nhưng nói tới việc đối xử như nhau để nhấn mạnh ề lòng nhân hậu của Thiên Chúa.

III.ÁP DỤNG:

A/ Ap dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc bảo chúng ta phải biết đón nhận ơn Chúa, chứ đừng dùng cách thế của loài người mà phê phán công việc của Thiên Chúa.

B/Ap dụng thực hành:

Chúa Giêsu dùng dụ ngôn này để giáo dục chúng ta qua các nhân vật trong dụ ngôn:

1/Nhìn vào ông chủ:

Ông chủ này có lòng nhân lành vì ông chủ thuê thợ làm việc không phải chỉ vì nhu cầu của công việc, nhưng vì muốn cho ngưới thợ nào cũng có công ăn việc làm để bảo đảm đời sống, vì thế ông đã trả lương thợ đồng đều mà không tính hơn thiệt.

Những ơn lành phần hồn và phần xác mà ta đang được là do lòng nhân ừ của Thiên Chúa. Những ơn đó vượt xa những gì chúng ta đáng được. Vì thế suốt đời chúng ta phải là những bài ca tạ ơn.

Lòng nhân lành của ông chủ không bị lệ thuộc vào khế nào hay ranh giới gì, nhưng chỉ là lợi ích của người đón nhận. Thiên Chúa ban ơn cho ta không phải vì công lao xứng đáng của ta bằng vì lợi ích phần rỗi của ta. Hiểu như vậy ta phải khiêm nhờng đón nhận ơn Chúa mà kiêu căng tự mãn.

Noi gương ông chủ, chúng ta phục vụ mà không đòi điều kiện, nhưng vì ợi ích mà người phục vụ thôi.

2/ "Nhìn vào đám thợ đến trước"

Họ lẩm bẩm vì thấy ông chủ xử tốt ới nhóm thợ đến sau.

Trong cộc sống chúng ta thường phải chịu cái tật xấu của người khác. Nhưng ngay khi cả những ưu điểm hay đặc ân và những sự may mắn của người khác cũng làm cho ta khó chịu đến ghen tuông, so sánh…Sự khó chịu này đôi khi còn nặng hơn chịu đựng tật xấu nữa. Những khi đó ta nên suy gẫm lại dụ ngôn này.

Họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn:

Trong vườn nho Chúa ta nên đến sớm hay đến muộn? tất nhiên là nên đến sớm, vì điều lợi trước tiên là được yên tâm do có công ăn việc làm, tránh được cái lo tất nghiệp vì không có ai thuê. Đối với Chúa vấn đề không phải là làm trước hay làm sau, theo Chúa sớm hay muộn, mà khi được mời, ta có nhận làm cho Chúa hay không?

3/ "Nhìn vào đám thợ đến sau":

nếu trong xã hội có nhiều người không tôn thờ Thiên Chúa hặc đã lỗi phạm luật Chúa trong những điều kiện nặng mà không thấy bị phạt, trái lại họ được ức khoẻ, danh vọng thành công,..thì ta đừng ấy đó làm cớ vấp phạm, vì Thiên Chúa ban ơn cho ta tuỳ Người muốn, kể cả những người không giữ luật Chúa. Khi đối xử như vậy, Chúa không phạm đến quyền lợi của kẻ khác.

Thiên Chúa thích tỏ ra nhân hậu ngay cả những kẻ vô ơn với Người.

Những người thợ đến làm từ sáng sớm, là những tín hữu đã trung thành ới đức tin suốt đời, quả là những người được Thiên Chúa ưu đãi so với những kẻ chỉ đến với Chúa vào cuối đời, vì họ kinh nghiệm được niềm vui và sự an lòng vì biết mình ở trong tay Thiên Chúa./.

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Công bằng hay là bác ái?


Trong cuốn sách mang tựa đề: "Người đó, chính là bạn", Cha Louis Evely đã kể một câu truyện sau đây:

Trong một vở kịch, nhà đạo diễn Jean Anouilh đã dàn dựng cảnh ngày phán xét chung theo như ông tưởng: Những kẻ lành đang đứng trước cửa vào thiên đàng, chật ních, chen lấn để vào, chắc chắn thế nào cũng có chỗ sẵn. Hồi hộp, sốt ruột… Nhưng, bỗng nhiên, người ta bắt đầu xầm xì với nhau: "Hình như Thiên Chúa cũng tha thứ cho mấy người đứng bên kia nữa".Thế là họ lại phải một mẻ ngẩn người ra. Họ nhìn nhau, không thể hiểu được. Họ la ó, phản đối. Họ bất mãn… "Vậy thì cần gì phải hy sinh khó nhọc cả đời…" "Tôi mà biết vậy thì tôi đã ăn chơi cho đã đời…" Gan mật họ sôi lên. Họ bắt đầu kêu la trách móc Thiên Chúa và cũng chính lúc đó, họ bị đày xuống hỏa ngục.

Cha Louis Evely giải thích: "Giờ phán xét đã điểm: họ đã tự xét xử lấy họ, đã tự tách mình ra khỏi hạnh phúc của Chúa. Tình yêu đã biểu hiện cho họ, nhưng họ đã từ chối không nhận tình yêu: "Tôi từ chối không chấp nhận cái thứ thiên đàng mà người ta vào như đi chợ. Tôi phản đối Thiên Chúa đã tha cho hết mọi người. Tôi không thích Thiên Chúa yêu thương cách mù quáng như thế". Vì họ không thích Tình Yêu nên họ không nhận ra được Tình Yêu. Chỉ có Tình Yêu mới làm những chuyện như thế. Với Chúa, chúng ta phải luôn sẵn sàng để đón nhận những chuyện bất ngờ như vậy".

Cũng thế, thưa anh chị em, có lẽ ai trong chúng ta cũng bị chưng hững trước cách ứng xử của ông chủ vườn nho mà Chúa Giêsu diễn tả trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay. Ông chủ vườn nho này không là ai khác hơn hình ảnh của chính Thiên Chúa mà Đức Giêsu muốn giới thiệu với chúng ta. "Tại sao ông chủ lại trả công cho mọi người bằng nhau, người chỉ làm có một giờ cuối ngày cũng được lãnh tiền bằng người đã làm trọn ngày nắng nôi nặng nhọc? Có phải ông chủ bất công hay không?" Câu trả lời của ông chủ làm cho những công nhân và chúng ta phải ngạc nhiên và thán phục: "Này anh, tôi đâu có xử bất công với anh. Anh đã chẳng thỏa thuận với tôi công nhật là một đồng sao? Cầm lấy phần của anh mà đi đi! Tôi muốn cho người làm sao chót cũng được bằng anh. Tôi không có quyền làm thế sao? Hay anh ganh tị vì thấy tôi đối xử rộng rãi tốt lành với những người khác?" Quả thật, Thiên Chúa hành xử không theo sự công bằng của con người, nhưng theo lòng thương xót và tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Qua đó, chúng ta khám phá được một điều quan trọng là suy nghĩ và hành động của Thiên Chúa khác xa với suy nghĩ và hành động của chúng ta. Ngôn sứ Isaia đã nói rõ: "Chúa phán: Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta: Trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu" (Bđ 1: Is 55,8).

Thưa anh chị em,

Nếu cứ theo lẽ công bằng thường tình của loài người chúng ta: người làm nhiều sẽ lãnh lương nhiều, người làm ít sẽ lãnh lương ít, thì hỏi rằng, người làm một tiếng đồng hồ sẽ được bao nhiêu tiền để đủ nuôi sống gia đình, con cái, đang túng thiếu, nghèo đói? Chính vì thương xót, thông cảm cảnh nghèo đói, thất nghiệp của các công nhân và vì muốn cho mọi người có công ăn việc làm, mà ông chủ đã mời gọi mọi người thất nghiệp vào làm việc bất cứ giờ nào, và đã trả lương cho mọi người bằng nhau, người đến sau cũng như người đến trước. Câu trả lời của ông chủ vườn: "hay anh ganh tị vì thấy tôi đối xử rộng rãi, tốt lành với những người khác?" đã vạch ra tâm địa ích kỷ, hẹp hòi của nhóm công nhân làm từ đầu ngày. Lời đó cho thấy chính họ mới là kẻ bất công, vì không chấp nhận cho người khác có quyền sống hạnh phúc như họ. Tâm địa xấu xa của họ càng làm nổi bật lòng nhân nghĩa cao vời của ông chủ. Ông không đối xử với người ta theo tương quan buôn bán, tính toán, nhưng theo tương quan tình nghĩa và mời gọi người ta bắt chước cách đối xử tình nghĩa của ông.

Anh chị em thân mến,

Cách ứng xử của ông chủ trong câu chuyện dụ ngôn chính là cách ứng xử của Thiên Chúa đối với chúng ta. Thiên Chúa của chúng ta hành động như thế đó. Thật là rộng lượng, nhân từ! Ngài mời gọi những người thu thuế, những người bị xã hội loài người khinh chê, loại trừ, những người tội lỗi, vào Nước Trời một cách rộng rãi, cho không, chẳng phải vì công trạng gì xứng đáng của họ. Người công chính, đạo đức, đừng vì thế mà ganh tị và kêu trách Chúa bất công, giống như những người Biệt Phái Pharisêu đã kêu ca trách móc Chúa. Lòng thương xót của Thiên Chúa đón nhận tất cả mọi người không trừ một ai, vì bản chất của Ngài là Tình Yêu. Chúng ta thường lấy làm ngạc nhiện và bị "sốc" trước cách hành xử của Thiên Chúa. Đôi khi chúng ta cũng có những phản ứng như những công nhân làm việc giờ đầu tiên hoặc như những kẻ lành trước cửa Thiên Đàng trong vở kịch Ngày phán xét chung của nhà đạo diễn Jean Anouilh: "Sao! Những tên đã sống một cuộc đời bừa bãi, bê bối, lung tung kia cũng được Chúa tha sao? Thậm chí những kẻ đã bách hại đạo Chúa, nếu sau này ăn năn hối cải, cũng xứng đáng được hưởng Nước Trời như người kitô hữu nhiệt thành cả đời sao? Tên gian phi bị treo trên thập giá bên cạnh Chúa Giêsu cũng được vào Thiên Đàng sao?" (x.Lc 23,43).

Thiên Chúa chúng ta như thế đó! Thật là rộng luơng, nhân từ. Quả thật đường lối của Ngài khác hẳn đường lối ti tiện, hẹp hòi của chúng ta. Chúng ta hay so đo, tính toán, đánh giá từ sự so sánh của chúng ta. Chúng ta nhìn người khác với những cái-họ-có-hơn-mình hay cái-mình-không-có, để bực tức, ghen ghét. Nhiều khi chúng ta nhân danh công bình để đối xử hẹp hòi, khắt khe, độc ác với kẻ khác. Công bằng là mức độ thấp nhất của bác ái. Công bằng mà không có bác ái là tàn nhẫn, là vô nhân đạo. Phải vượt hơn mức tối thiểu của công bằng, chúng ta mới có thể đối xử bác ái, tình nghĩa với nhau được, cuộc sống mới chan hòa tình người, đầy nềm vui và hạnh phúc.

Với những ai hay so đo, tính toán với anh em, Thiên Chúa sẽ cứ theo luật công bằng mà xét xử; còn những ai rộng rãi, biết thương xót người, thì sẽ được Ngài xét xử theo lòng nhân từ xót thương.Thiên Chúa luôn luôn tuyệt vời hơn những gì con tim nghèo nàn của chúng ta có thể tưởng tượng. Ước gì trái tim chúng ta trở nên giống như trái tim của Thiên Chúa Tình Thương. Chính trong tình thương, chúng ta sẽ gặp được Thiên Chúa.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

NHẬN ĐỊNH GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG TRONG ÁNH SÁNG CỦA CHÚA

Tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa khác với con người, vượt trên con người. Các bản văn Kinh thánh hôm nay trình bày rõ nét chủ đề này. Trong khi con người ưa thích nghiêng chiều về tội lỗi, luôn chạy theo đam mê dục vọng và đi tìm lợi ích cá nhân, thì Thiên Chúa lại khác, Ngài dùng lòng thương xót để thi ân giáng phúc, kêu gọi con người bỏ đường tội lỗi và mời gọi mọi người sống tình yêu quảng đại với nhau. Đường lối của Thiên Chúa gây ngạc nhiên và khó chấp nhận với não trạng của con người.

Bài đọc I trích sách Isaia khẳng định tư tưởng và đường lối Thiên Chúa khác và vượt trên tư tưởng đường lối của con người. Với dụ ngôn những người thợ làm vườn nho, Chúa Giêsu đã giải thích chủ đề này. Kitô hữu cần phải tìm hiểu, khám phá sứ điệp Lời Chúa để hiểu đường lối Chúa nhờ đó mới thực thi đúng ý Ngài.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Is 55,6-9

Tư tưởng Thiên Chúa không phải là tư tưởng của chúng ta

Những kế hoạch và cách thức hành động của Thiên Chúa thường làm cho chúng ta bối rối, ngỡ ngàng và khó hiểu. Đường lối của Ngài không phải là của chúng ta; bởi vì, Ngài thực hiện tất cả mọi sự theo tình yêu thúc đẩy, mà tình yêu của Ngài thì bao la không biên giới.

a. Tiên tri Isaia thúc đẩy dân Israel đã hồi hương sau cuộc lưu đầy: Phải hối cải, đây là lúc phải lo tìm kiếm Thiên Chúa vì Ngài đang ở gần.

b. Isaia chỉ dẫn họ cách thức để tìm gặp Chúa và đón nhận ơn tha thứ của Ngài là phải đi theo tư tưởng và đường lối của Chúa có vẻ người đời, khác với suy nghĩ của con người.

c. Đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa vượt trên con người và chắc chắn sẽ thực hiện được. Thiên Chúa luôn thực hiện lời Ngài đã hứa; Ngài luôn thực hiện vì thương xót. Cho nên, cần phải tuân theo ý định của Chúa.

2. Bài đọc II: Pl 1,22.24-27

Đức Kitô, chính là lẽ sống

Ở trong tù Thánh Phaolô đón nhận giây phút kết thúc cuộc đời với lòng thanh thản. Nếu chết, ngài sẽ đi vào sự kết hợp trọn vẹn với Đức Kitô. Nếu sống, ngài sẽ vui sướng được hiến dâng cuộc đời mình phục vụ anh em.

a. Thánh Phaolô viết lá thư này trong thời gian ngài bị cầm tù khoảng năm 63. Viết cho tín hữu giáo đoàn Philipphê, ngài nói lên tâm trạng giằng co của ngài: một đàng, ngài sẵn sàng chịu chết để được ở với Đức Kitô; đàng khác, ngài vẫn muốn sống để loan báo Tin mừng cho anh em. Nhưng trên hết, ngài thanh thản vâng theo Thánh ý Chúa.

b. Thánh Phaolô luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa dầu chết hay sống; đàng nào cũng tốt, miễn là có Đức Kitô, thuộc về Đức Kitô.

c. Chia sẻ với tâm trạng của Thánh Phaolô, Kitô hữu mang lấy tình yêu Đức Kitô để dù sống hay chết vẫn luôn thuộc về Đức Kitô; dù ở hoàn cảnh nào vẫn luôn loan báo về Đức Kitô.

3. Tin mừng: 20,1-16

Dụ ngôn người thợ làm vườn nho

Qua dụ ngôn này Chúa Giêsu muốn minh chứng rằng: trong cách thức hành động của mình, Thiên Chúa không đi theo những qui tắc lề luật của sự công bình hạn hẹp, khô cứng, Ngài chỉ nghe theo sự tốt lành của mình; chỉ bị thúc đẩy bởi tình yêu của mình. Ngài hào phóng trong tình thương xót và hoàn toàn tự do trong các việc thiện hảo.

a. Mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa thuộc bình diện ân sủng. Đó là đối tượng và giáo huấn của dụ ngôn. Dụ ngôn cho thấy cách thức Thiên Chúa nhìn nhận sự việc theo lòng lân tuất của Ngài, còn con người thì nhìn theo quyền lợi, theo sự tính toán hơn thiệt. Thiên Chúa ân thưởng, trả công cho ai tùy theo Ngài muốn dựa trên chính tình yêu của Ngài. Sự trả công của Ngài không làm thiệt hại ai, vẫn luôn bảo đảm tính công bằng.

b. "Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thỏa thuận với tôi một đồng sao?" Người chủ trả đúng tiền công đã thỏa thuận, không bớt xén. Như vậy việc trả cho người đến sau tiền công bằng với người đến trước hoàn toàn là do lòng nhân ái.

c. "Hay con mắt của ban ganh tỵ vì tôi nhân lành chăng?" Câu nói này của ông chủ đã đánh đúng vào tâm tư của những người thợ đang so bì hơn thiệt. Theo não trạng con người ai cũng nhìn nhận công sức của mình, muốn được người khác tôn trọng và đề cao công lao của mình. Xét cho cùng đây cũng là lẽ công bằng, như Chúa Giêsu cũng đã từng dạy: thợ thì đáng được trả công. Tuy nhiên, ở đây, có điểm cần suy nghĩ: họ ghen tỵ vì quá đề cao công sức của mình, vì chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình mà quên đi tình bác ái phải có với anh em. Ông chủ trả cho người đến sau vì lòng bác ái, cả ngày họ lao đao vất vả trước cái nguy cơ thất nghiệp, cả ngày họ phải khốn khổ trước cái đói đang rình chờ. Trong khi đó, những người được mướn từ sớm đâu có nếm trải nỗi khốn khổ đó và đồng lương họ nhận là đồng lương chính họ đã đồng ý.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG:

1. Đường lối của Chúa khác con người vì dựa trên tình yêu:

Theo mạc khải Kinh thánh, Thiên Chúa ân thưởng cho con người tùy theo việc họ làm. Trong dụ ngôn này xem ra có vẻ Thiên Chúa không làm theo như lời Ngài đã nói? Phải như thế. Ở đây phải hiểu tinh thần của dụ ngôn là ngay cả khi Thiên Chúa ân thưởng trả công cho mỗi người theo việc họ làm, Ngài cũng chỉ làm vì lòng nhân ái mà thôi chứ không chỉ vì một sự công bằng giao hoán nào cả. Thiên Chúa yêu thương tất cả nhân loại, Ngài cứu độ toàn thể nhân loại chứ không riêng một ai và cũng không loại trừ một ai. Trước mặt Chúa, mọi người đều có quyền hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Mọi tương quan cá vị giữa Thiên Chúa và con người đều dựa trên tình yêu phổ quát của Ngài. Chính vì thế, việc Ngài cho ai được hưởng ân phúc của Ngài đều do tình yêu của Ngài thúc đẩy. Mỗi người không thể nào đòi hỏi mình phải hơn người khác cho dù mình có thể đóng góp công sức nhiều hơn. Tất nhiên, không vì thế mà ỷ lại lòng nhân từ của Chúa để rồi mang tư tưởng trước sau gì cũng được Chúa cứu, Chúa ban ơn nên cứ sống trong tội lỗi, trong đam mê.

Nhận ra đường lối tình yêu của Chúa nhờ đó thêm lòng cậy trông, biết tạ ơn Chúa vì muôn ơn huệ Ngài thương ban cho mình và đồng thời biết cùng với Ngài yêu thương cảm thông với anh chị em khi họ bị thiệt thòi hơn mình. Đây chính là thái độ của người biết tìm kiếm và sống theo đường lối của Chúa.

2. Đường lối và hành động của Chúa, một cú sốc đối với con người:

Những người thợ được mướn làm từ sáng khi thấy ông chủ trả tiền công hào phóng cho những người đến sau, trong lòng đang vui mừng vì chắc hẳn mình sẽ được trả nhiều hơn. Thế nhưng, đã hụt hẫng và khó chịu với chủ. Cách hành xử của Chúa thường gây bất ngờ, gây khó chịu thậm chí là một cú sốc đối với con người. Trước mắt bàn dân thiên hạ, Chúa Giêsu là một vị tiên tri tài đức, là con người đạo đức, là tấm gương, vậy mà lại ngồi đồng bàn, giao lưu với bọn thu thuế, gái điếm và tội lỗi. Người tuyển chọn môn đệ dựa theo các tiêu chuẩn không giống ai: những người tài đức hèn mọn, thậm chí là người tội lỗi bách hại Người. Không thể hiểu nổi cách sống, nếp nghĩ của Chúa và đúng là cú sốc với nếp nghĩ của nhân loại. Quả thật, trong bài đọc I, Tiên tri Isaia đã khẳng định: đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa không phải là của con người, vượt cao xa hơn rất nhiều. Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho là một lời giải thích cho cách hành xử của Chúa. Ngài làm như thế vì yêu thương, vì muốn mang lại điều tốt lành cho con người, trong khi đó con người đối xử với nhau theo lẽ công bằng giao hoán. Tất cả dựa trên quyền lợi cá nhân, dựa trên khả năng con người. Cách hành xử này đã đi vào tâm khảm con người, là chuẩn mực cho các mối tương quan trong xã hội. Do đó, chúng ta dễ khó chịu, dị ứng và sốc trước đường lối, cách thức của Chúa.

Mỗi Kitô hữu cần phải học lấy đường lối của Chúa. Trước hết, cần phải có kinh nghiệm về đường lối của Chúa nơi bản thân mình. Nhìn lại mình để thấy, nếu Chúa đối xử với mình theo như cách của loài người thì có lẽ bản thân đã bị giáng phạt nặng nề rồi. Nếu Chúa chấp tội nào ai đứng vững được chăng?

3. Cần phải hành xử theo đường lối của Chúa:

"Này bạn tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thỏa thuận với tôi một đồng sao?… hay mắt bạn ganh tỵ vì tôi nhân lành chăng?" Nếu suy nghĩ chín chắn thì những người được thuê làm từ sáng là những người được ưu đãi hơn. Đành rằng họ vất vả từ sáng, song họ đã không nếm trải nỗi lo thất nghiệp, nỗi lo cơm bánh hằng ngày đang dày vò những người từ sáng đến chiều không ai thuê. Tin mừng kêu gọi mỗi người đừng vội vàng kêu trách Chúa. Nếu được ơn đức tin và trung thành với đức tin suốt đời là những người được Chúa ưu đãi, yêu thương nhiều so với những anh chị em cuối đời mới gặp Chúa, đến với Chúa. Họ có lẽ chưa bao giờ cảm nghiệm được sự bình an nội tâm trước khó khăn đau khổ, có lẽ chưa bao giờ cảm nghiệm được niềm vui trước lo âu sầu buồn của cuộc đời và cũng có lẽ chưa bao giờ cảm nghiệm được sức mạnh thiêng liêng giúp vượt thắng cám dỗ của những người biết mình đang ở trong tình yêu của Thiên Chúa.

Nhận ra điều này, giúp cho chúng ta tránh xa lối nhìn thiển cận theo cảm tính, theo tính vị kỷ, theo quyền lợi cá nhân. Nhưng cần phải nhìn theo cách của Chúa, cần phải suy nghĩ theo nếp nghĩ của Ngài và hành xử như Ngài. Cách sống và hành xử theo sự thúc đẩy của con tim biết yêu thương.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Thiên Chúa chúng ta - Đấng giàu lòng thương xót vẫn đang tiếp tục mời gọi chúng ta đến làm việc trong vườn nho của Ngài. Trong tâm tình biết ơn, chúng ta cùng dâng lên Chúa lời khẩn nguyện

1. Cầu cho các thừa tác viên trong Hội thánh: Chúng ta cùng cầu xin cho các ngài luôn biết phụng sự Thiên Chúa trong tình yêu và thể hiện tình yêu đó trong cung cách quản lý vườn nho của Chúa và cách cư xử đối với những người các ngài được sai đến phục vụ.

2. Cầu cho thế giới: lòng khoan dung dưỡng như đang mất dần trong các sinh hoạt trần thế. Do đó, con người vẫn đang tiếp tục kỳ thị, loại trừ, đố kỵ và ghét ghen. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi người luôn cảm nghiệm được tấm lòng bao dung của Thiên Chúa đối với họ trong đời để có thể yêu thương và đón nhận nhau.

3. Cầu cho các Kitô hữu: Chúng ta cùng cầu xin cho mọi Kitô hữu luôn biết lắng nghe và đáp trả lại tiếng Chúa mời gọi đến phục vụ trong mọi môi trường: xã hội, giáo xứ, để Tin mừng của Chúa được tỏa rạng đến mọi người.

Lời kết: Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì đã tin tưởng và gọi mời chúng con đến làm việc trong vườn nho của Chúa. Xin Thần Khí Chúa đốt nóng trong chúng con tinh thần dấn thân để quên mình phục vụ vì Chúa và hạnh phúc của anh chị em chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.


Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn