Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXVI Thường Niên B

Tin Mừng Mc 9: 38-43.45.47-48: Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối Tin Mừng Chúa nhật trước thuật lại việc Chúa Giêsu giáo huấn các Tông đồ . Trong bài này kể lại câu chuyện sau khi khiển trách Gioan về tội ganh tị .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN B

Ngày 30.9.2018 

Mc 9, 37 - 42 ; 44, 46 - 47 
 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

CHÚA GIÊSU DẠY DỖ CÁC MÔN ĐỒ

(Mc 9, 38-48) 


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Bản văn này bàn đến mấy vấn đề tất cả? Mc đã dùng cách nào mà liên kết chúng?

2. Tiếng "theo chúng tôi" (2 lần) nơi c.38 có gì lạ?

3. Câu 41 nói lên mấy khía cạnh của thiên chức Kitô hữu?

4. "Kẻ nhỏ đã tin" nơi c.42 phải chăng là tiếng chỉ các em bé?

5. Phải chăng nơi cc.43-48, Chúa Giêsu muốn bảo rằng việc cắt bỏ tứ chi là cách thức hay nhất để vĩnh viễn loại trừ các dịp tội?

1. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHỮNG LỜI CHÚA GIÊSU NÓI VÀ SỰ DUY NHẤT CỦA BẢN VĂN.

Giáo huấn của Chúa Giêsu trong Mc 9,38-38 bàn đến nhiều vấn đề có vẻ rất khác biệt. Câu Gioan hỏi và lời Chúa Giêsu đáp về kẻ trừ quỷ xa lạ với nhóm Mười hai làm nên một khối duy nhất (cc. 38-40. Nhưng với câu nói về ly nước cho môn đồ (c.41), chúng ta thay đổi đề tài cách đột ngột mặc dầu có chữ gar Hy lạp nối câu nói này với câu nói trước). Và đoạn văn nơi c.42 về gương xấu "cho một trong các kẻ nhỏ đang tin này" (các kẻ nhỏ nào?) cũng thấy sao sao. Bắt đầu từ c 43, vẫn còn vấn đề gương xấu hay dịp tội, nhưng trong một viễn ảnh luân lý cá nhân hoàn toàn.

Cảm tưởng lộn xộn này càng tăng thêm nếu ta đặt lại cc 38-48 vào trong văn mạch của chúng. Chúng là thành phần của cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu với nhóm Mười hai (Mc 9,33-50) mà mở đầu là một tranh luận về kẻ lớn nhất (cc. 33- 35), rồi tiếp theo là lột giáo huấn về việc tiếp đón "một trong các trẻ nhỏ này" (cc. 36-37). Sự liên quan giữa hai chủ đề này không rõ gì lắm: câu 35 kết thúc cuộc tranh luận đang làm cho các môn đồ xôn xao, nhưng cách Chúa Giêsu nắm lấy một em nhỏ, đặt em vào giữa nhóm Mười hai và xiết chặt em trong cánh tay Người (c.36) làm nổi bật việc tiếp đón một trẻ nhỏ (c 36) thay vì củng cố bài học về sự khiêm nhường trong nghĩa của c.35 (x. Mt 18,3-4). Ta không thấy làm sao cảnh này lại có thể đưa đến việc Gioan khai báo (c.38) mà từ đó, các lời của Chúa Giêsu kế tiếp liên tục cho tới c.50. Bản văn phụng vụ bỏ qua đoạn kết của cuộc đàm thoại (cc.49-50); nơi đoạn kết này, sự duy nhất cũng càng khó thấy.

Một bản văn như thế làm cho ta vất vả vô cùng khi muốn tìm sự mạch lạc. Nhưng kết cấu và vị trí của nó trong Tin Mừng Mc bảo đảm cho nó một sự duy nhất nào đó.

a . Kết cấu

Nhiều "tiếng móc" nối kết, một cách hoàn toàn trên ngôn từ, nhiều ý tưởng thoạt trông rất rời rạc. Rõ ràng hơn hết là trong cc.48-50: "lửa của chúng" của c.48 gọi "lửa" của c.49; "ướp muối" của c.49 gọi "muối" của c.50. Nhưng trước đó động từ "nên cớ vấp phạm" đã bảo đảm cho sự mạch lạc của cc 42-48. Và thành ngữ "nhân danh" làm công việc liên kết cc 37 ("nhân danh Ta"), 38-39 ("nhân danh Thầy", "nhân danh Ta") và c.41 ("vì danh nghĩa là các ngươi thuộc về Chúa Kitô" theo tiếng Hy lạp là ononomati hoti, "nhân danh sự kiện" công thức che đậy một đặc ngữ sêmita). Ta còn có thể nêu lên sự tương ứng giữa "một trong các trẻ nhỏ này" của c.37 và "một trong các kẻ nhỏ đã tin này" của c.42, dầu cho những chữ : dịch ra là "trẻ nhỏ" và "kẻ nhỏ" có khác nhau và chỉ các nhân vật khác nhau đi nữa.

Cách thức kết cấu này cấm ta đi tìm trong bản văn sự mạch lạc của một diễn từ hay của một khai triển có luận lý, và càng không được coi nó như bản trần thuật của một cuộc đàm thoại đã diễn tiến như đang được ghi lại dưới mắt ta. Ở đây, người ta đã quy tụ, theo một phương pháp ký ức, nhiều lời Chúa Giêsu đã thốt lên trong nhiều trướng hợp khác nhau, được truyền thông lưu truyền và được nối kết với nhau tàng tạm, để đáp ứng những nhu cầu giáo lý trong Giáo Hội sơ khai. Dù việc tập hợp này là công trình của Mc hay của Mt nguồn có trước đi nữa, thì điều đó vẫn không thay đổi gì vấn đề ý nghĩa của nó. Ý nghĩa này phải được minh giải từ mỗi một yếu tố sau khi lưu ý đến cách dùng mà vì đó truyền thống đã giữ chúng lại. Qua chính sự hiện hữu của nó, một bản văn được cấu tạo như thế chứng tỏ rằng các Kitô hữu đã cảm thấy có liên hệ với những giòng tâm sự của Chúa Giêsu cùng các môn đồ và với hoàn cảnh của những kẻ đã theo Người trong thời gian Người còn tại thế.

b) Văn mạch

Trong sách Mc, toàn bộ này có dáng như là một đơn vị văn chương mà vị trí đã chẳng được chọn một cách may rủi. Đây là một cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với nhóm Mười hai; Chúa Giêsu ngồi xuống (cử chỉ của vị thầy đang dạy dỗ, x c 35; 4,1 ; Mt 5,1; Lc 4,20; 5,3 ...) và gọi họ lại Người sẽ chỉ đứng dậy khi kết thúc (10,1 anastas). Cuộc đàm thoại xảy ra "tại nhà" (c.33), căn nhà mà chẳng ai biết vị trí và sớ hữu chỉ. Ở đây căn nhà được định vị tại Capharnaum, nhưng người ta cũng có thể tìm thấy nó nơi khác, mỗi khi Mc cần đến nó để gợi lên sự thân mật của những giáo huấn chỉ dành riêng cho các môn đồ, xa hẳn đám đông (7,17; 9,28; 10,10). Với cách "xếp đặt vị trí" này, Mc cho các tín hữu của Giáo Hội sơ khai thấy tầm quan trọng mà ông gán cho các lời Chúa Giêsu nói.

Đàng khác, cuộc đàm thoại bắt đầu và kết thúc với một kiểu cách phản ảnh một bận tâm lớn lao. Câu 50: "Các ngươi hãy sống hòa thuận với nhau' trở lại cuộc tranh luận giữa các môn đồ (cc. 33-34) mà câu 35 đã chấm dứt. Kết luận này cho thấy đặc tính của cách Mc giải thích lời nói về muối (x. Mt 5, 13 ; Lc l4,34-35). Cho dù Mc có sử dụng một nguồn liệu thì người ta cũng nhận ra ngòi bút của ông trong nhiều chi tiết của cc. 33-34 (x. S. Legasse, Jésus ét l'enfant, Paris, 1970, tr.23-25. Đặc biệt nên lưu ý sự khó khăn trong việc hòa hợp 35a với 33-34). Rõ ràng Mc muốn nhấn mạnh đến mối nguy mà cộng đoàn có thể gặp phải do vấn đề chọn lựa ngôi thứ giữa các môn đồ. Dĩ nhiên đó không phải là chủ đề duy nhất của cuộc đàm thoại, nhưng vị trí của nó ảnh hưởng đến việc hiểu rõ toàn thể bản văn.

Sau hết, Mc 9,33-50 nằm sau lời tiên báo thứ hai về cuộc Khổ nạn. Người ta biết rằng ba lời tiên báo về cuộc Khổ nạn tạo nên nhịp điệu cho cả một tiết của Tin Mừng thứ hai (8,31-10,45); mỗi một lời tiên báo đó, kèm theo nhiều giai thoại minh họa sự ngu độn của các môn đồ, gây nên một giáo huấn của Chúa Giêsu về sự hiệp thông số phận mà Người muốn thiết lập giữa họ và Người. Trong lần tiên báo thứ nhất, Phêrô phản đối, nhưng ông đã bị coi như là Satan (8,32-33), và các môn đồ với đám đông đã được cảnh giác rằng người ta không thể theo Chúa Glêsu nếu không bỏ mình và vác thập giá (8,34tt). Lời tiên báo thứ hai cho thấy các môn đồ không hiểu chi cả (9,32) và mối lo âu về địa vị chứng tỏ họ chẳng có khả năng đi vào trong nhãn giới của Thiên Chúa, đồng thời, theo Mc, nó gây nên cuộc đàm thoại mà chúng ta đang nghiên cứu đây (cc 33-34). Xa hơn, sau lời tiên báo thứ ba về cuộc Khổ nạn, nỗi sợ hãi của các môn đồ đang theo Chúa Giêsu xa xa trên đường tới Giêrusalem (10,32) và lời thỉnh cầu đầy tham vọng của hai con Giêbêđê (10,35tt) cho thấy họ cũng chẳng có khả năng hiểu đường lối của Chúa Giêsu, con đường mà dù vậy họ phải theo đuổi. Do đó, phải đọc 9,38-48 dưới ánh sáng mà Mc đã chiếu trên bản văn này.

2. KẺ TRỪ QUỶ XA LẠ VỚI NHÓM MUỜI HAI (cc. 38-40).

Người ta có thể hiểu giai thoại này trong bốt cảnh cuộc sống Chúa Giêsu cũng như trong bối cảnh cuộc sống Giáo Hội sơ khai. Chúa Giêsu và các môn đồ Người trừ quỷ, như bao người Do thái khác (Mt 12,27; Lc 11,19). Quyền năng trừ quỷ của Chúa Giêsu là lý do khiến nhiều người Do thái đã cậy nhờ danh Người để xua đuổi quỷ. Thành thử lời khai báo của Gioan (c.38) phản ảnh một vấn đề có thể đã đặt ra vào thời Chúa Giêsu. Vả lại, sự kiện lời khai báo được gán cho Gioan cho thấy đây là một dữ kiện xưa của truyền thống; người ta không thể cắt nghĩa cách nào khác hơn việc đề cập đến tên của môn đồ này trong trình thuật.

Nhưng cách khai báo của Gioan có dẫu thuộc về truyền thống của Giáo Hội sơ thủy: nó giả thiết rằng nhóm môn đồ đã giới hạn và gọi kẻ trừ quỷ ngoài nhóm như một người không đi theo "chúng tôi" (2 lần trong c.38). Lối sử dụng động từ "theo" này chỉ có trong các Tin Mừng, nơi nói người ta theo Chúa Giêsu, chứ không theo các môn đồ Chúa Giêsu (Lc 9,49 loại bỏ đặc điểm này bằng cách viết: "Vì hắn không theo với chúng tôi). Nên kiểu nói trên chỉ hiểu được trong giai đoạn mà Giáo Hội hậu phục sinh được thiết lập quanh nhóm các môn đồ.

Ngoài ra, hình thức của đoạn văn cho thấy là nó đã được dùng trong Giáo Hội. Loại đoạn văn này, trong ấy việc trình bày một sự kiện (hay một vấn đề) khêu lên.một câu trả lời dứt khoát của Chúa Giêsu, năng gặp trong các Tin Mừng Nhất lãm. Nó phát xuất từ một quá trình hệ thống hóa: để tìm ra giải đáp thực tiễn cho bao vấn đề cụ thể trong các Giáo Hội, người ta nhắc lại những lời nói của Chúa Giêsu, và giá trị quy tắc của chúng xác đỉnh dần dần hình thức văn chương của chúng.

Công vụ 19,13-16 trích dẫn trường hợp của những người trừ quỷ Do thái ở Ephêsô đã thử dùng danh Chúa Giêsu để chống lại ma quỷ, vì họ đã thấy thánh Phaolô làm mà thành công (Sử gia Do thái Josèphe xác nhận rằng người ta có dùng tên Salomon trong các công thức trừ tà hay chữa bệnh, Ant. 8,45tt). Sự thất bại của họ làm tăng thêm vinh quang cho Chúa Giêsu vì danh Người không thể được sử dụng như một công thức phù chú.

Trường hợp được Gioan trích dẫn hẳn liên can tới những kẻ trừ quỷ xa lạ với nhóm các môn đồ, nhưng việc họ cậy dựa vào Chúa Giêsu chứng tỏ một đức tin nào đó. Câu Chúa Giêsu trả lời cũng giả thiết như vậy: nếu nhân danh Người mà họ đã thực sự trừ được quỷ, thì ngay sau đó họ không thể nói xấu Người. Một câu trả lời như thế phù hợp với thái độ của Chúa Giêsu, Đấng đã không cưỡng bách thính giả phải gia nhập vào nhóm những kẻ Người gọi theo Người (x. 5,19). Kỷ niệm này vẫn tồn tại trong Giáo Hội như một lời cảnh giới đề phòng thái độ bất khoan dung hay cơn cám dỗ muốn độc chiếm niềm tin vào Chúa Giêsu và độc chiếm quyền năng của Người. "Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta". Thành thử có rất nhiều cách thế để liên kết với Chúa Giêsu và với cộng đoàn các môn đồ Người, và bao lâu mà người ta không tách rời cách cố ý, thì mối liên kết vẫn tồn tại.

Dĩ nhiên, vấn đề biết ai tham gia hoặc chẳng tham gia vào cộng đoàn không chỉ giải quyết bằng truyền thống này mà thôi đâu. Và tiếng xác định "ngay sau đó" cho thấy rằng sự thành công của những cuộc trừ quỷ nhân danh Chúa Giêsu không dứt khoát bảo đảm tất cả những điều mà các kẻ trừ quỷ đó có thể nói về Chúa Giêsu. Khi loại bỏ câu 39b của Mc phải chăng Lc đã cảm thấy các giới hạn của tiêu chuẩn phân biệt này, hoặc cảm thấy cái khó khăn phải dùng tiêu chuẩn ấy ở ngoài bối cảnh mà Chúa Giêsu có thể đã thốt ra lời đó? Dù sao, các hiện tượng dị thường mà Giáo Hội sơ khai đã biết đến không phải tất cả đều là dấu chỉ của Thần khí và của sự thông hiệp với Chúa Giêsu. Thánh Phaolô đã nhắc nhở cho các tín hữu Côrintô rằng những người ngoại giáo cũng biết đến các kinh nghiệm như thế và rằng việc tuyên xưng Giêsu như Chúa mới là tiêu chuẩn cho thấy có Thần Khí hoạt động (1Cr 12,1-3). Theo Mt 7,15-22, để được Chúa Giêsu thừa nhận trong ngày Thẩm xét, thì không phải chỉ cần nhân danh Người mà nói tiên tri, xua trừ ma quỷ, làm phép lạ là đủ, nhưng phải thực thi ý Cha trên trời (cũng nghĩa đó trong Dedaché 11,8-12). Và chính việc tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, theo 1Ga 4,1-3, mới là tiêu chuẩn phân biệt ngôn sứ thật và ngôn sứ giả.

Thành thử nguyên một lời của Chúa Giêsu không đủ để giải quyết một vấn đề có thể được đặt ra trong nhiều hoàn cảnh khác biệt nhau. Các lời của Chúa Giêsu tự chúng mang dấu vết của thời đại Người và của cử tọa đầu tiên của Người. Không được quên điều đó khi so sánh hai xác quyết: "Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta" (Mc 9,40) và "Ai không đi với Ta tức là chống lại Ta, và kẻ không cùng Ta thu họp tức là làm tan tác" (Mt 12,30 = Lc 1 l,23). Vì không biết trong trường hợp rõ ràng nào các lời tuyên phán đây đã được thốt lên, nên chúng ta phải nghe chúng trong văn mạch Tin Mừng hiện tại. Trong cả hai trường hợp, đều là vấn đề trừ quỷ. Nhưng lời tuyên phán thứ nhất biện minh cho những kẻ trừ quỷ mà khỉ cậy dựa vào danh Chúa Giêsu, đã nhận rằng quyền lực của Người đến từ Thiên Chúa. Lời tuyên phán thứ hai trái lại bác bỏ luận cứ của nhúng kẻ gán cho Satan quyền lực của Chúa Giêsu trên ma quỷ. Hơn nữa có một tiểu dị giữa chữ "chúng ta" của lời tuyên phán đầu và chữ "Ta" của lời sau. Người ta có thể nói: kẻ trừ quỷ xa lạ thu họp với Chúa Giêsu, chỉ có vấn đề là ông ta không thuộc nhóm các môn đồ. Nhưng theo lời Chúa, không nhất thiết phải thuộc về nhóm ấy (hay, ở giai đoạn trước tác của Mc, thuộc về cộng đoàn Kitô hữu) mới thực sự nhờ cậy được danh Chúa Giêsu và mới hành động được với quyền lực của Người.

Trong văn mạch của Mc, câu trả lời của Chúa Giêsu tố cáo các môn đồ có óc hẹp hòi, không thể hiểu được Thầy họ. Ngay khi người vừa tiên báo cuộc Khổ nạn của Người lần thứ hai (9,30-32), thì họ liền hỏi nhau xem ai là người lớn nhất (9,33-34). Khuynh hướng muốn độc chiếm Chúa Giêsu của họ và tham vọng ngăn cản kẻ ngoài nhóm cậy dựa vào người biểu lộ một ý chí quyền lực đối nghịch trực tiếp với thái độ của vị Thầy đang tiến dần đến cái chết, và với câu nói không chịu tranh luận lẫn điều đình của Người sau đây: "Ai muốn làm đầu, thì hãy ở cuối hết tất cả và làm tôi tớ tất cả" (9,35). Khi lự đồng hóa với đứa trẻ được tiếp nhận vì danh Người (c.37), Chúa Giêsu cũng nhắm đến ý nghĩa đó: quyết liệt phản đối các tư tưởng con người về sự cao trọng. Mc sẽ còn trở lại chủ đề này nơi ch.lo nữa: lời thỉnh nguyện của hai con Giêbêđê (cc.35-40) đối nghịch với lời tuyên báo Khổ nạn thứ ba (10,32-34), và những bất hòa xảy ra giữa các môn đồ vì lời xin ấy là cơ hội để xác quyết sự đòi hỏi phải phục vụ đến hy sinh và bài bác những quan niệm quá ư trần tục về quyền bính (cc 41-45).

Hiển nhiên là ngày nay, vấn nạn của Gioan về việc trừ quỷ và làm phép lạ han được đặt ra bằng những lời lẽ khác. Nhưng vấn nạn đó vẫn luôn hiện thực: ai là môn đồ hoặc không phải là môn đồ của Chúa Giêsu, và quyền năng của Người hoạt động ra sao giữa con người? Với ít nhiều chuyển dịch, câu trả lời của Chúa Giêsu vẫn giữ tất cả sự trẻ trung của nó. Trong Giáo Hội, ai có thể tự cho mình thoát khỏi những lời cảnh giới của Mátcô?

3. LY NƯỚC CHO MÔN Đồ (c.41)

Đừng đi tìm kiếm một mối dây chặt chẽ giữa lời này với các lời trước, trừ ra là chuyện các môn đồ và những hoàn cảnh khác nhau mà các ông có thể gặp. Nơi cc.39-40, người ta đã nói rõ thái độ của các ông đối với những người xa lạ với nhóm các ông. Bây giờ là cách thức mà "một kẻ nào đó" sẽ tiếp nhận các ông. Bởi vì các ông là môn đồ, nên cử chỉ nhỏ mọn nhất được làm để giúp đỡ các ông cũng có giá trị trước mặt Thiên Chúa ("phần thường").

Phải đối chiếu xác quyết này với xác quyết của c.37 trong đó việc tiếp nhận một đứa trẻ nhân danh Chúa Giêsu được đồng hóa với việc tiếp nhận chính Chúa Giêsu và Cha Người. Hai lời này, theo Mc, còn soi sáng thau hơn nữa vì Chúa Giêsu nói đến đứa trẻ bằng những hạn lừ thích hợp hèn với một thừa sai, với một nhà truyền giáo. Thật có ý nghĩa việc truyền thống Tin Mừng đã nới rộng ra các môn đồ những lời và cử chỉ của Chúa Giêsu liên hệ đến các trẻ em: người ta dễ dàng đi từ trẻ em sang môn đồ được mời gọi trở thành bé nhỏ (Mt 18,2-5; Mc 9,33-37 thì nói ngược lại) hay "kẻ nhỏ đang tin" nghĩa là xa người môn đồ xem ra yếu kém nhất hay vô giá trị nhất (Mc 9,42; Mt 18,6). Câu 37, nói đến việc tiếp nhận trẻ nhỏ nhân danh Chúa Giêsu, nghĩa là hợp với tinh thần và giới răn của Người, xem ra nối kết hai lời tuyên bố trong hai trường hợp khác nhau, một (c.37a) về các em bé. một (câu 37b, cũng có trong Mt 10,40; x. Lc 10,16; Ga 13,20) về sứ giả của Chúa Giêsu như được phát biểu nơi Mc, c.37 phù hợp cách tự nhiên với người môn đồ được tiếp đón với tư cách là môn đồ. Sở dĩ ly nước cho môn đồ có giá trị lớn lao như thế, đó là vì Chúa Giêsu đã tự đồng hóa với môn đồ Người, như Người đã tự đồng hóa với kẻ hèn mọn nhất trong các anh em Người nơi Mt 25,35-45.

Những lời như thế đã cắm sâu vào các Kitô hữu đầu tiên cái ý thức rằng họ thuộc về Chúa Kitô và có nhiều trách nhiệm gắn liền với sự liên đới đó: qua các môn đồ người, Chúa Giêsu vẫn luôn hiện diện trong thế giới ta đây. Thành thử người ta không ngạc nhiên khi thấy lời Người được phát biểu theo ngôn ngữ giáo lý; vì xét cho đúng ra Chúa Giêsu đã chẳng có thể bảo: "Kẻ nào cho các người uống một bát nước vì danh nghĩa là các ngươi thuộc về Chúa Kitô". Nhưng Phaolô thì lại nói vậy (Rm 8,9; 1Cr 1,12; 3,23; 2Cr 10,7) để nhấn mạnh, sau khi Chúa Giêsu ra đi, đến mối dây đặc biệt mà Chúa Kỉtô đã thiết lập giữa Người với kẻ tin Người cùng làm cho Người hiện diện trên trái đất.

4. CỚ VẤP PHẠM CHO NHỮNG KẺ NHỎ ĐANG TIN (c.42)

Trong giai đoạn biên soạn Tin mừng, không có vấn đề những trẻ nhỏ, nhưng là những "kẻ tin", những Kitô hữu còn nhỏ" vì có lẽ còn yếu kém, ít am hiểu hay gặp nhiều nguy hiểm hơn. Thánh Phaolô cho ta biết có nhiều loại Kitô hữu trong các giáo đoàn và ảnh hưởng của họ trên nhau: những người có "trí tri" có thể trở thành cơ hội sa ngã cho những kẻ yếu kém muốn bắt chước họ dù không có trí tri như họ (x. 1Cr 8.,7-13; 9,22; 10,24-29; Rm 14,1-23). "Khi phạm đến người anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ như thế, tức là anh em có tội phạm đến Chúa Kitô" (1Cr 8,12). Xác quyết ấy của Phaolô nhấn mạnh một cách khác sự liên đới nối kết Chúa Giêsu với kẻ nhỏ nhất trong các tín hữu theo Mc 9,42. Mt 18,6 nói rõ: "Những kẻ nhỏ đã tin vào Ta này" nhưng văn mạch của Mc đủ để gợi lên điều đó. Trước đấy trong câu 37, đứa trẻ mà Chúa Giêsu tự làm cho mình nên liên đội, đã được chọn như là khuôn mẫu của môn đồ. Thành thử tính cách trầm đọng của gương xấu tố giác ở đây phát xuất từ phẩm giá của người tín hữu lu mờ nhất. Và sự nghiêm khắc của Chúa Giêsu đủ nói lên lòng kính trọng và mối ưu tư phải dành cho kẻ ấy. Bất hạnh lớn nhất có thể xảy tất cho một người là lôi kéo phạm tội một trong các kẻ nhỏ này: một bất hạnh lớn hơn việc bị xô xuống lòng đại dương với một cối xay lớn cột nào cổ.

Các hạn lừ mà Mc và Mt sử dụng cho thấy cộng đoàn Kitô hữu đã áp dụng lời của Chúa Giêsu cho nhtĩng tín hữu có vẻ đơn sơ nhất. Hình thức nguyên thủy xem ra không xác định các kẻ nhỏ là các tín hữu (x. Legasse, sđd, tr.104tt). Xác định này vắng bóng trong Lc 17,2. nghiêng thành ngữ "một trong các kẻ nhỏ này" mà người ta chỉ thấy trong Tin Mừng, xem ra là âm vang trực tiếp của lời Chúa Giêsu. "Các kẻ nhỏ ấy này chắc là những người hèn kém của các giai cấp hạ lưu, ít học, bị coi thường, không thuộc một giới ưu tú nào, ngay cả giới ưu tú tôn giáo, giới này, trong Do thái giáo, có khuynh hướng khinh bỉ họ. Việc cảnh giác đề phòng sự làm gương xấu cho các kẻ nhỏ này có lẽ đặc biệt nhắm đến các thủ lãnh tôn giáo mà Chúa Giêsu, nơi khác, tố cáo là đã độc quyền chiếm đoạt "chìa khóa của trí tri", chiếm đoạt sự giải thích Thánh Kinh. Là đóng cửa không cho những kẻ muốn vào (Lc 11 ,52). Trên mức độ lời giáo huấn của Chúa Giêsu, các dụ ngôn về hai người mù (Lc 6,39; Mt 15,14) và dụ ngôn về con chiên lạc (Lc 15,3-7; Mt 18, 12, 14) có thể được đọc trong cùng một ý nghĩa đó.

Khi thích trong giáo huấn này và giáo lý cho các Kitô hữu của thế kỷ XX trong Giáo Hội, ta không được giới hạn tầm mức của nó. Ngày nay hon bao giờ hết. Các "kẻ nhỏ" mà người ta coi thường và dễ bị nguy hiểm hư mất, không phải tất cả đều ớ trong các cộng đoàn Kitô giáo của chúng ta đâu.

5. CHỐNG LẠI NHỮNG DỊP TỘI (cc.43-48)

Sự trầm trọng của gương xấu giờ đây được xác định theo mối nguy mà nó gây ra cho mỗi người. Bất cứ ai đều có thể tìm thấy trong chính bản thân một cơ hội gây gương xấu và như thế liều mình đánh mất sự sống (vĩnh cửu). Vật tranh giành quá quan trọng đến nỗi người đó, nếu cần, phải chấp nhận hy sinh một phần thân thể. Để hiểu những lời này của Chúa Giêsu, phải lưu ý đến lối nói cụ thể và thường nghịch lý trong cuộc nói chuyện của Người. Thật vô ích khi tìm xem những tội nào mà bàn tay, bàn chân hay con mắt có thể là cơ hội. Vả lại việc cắt bỏ chúng không loại trừ được nguy hiểm đâu. Chúng tượng trưng tất cả các dịp tột mà một Kitô hữu có thể tìm thấy trong chính bản thân hay trong những tương giao với bên ngoài. Và chúng cho thấy sự trừ tuyệt được đòi hỏi thật là đắt giá. Chúa Giêsu chỉ muốn nhấn mạnh giá trị tuyệt đối của "sự sống", của "Vương quốc Thiên Chúa", tiêu chuẩn dứt khoát của mọi lựa chọn của con người (x. Mc 8,35-37ss; 10, 23-27ss; Mt 13,44-45 v.v...).

"Sự sống" đối nghịch với "hỏa ngục", được gọi rõ ràng như là nơi khổ hình dành cho các tội nhân tự tách lìa khỏi "sự sống". Lời trích dẫn nơi c.48 khiến ta liên tưởng đến Is 66,22-24, bản văn gợi lại vinh quang của Giêrusalem, thủ đô tôn giáo thế giới, trong lúc lên ngoài thành, xác chết của những kẻ đã nổi lên chống lại Thiên Chúa bị giòi bọ găm nhắm và lửa hủy diệt. Đó là thung lũng (tiếng hy bá là gô) Hinnom (được Hy lạp hóa thành Géhenna), gần các cửa phía nam của thành, mà ở đây dùng làm khung cảnh cho óc tưởng tượng của thi sĩ. Giêrêmia cũng đã chọn nó làm nơi mà hình phạt của con cái Giuda phải bị bày ra trong tất cả vẻ nghiêm khắc; vì tội lỗi của họ (tế xác các trẻ nhỏ) đã đạt đến cực điểm ghê tởm nói đó (Gr 7,30-8,3; 19,7; 32,35). Luồng tư tưởng về hy vọng cánh chung tiếp đó đã lấy êhinnom để chỉ hình phạt không phải của các thây ma bất động nữa mà là của các tội nhân được phục sinh (Hênóc 22,10-11 ; 90,26-27; x.Dn 12,2). Lửa và giòi bọ trước đây là hai lại gia hình dành cho các thây ma, trở thành biểu tượng cho số phận kinh khủng dành cho những ai từ chối tiếng mời gọi hoán cải và những lời cảnh giác của Thiên Chúa (Gđ 16, 17; Hc 7,17) (giòi bọ : G 25,5, Lc 7, 17; Hênóc 46,3; lửa: Hênóc 90,26-27; Mt 13,42.50; 18,8; 25,41 ; Gđa 7; 7 ; Kh 19,20). Như trong Mt 5,29-30 đề cập rõ ràng đến thân xác, viễn ảnh mở ra trong Mc 9,43-48 là viễn ảnh của cuộc phán xét cuối cùng. Cũng cần thêm rằng các bản văn này không phải để nuôi dưỡng những suy tư suông về thế giới bên kia nhưng là để soi sáng và củng cố việc chọn lựa con đường dẫn đến sự sống (x.Mt 7, 13-14 so sánh với 24-27).

KẾT LUẬN

Tuy xem ra không ăn khớp với nhau, các lời nói trên đây của Chúa Giêsu vẫn luôn có khả năng bồi dưỡng giáo lý cho các Kitô hữu. Thánh Mc trình bày chúng như những huấn lệnh cho các môn đồ , những kẻ đã dấn thân trên con đường đưa Con Người đi từ đau khổ đến vinh quang. ánh sáng này giúp ta hiểu rõ và thích ứng cho các thế hệ mới điều đã được nói theo thời Chúa Giêsu hay theo cuộc sống của những Kitô hữu ban đầu. Có rộng mở đón nhận những biểu lộ quyền năng của Chúa Giêsu ngay cả ở ngoài biên giới của những cộng đoàn của chúng ta, có ý thức sứ mệnh đại diện Người trên trần thế, chúng ta mới tiếp xúc được với "người nào đó", đặc biệt mới lo lắng cho những người yếu kém hơn; và sự sống" mà chúng ta được mời gọi đến, rất đáng giá mọi hy sinh phải chịu.

Có một điều đập vào mắt là trong toàn bộ cc.33-50, chẳng có một sự phân biệt nào giữa các thủ lãnh cộng đoàn và những người khác. Chỉ những kẻ hèn kém được nói đến như một hạng người riêng biệt song là để được gửi gấm cho trách nhiệm của mọi người. Cách thức nhóm Mười hai được đồng hóa với các môn đồ (cc.31.33.35) và các độc giả ("các ngươi" c 41) được coi như thuộc về Chúa Kitô, cho thấy rằng mọi Kitô hữu phải biết lợi dụng bài giáo lý hôm nay. Sở dĩ cc.35 và 38 đặc biệt nhắm đến các thủ lãnh, đó là để phản kháng cao vọng của họ muốn đặt mình trên kẻ khác (c.35) hay muốn độc chiếm quyền năng của Chúa Giêsu (c.38). Cuộc nói chuyện rõ ràng hướng tới lý tưởng một cộng đoàn trong đó hết thảy sống an hòa với nhau (c.50b) vì biết phục vụ lẫn nhau (cc.33-35).Điều kiện để được như thế là sự từ bỏ, được diễn tả qua hình ảnh muối (c.50), mà nếu không có thì người môn đồ chẳng phải là môn đồ đích thực. Nếu phải gán một tiêu đề cho toàn thể cc.33-50, thì ta có thể đề nghị: "Vài chỉ thị về cách thức đích thực để trở nên môn đồ .
Jean Delornle, Assemblées du Seigneur 57, tr.53-62.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Vấn đề mà Tin Mừng nói hôm nay (cc.38-40) vẫn còn đang nóng bỏng. Trong Giáo Hội, cần có một nhóm nào đó xem mình như có độc quyền sử dụng Tin Mừng để rồi lên án mọi việc làm của các Kitô hữu khác không. Chắc chắn một nhóm như thế không cần phải có. Như trong thực tế, đây đó vẫn có những nhóm quá khích tự xem mình như những nhà chú giải Tin Mừng đúng với ý Chúa mà thôi. Nhóm người này không thể dùng chiêu bài được ở gần Chúa Giêsu như thánh Gioan và các sứ đồ thuở xưa để mà biện hộ. Chung chung họ chỉ lập luận dựa trên cát nhìn một chiều của họ về Giáo Hội, khi thì (dựa trên thái độ tiêu cực đối với mọi trào lưu biến hoá, khi thì trên cách thế diễn giảng Tin Mừng theo chiều hướng chính trị. Tất cả đều có điểm chung là không muốn đi vào chiều sâu của Giáo Hội. Thần ác đã xui khiến các loại nhóm này "dứt phép thông công" lẫn nhau, đến độ một phần tử quá khích của một "trào lưu" mệnh danh là mới mẻ không muốn cùng chung bàn tiệc thánh với một phần tử của trào lưu khác.

2. Thời đại chúng ta, vì phải chịu nhiều ảnh hường tệ hại khoa thần học có khi đã bị sa lầy trong những cuộc tranh luận có tính cách ý thức hệ hoặc trong những cuộc tranh chấp chính trị; do đó, người Kitô hữu cần phải khôn ngoan nhận ra thế nào là trung thành đích thực với Tin mừng, thế nào là không. Thực tế, vẫn có nhiều cách trung thành đích thực đã được các vị trọng trách trong Giáo Hội đảm bảo, do đó họ cũng cần phải chấp nhận có sự khác biệt trong cách trung thành. Một trong nhũng tiêu chuẩn căn bản giúp ta nhận ra tính cách đích thực, đó là dấu cổ võ sự hiệp thông.

3. Sau khi công bố phẩm cách cao quí của những kẻ bé mọn (Mc 9,37), giờ đây Chúa Giêsu mặc khải phẩm cách cao quí của môn đồ. Người môn đồ nhỏ bé nhất vẫn tượng trưng Chúa Kitô (xem cuộc Chung thẩm trong Mt). Kitô hữu là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa trần thế. Đây là một danh dự và một trách nhiệm nặng nề. Có bao giờ ta ý thức như thế để sống xứng đáng không? "Nếu các Kitô hữu sống đạo thật thì dân An chúng tôi đã theo Chúa Kitô cả rồi" (lời thánh Gandhi).

4. Hãy nghĩ đến những người mà ta có thể gây cớ vấp phạm bằng những thay đổi hiện thời trong Giáo Hội, những thay đổi quá táo bạo, không tôn trọng các truyền thống cũng như hãy nghĩ đến bao người thất vọng, bị cám dỗ rời bỏ Hội Thánh hay cảm thấy không muốn vào vì sự thụ động của ta, vì thái độ của nhiều Kitô hữu không chịu cải cách, đổi mới.

5. Lời Chúa bảo phải tróc nã, tiêu diệt sụ ác tận gốc của nó, tiêu diệt dịp tội trong chúng ta và ngoài chúng ta. Đời sống Kitô hữu không thể hiện bằng sự cắt xén hủy bỏ, nhưng bằng sự lớn lên. Để có thể lớn lên, tăng trưởng, mang hoa trái, phải cắt tỉa, gột rửa, từ bỏ... vì danh Chúa Giêsu, vì vương quốc Thiên Chúa. Xem của 15,1-2: Nhánh nào không sinh quả thì Thiên Chúa chặt vất: còn nhánh nào sinh quả thì Ngài tỉa sạch để nó sinh quả nhiều hơn.


Noel Quession - Chú Giải

 

Mc 9,38-43.45.47-48


Trên con đường đi Xêdarê - Phi-líp-phê, nơi Phêrô đã tuyên xưng đức tin, xuyên qua xứ Galilê chỗ Ngồi đã rao giảng Tin Mừng, cho đến Giêrusalem, tới nơi đó Người sẽ chết và Phục sinh, Đức Giêsu không đi một mình. Con đường của "Con Người" cũng là con đường của các môn đệ. Chính, chúng ta cũng đi trên con đường đó theo chân Đức Kitô :

- Tuyên xưng đức tin của phép rửa tội, bằng cách sống Tin Mừng cho đến cuộc vượt qua riêng của chúng ta. . . đó là sự chết và Phục sinh của moi người. Trong trình thuật này, Mác-cô góp nhặt những lời giáo huấn của Đức Giêsu đã giảng dạy trong nhiều dịp khác nhau và bàn về nhiều vấn đề khác nhau. Phần lớn những lời giảng dạy của Đức Giêsu xoay quanh một chủ đề duy nhất : Đó là những đòi hỏi phải có khi chúng ta Tin " nơi Người. Tin nơi Đức Giêsu, đó là đi theo Người đến những nơi mà Người đã đi qua. Cuộc sống thực tế của các môn đệ, luân lý Kitô giáo không phải là một "luật lệ" được phép hay bị cấm đoán, mà là một sự tham dự vào cách sống của Đức Giêsu ".

Ong Gioan nói với Đức Giêsu : "Thưa Thầy : Chúng con thấy có người lấy danh nghĩa Thầy mà trừ quỷ".

Chính Gioan đã tự nhận là Người môn đệ được Đức Giêsu thương yêu (Ga 21,20). Trong số 12 môn đệ, ông có vẻ hiểu Đức Giêsu nhiều nhất, và là người thân cận nhất của Đức Giêsu.

Trên đường đi, đây là một sự kiện sống động, một "biến cố" nhỏ gây ra một phản ứng. Trong cuộc sống hằng ngày, đức tin đích thực phải được sống động qua những tình tiết ngẫu nhiên. Hôm đó, đã có gì xảy ra trên đường đi của các Ngài ?

Gioan đã thấy một "người trừ quỷ" mà không thuộc nhóm của các ông. Tin Mừng ghi lại việc các môn đệ của Chúa đã thử trừ quỷ vài hôm trước, khi vắng Đức Giêsu (Mc 9,18).

Nhưng các ông đã thất bại. Và vì tiếng tăm của Đức Giêsu đã lan rộng, nên người ta cũng dễ hiểu tại sao một người trừ quỷ lạ mặt đến lượt mình cũng có thể tập trừ quỷ. Qua văn chương cổ, chúng ta cũng biết rằng, người Do Thái và ngoại đạo đã trừ quỷ cũng như những nhà phù thủy ngày nay, nhờ pháp thuật rất phổ biến vào thời Đức Giêsu (Cv 8,18).

Dĩ nhiên, ngày nay, câu hỏi của Gioan về việc trừ quỷ sẽ được đặt ra một cách khác, nhưng câu hỏi này vẫn mang tính thời sự, dù bên ngoài có vẻ trái ngược. Ngày nay, cũng như vào thời Đức Gỉêsu và Gioan vẫn có "những người trừ quỷ". Những con quỷ thời nay như chúng ta biết rõ, chúng rất đông.

Thí dụ, việc đánh mất ý thức luân lý, khinh thường sự sống, khai thác những người yếu kém và nhỏ bé không tự vệ được nhưng cách đối xử phân biệt chủng tộc, sự phân chia của cải không đồng đều, những đồng lương chết đói, mất cảm thức đích thực về Thiên Chúa, tôn thờ các thần tượng. Đứng trước những "con quỷ" này, chúng ta cũng biết như Giao thời ấy, dù trẻ, già, lớn, bé... tất cả đều phải "khử trừ" sự dữ này và cố tiêu diệt nó, bằng cách làm việc theo nghề nghiệp của mình, bằng các tự nguyện dấn thân vào một phong trào.

Chúng con thấy có người lấy danh nghĩa Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.

Những người đó không phải là Kitô hữu. Họ không thuộc nhóm chúng ta, phe phái của ta. Hãy cho xem giấy tờ ? Bạn không phải là người Việt, không phải Công giáo, không phải là người sống đạo... hay bạn không thuộc nghiệp đoàn của tôi, tông phái của tôi, bạn là phe tả phe hữu, bạn là người bảo thủ, cấp tiến... Vậy thì tôi không nghe bạn nói. Nếu có thể, tôi sẽ làm bạn phải im tiếng, tôi sẽ ngăn cản không cho bạn hành động.

Quả thực, óc biệt phái vẫn chưa chết. Thái độ chia rẽ vẫn tồn tại trong Giáo Hội, cũng như đã có trong đầu óc các tông đồ. Thời đó, Nhóm Mười Hai cứ mải mê ghen tương tranh cãi nhau cách nhỏ nhen về ngôi thứ địa vị.

Đức Giêsu vừa loan báo về sự thương khó của Người. Người sẽ trở nên "kẻ" sau rốt, làm đầy tớ mọi người" . Người vừa khuyên các môn đệ phải sẵn sàng phục vụ và đừng tìm kiếm chỗ nhất. Thế mà Gioan, một môn đệ được coi là thân cận nhất, bây giờ lại tỏ vẻ phản ứng. Phản ứng của ông là phản ứng muốn thống trị, muốn quyền lực, muốn nắm độc quyền. ông muốn giữ cho riêng minh "Quyền lực của Đức Kitô". Chúng ta không nên xét đoán các tông đồ, cũng đừng xét đoán ai cả. Chúng ta hãy nhìn vào chính bản thân mình.

Trình thuật ngắn gọn này, bề ngoài tầm thường, nhưng nội dung đề cập đến một trong những vấn đề nóng bỏng thời sự nhất : Hồng ân cứu rỗi của Đức Kitô chỉ có hiệu lực bên trong những biên giới "Thấy được" của Giáo Hội hay sao ?

Trước câu hỏi mang tính thời sự đó, câu trả lời của Đức Giêsu sẽ ra sao ?

Đức Giêsu bảo : "Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta".

Thưa không ! Nhóm Mười Hai không phải là nhóm duy nhất nhận lãnh Thần Khí của Thiên Chúa :

"Bên ngoài phòng hội của các bạn, Thần khí thổi qua, bất ngờ và tự do như gió" (Ga 3,8).

Từ thời Môsê, tinh thần ngôn sứ đã được phổ biến rộng rãi, và người ta không thể ngăn cản sự tỏ hiện này, kể cả bên ngoài "nhóm" (Ds 11,25-29). Và cả bên ngoài những kẻ "đang ở trong lều". Và Môsê đã ước mong ân huệ của thần khí cần được ban cho tất cả. Ong đã nói : "ôi ước gì Thiên Chúa có thể đặt Thần Khí của Người trên họ, để làm cho toàn thể dân Người trở thành một dân tộc ngôn sứ. Xin Chúa cho những "người của "Thần Khí" xuất hiện trên măt đất chúng con" .

Không ! Người ta không thể xiềng xích Thần Khí được. Thần Khí là tự do. Thần Khí không bị ràng buộc bởi một nghi lễ nào cả. Thần Khí hành động ở bên ngoài những cấu trúc của chúng ta. "Người linh ứng cho cả những ngôn sứ ở bên ngoài" nhóm, bên ngoài Giáo Hội. Câu nói của Đức Giêsu "các con đừng ngăn cản người ấy" đã nói rõ ràng phẩm chất Giáo Hội mà sứ vụ là bảo đảm Đức tin chân chính, phải tôn trọng sự bộc phát của Thánh Thần nơi mỗi người được rửa tội, và cả nơi mỗi người không nằm trong những cơ cấu hữu hình của Giáo Hội.

Chúng ta thán phục quan điểm quảng đại của Đức Giêsu, đối nghịch với óc bè phái và bất khoan dung. Thần Khí nào đang ngự trị trong chúng ta ? Có phải Thần Khí của Đức Giêsu không ?

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một Thần Khí cao cả quảng đại, thông sáng, bao la như Thần Khí của Thiên Chúa, rộng mở như Thần Khí của Chúa... Thần Khí đó thổi từ bên này qua bên kia thế giới, làm vỡ đổ tinh thần cục bộ của chúng con. Xin Chúa hãy làm chúng con trở nên Công giáo đích thực, nghĩa là "những con người phổ quát", "nhưng con Người biết thông cảm những khác biệt" như Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhở chúng con : "Chúng ta cần cổ vũ ngay trong lòng Giáo Hội sự trìu mến, tôn trọng và hãy hòa thuận với nhau, bẵng sự chấp nhận mọi dị biệt chính đáng. . . Chúng ta cởi mở với những người anh em tuy chưa sống hiệp thông trọn vẹn với chúng ta... chúng ta mở rộng tới những ai đang bảo tồn các yếu tố tôn giáo và nhân bản quý giá trong truyền thống riêng của họ" (GS 9,2).

Các bạn có nhớ không ? Đây là sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vào ngày Ngài được tấn phong Giáo Hoàng. "Các bạn đừng sợ ! Hãy mở rộng biên giới của các bạn". Phải chăng chúng ta tự nhiên dễ lên án những ai không thuộc phe chúng ta, những ai không suy nghĩ như chúng ta ? Chúng ta có thưởng thức được phần chân lý mà đối thủ chúng ta nắm giữ, nhũng điều tốt mà họ làm được, những thành công nhân bản và xã hội mà họ đã thực hiện không ?

Đừng dập tắt ngọn lửa đang cháy, nó phải thiêu đốt thế gian (Lc 12,49).

Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

'Một chén nước", không có gì đáng kể. Đó là biểu tượng cho một việc phục vụ nhỏ nhất mà không có thể giúp người khác : Chỉ có một chén nước. Đó là "phàm tước" lạ thường của người môn đệ : "Người ấy thuộc về Đức Kitô". Người tín hữu bé nhỏ nhất cũng đại diện cho Đức Kitô. Người đồng hóa mình với người Kitô hữu nhỏ bé nhất.

Thánh Mát-Thêu sẽ lấy lại đề tài này trong diễn từ nói về ngày thẩm phán (Mt 25,31-45). "Những gì các ngươi đã làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy". Đó là sự lớn lao của mỗi hành vi nhỏ bé của ta, không có gì là nhỏ bé cả. Tôi đã bỏ biết bao cơ hội ?

Ai làm cớ cho một trọng những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ mà quẳng xuống biển còn hơn.

Sau những lời khuyên luận lý tích cực ("cho một chén nước"), giờ đây là sự cảnh giác tiêu cực ("không được làm cớ cho kẻ khác sa ngã"). Nhưng thực ra, đây chỉ là một cách đối xử căn bản : Quan tâm đến kẻ khác.

Ở đây chúng ta khám phá ra một khía cạnh mới của Đức Giêsu : Ngoài tinh thần rộng mở, chúng ta cũng gặp được một sức mạnh bên trong, và khả năng sử dụng mãnh lực đó của Chúa. Thực vậy, sự khoan dung của Đức Giêsu không phải là sự lãnh đạm đối với điều ác. Nếu người khuyên chúng ta phải khoan dung đối với điều thiện được thực hiện bên ngoài nhóm của chúng ta, Người cũng lấy làm bất bình khi thấy người ta có thể lôi kéo một người khác vào sự ác.

Nếu tay anh làm cớ cho anh sạ ngã, thì chặt nó đi còn hơn. Thà cụt tay mà được vào cõi trường sinh, còn hơn là có đủ cả hai tay mà phải sa hỏa ngục, phải vào lửa không hề tắt".

Chỉ mình Đức Giêsu mới có quyền nói những lời phi thường này. Chỉ mình Người mới thực sự biết tội lỗi là gì. Vấn đề này thật là nghiêm trọng và bi thảm đối với Người. Cuộc sống đời đời đáng cho chúng ta dành mọi hy sinh. Chúng ta có thể chọn lựa, dứt khoát và tuyệt đối như thê không ? Dù là những kiểu nói vùng Sê-mít có vẻ quá mạnh, nhưng chúng ta cũng không nên làm nhẹ bớt đi ý nghĩa của những câu đó.


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Ai không chống đối các con là ủng hộ các con,

Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay bỏ đi ."


BÀI TIN MỪNG : Mc 9, 37 - 42 ; 44, 46 - 47 . 

I. Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối Tin Mừng Chúa nhật trước thuật lại việc Chúa Giêsu giáo huấn các Tông đồ . Trong bài này kể lại câu chuyện sau khi khiển trách Gioan về tội ganh tị . Chúa Giêsu hứa ban phần thưởng cho những ai tiếp đón các Tông đồ, đồng thời Người dậy không được làm gương xấu và cần phải tránh các dịp tội .

II. SUY NIỆM 

1 / " Gioan thưa cùng Chúa Giêsu rằng " :
 
Nhân câu chuyện Chúa Giêsu đang giảng dậy về việc đón nhận một trẻ nhỏ nhân danh Thầy ( 9, 35 - 36 ), Gioan sực nhớ tới có kẻ đã nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nên thưa với Chúa rằng :

2 / " Chúng con thấy có nhiều kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta và chúng con đã ngăn cấm y " : 

Trừ quỷ là một việc quen thuộc mà Chúa Giêsu và các tông đồ cũng thường làm như nhiều người Do thái khác ( Mt 12, 27 ; Lc 11, 19 ) . Nhưng có nhiều người lấy Danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ, Gioan thấy những người không cùng nhóm tông đồ với mình mà trừ quỷ như vậy là lạm quyền nên ông đã ngăn cấm họ .

3 / " Nhưng Chúa Giêsu phán : đừng ngăn cấm " 

Thấy thái độ ngăn cấm của Gioan như vậy biểu lộ một tâm trạng hẹp hòi, muốn độc chiếm niềm tin vào Chúa Giêsu, và độc chiếm quyền năng của Người, nên Chúa Giêsu đã ngăn cản sự cấm đoán của Gioan .

" Chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ rồi liền đó lại nói sấu Thầy " :

Chúa Giêsu đưa lý do để giải thích tại sao không được ngăn cấm như vậy :

Kẻ trừ quỷ không thuộc nhóm các tông đồ, nhưng việc họ cậy dựa vào danh của Chúa Giêsu đã chứng tỏ họ có niền tin nào đó rồi .

Và như vậy, kẻ trừ quỷ không nhất thiết phải thuộc về nhóm các tông đồ mới thực sự nhờ cậy được Danh Chúa Giêsu và mới hành động được nhờ quyền lực của Người .

* Ở đây Chúa muốn nói rằng có nhiều cách thế để liên kết với Chúa Giêsu và với cộng đoàn các tông đồ và bao lâu người ta không tách rời cách cố ý ( nói xấu ) thì mối liên kết vẫn còn tồn tại .

* " Ai chẳng chống đối các con là ủng hộ các con " : những ai lấy danh nghĩa Chúa Giêsu và trừ quỷ tức là làm một việc giống như các tông đồ đã làm và như vậy họ là những người ủng hộ các tông đồ . Ở đây Chúa Giêsu lấy ví dụ cụ thể này để chứng minh cho hành động tốt của những người mà Gioan vì ganh tị đã ngăn cấm, đồng thời để khiển trách những ai có tinh thần hẹp hòi bè phái : phe của mình mới ủng hộ, còn phe người khác thì chống đối .

4 / " Ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Đức Kitô ... thì kẻ đó không mất phần thưởng đâu " . 

Sửa sai Gioan song, Chúa Giêsu tiếp tục giáo huấn . Người nghĩ đến các tông đồ và hứa ban phần thưởng cho những ai vui lòng đón nhận các tông đồ .

Sở dĩ ly nước cho các tông đồ có giá trị lớn lao như thế là vì Chúa Giêsu đã tự đồng hoá mình với các tông đồ như Người đã đồng hoá với kẻ bé mọn nhất trong anh em Người ( Mt 25, 35 - 45 ) .

Ở đây Chúa muốn nói rằng những ai giúp đỡ cho các phần tử trong Giáo Hội của Người thì cũng như giúp đỡ chính Người vậy . Dầu chỉ một ly nước, ý nói một việc nhỏ nhọm tầm thường, thì cũng đáng được thưởng công trên trời rồi . Chúa đòi hỏi những ai giúp đỡ phải có tinh thần cao thượng, vì lẽ siêu nhiên, không vụ lợi .

5 / " Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy " 

Thiên chức của người tông đồ cao quý như vậy nên Chúa Giêsu dậy các tông đồ không được làm gương xấu cho những kẻ bé mọn :

+ Những " Kẻ bé mọn " : Chúa muốn ám chỉ những người hèn kém, khờ dại, dốt nát, không được học hỏi những vấn đề của luật pháp : hạng người này, trong Do thái giáo có khuynh hướng khinh bỉ họ . Những kẻ bé mọn có lòng tin này là những người thuộc giai cấp bình dân có thiện chí muốn học hỏi Kinh Thánh, luật pháp, thường được các thầy thông luật giải thích Kinh Thánh, luật pháp, nhưng lại bị giải thích sai lạc vì những gương xấu .

+ Vì thế việc cảnh giác đề phòng làm gương xấu cho những " Kẻ bé mọn " này, Chúa Giêsu muốn nhắm tới các thủ lãnh tôn giáo mà Người đã có lần tố cáo họ đã độc quyền chiếm đoạt sự giải thích Kinh Thánh và đóng cửa không cho những kẻ muốn vào ( Lc 11, 52 ). Có thể so sánh ý nghĩa giáo huấn này với dụ ngôn hai người mù ( Lc 6, 39 ; Mt 15, 14 ) và dụ ngôn về con chiên lạc ( Lc 15, 3 - 7 ; Mt 18, 12 - 14 ) .

+ " Thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển còn hơn " : Thớt cối xay nặng như thế mà kéo dìm một tội nhân dưới nước thì không thể nào ngóc đầu lên được : ý nói đến sự xấu xa, ghê tởm, nặng nề của tội làm gương xấu .

6 / " Nếu tay con ... chân con ... mắt con ..." :

+ Chúa muốn nói đến việc cần phải tránh các dịp tội, dù phải hy sinh đến mức độ nào đi nữa thì cũng phải tránh vì thà mất một phần thân thể mà được vào cõi sống còn hơn là đủ mà phải vào hoả ngục .

+ Kiểu nói " Tay - chân - mắt " không có ý nói theo nghĩa đen, nhưng có ý nói theo nghĩa tượng trưng để diễn tả các dịp tội mà ta có thể tìm thấy trong chính bản thân mình hoặc trong những tương giao với bên ngoài, việc trừ khử chúng đòi hỏi thật là đắt giá .

+ " Được vào cõi sống còn hơn là đủ mà phải xuống hoả ngục " : có ý diễn tả sự đối nghịch giữa thiên đàng và hoả ngục, đồng thời muốn nhấn mạnh rằng hoả ngục là nơi khổ hình dành cho các tội nhân tự tách lìa khỏi " cõi sống " .

+ " Lửa và giòi bọ " là hai loại gia hình dành cho các thây ma . Ở đây được tượng trưng cho số phận kinh khủng dàng cho những ai từ chối tiếng mời gọi hoán cải và những lời cảnh giác của Thiên Chúa ( Mc 7, 17 ; Hê nóc 46, 3 ; 90, 26 - 27 ; Kh 19, 20 ; Mt 13, 42 ; 18, 8 ) .

III. ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng này để dậy chúng ta những bài học sống đạo :

+ Không được hẹp hòi, găn tị, nhưng phải bác ái cách nghĩa lành cho hành động của tha nhân, dù tha nhân đó là ai .

+ Cần phải tích cực giúp đỡ các phần tử trong Giáo Hội, nhưng phải giúp với tinh thần siêu nhiên, vô vị lợi, vì Chúa ...

+ Không được gây gương xấu, làm cản trở sự hoàn thiện của người khác đặc biệt cản trở những kẻ yếu đuối cần phải được nâng đỡ .

+ Phải tránh những dịp tội dù phải hy sinh đến đâu đi nữa, vì sự sống đời đời quý giá hơn sự sống đời này .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a) Xem việc người làm : 


Chúa sửa sai Gioan : Chúa thấy Gioan có óc hẹp hòi ganh tị, Chúa không tỏ vẻ bực tức, nhưng người ôn tồn chỉ vẽ để giáo dục, để hướng dẫn, để sửa sai . Chúng ta noi gương Chúa, khi thấy nơi người khác có điều sai quấy thì cần bình tĩnh tìm cách giúp đỡ sửa sai hơn là bực tức, phê bình, chỉ trích .

b) Nghe lời Chúa nói : 

+ " Đừng ngăn cấm y " : Chúa cũng nói như vậy với ta khi ta phủ nhận giá trị hành vi của người khác chỉ vì họ không giống mình .

+ " Ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước " : Qua lời này, Chúa kêu gọi chúng ta :

- Cần phải lấy tinh thần siêu nhiên để giúp đỡ phục vụ các phần tử trong Giáo Hội .

- Là phần tử của Giáo Hội, cùng thuộc về Đức Kitô, thì càng xứng đáng để được giúp đỡ và trở nên công phúc cho người giúp đỡ mình .

+ " Những kẻ nào làm cớ vấp phạm " : Chúa cảnh giác chúng ta không được làm gương xấu cho kẻ khác, đặc biệt những người mình có trách nhiệm liên đới : sống với ai thì giúp người đó hoàn thiện hơn chứ đừng nên cớ cho người đó ra xấu hơn .

+ " Nếu tay, chân, mắt nên dịp tội cho con " : Chúa đòi hỏi ta phải biết hy sinh, sẵn sàng chịu thiệt, chịu mất sự sống đời này để bảo vệ sự sống đời sau .

- Chúa cảnh giác ta cần phải tránh xa các dịp tội với bất cứ giá nào vì thà mất công phải tránh còn hơn mất luôn sự sống .

2 / Nhìn vào Gioan : 

+ Gioan thưa cùng Chúa Giêsu ... : lời trình bầy có tính cách thưa kiện của Gioan biểu lộ ông là người hẹp hòi, phe phái, xét đoán nông cạn theo hình thức bên ngoài ... chúng ta cũng hẹp hòi như Gioan khi chúng ta so sánh phân bì, tị nạnh nhóm này nhóm kia .

Chúng ta cũng xét đoán nông cạn như Gioan khi chúng ta nhận xét người khác theo vẻ bên ngoài hoặc theo não trạng của mình mà không nhìn nhận giá trị của tha nhân .


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn