Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXVIII Thường Niên A

Tin mừng Mt 22: 1-10: Dụ ngôn này thể hiện những lời Thiên Chúa mời gọi dân được tuyển chọn. Được tuyển chọn nhưng dân Do Thái lại không sẵn sàng đi vào Nước Trời hưởng vinh quang, hạnh phúc với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu. Chính vì thế Thiên Chúa đã thay đổi ý định: dành Nước Trời cho các dân tộc khác....

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN A

NGÀY 15/10/2017
 

Tin mừng Mt 22: 1-10

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Dựa vào dàn bài tổng quát của các chương 21- 22, hãy nêu lên đặc tính tranh luận của 3 dụ ngôn nhắm biện minh cho ý định Thiên Chúa:

- Dụ ngôn hai người con (21, 28-32) phân biệt các tội nhân bất tuân đích thực trong dân Israel.

- Dụ ngôn các tá điền sát nhân (21, 33-43) lật tẩy mưu đồ sát nhân. của người Do thái và loan báo Thiên Chúa sắp có chương trình chuyển giao sứ mạng của người Do thái cho dân ngoại.

- Dụ ngôn tiệc cưới hoàng gia (22, 1-14) gom góp vào trong một bức tranh vĩ đại các dữ kiện của hai dụ ngôn trước khước từ vâng phục, sát hại Người Con, tiêu diệt quân giết người, kêu gọi những kẻ khác).

Đọc lại cả ba dụ ngôn ấy và xác định độ cao dần của chúng... (làm việc, thu hoa trái, đến dự tiệc v.v...)

2. Trên phương diện nội dung thần học, có tiến triển từ dụ ngôn này qua dụ ngôn khác không?

3. So sánh dụ ngôn tiệc cưới với dụ ngôn song song trong Lc 14, 16- 24. Có sự khác biệt nào? Dụ ngôn nào có hậu cảnh Cựu ước phong phú hơn?

4. Dụ ngôn của Mt có thể kết thúc dễ đàng ở c. 10 không? Phải chăng ta có thể nói đến một dụ ngôn thứ hai với các câu 11- 14? Với mục đích nào Mt đã chèn các câu ấy vào đây?

5. Phải chăng câu 14 muốn nói rằng phần lớn nhân loại sẽ bị án phạt?

6. Lấy tính cách có vẻ thực và các chủ (đề Cựu ước làm tiêu chuẩn nhận định, hãy phân biệt trong dụ ngôn này đâu là những nét có tính cách dụ ngôn và đâu là những nét có đặc tính ẩn dụ?

1.Ta thấy ngay dụ ngôn này có bà con với dụ ngôn trước. Vì bên kia là một chủ nhà có thửa vườn nho, bên này là một ông vua khoản đãi bữa tiệc. Gia chủ hai lần đã sai tôi tớ đi thâu hoạch hoa màu thuộc về ông, nhà vua cũng sai gia nhân hai lần đi mời khách dự tiệc đến. Trong cả hai trường hợp, các gia nhân không đạm được mục đích, lý do là vì lòng độc ác của những người mà họ được phái đến. Trong cả hai câu chuyện đâu có nói tới "người con". Trường hợp đầu, đó là kẻ sau cùng được sai đến; trường hợp sau, đó là kẻ mà người ta chuẩn bị tiệc cưới cho; và trong cả hai, các gia nhân đều chịu ngược đãi và cuối cùng bị sát hại. Các điểm tương đồng đó giữa hai câu chuyện đã lôi kéo sự chú ý của chúng ta vào một đường hướng rõ rệt có chủ ý của tác giả Tin Mừng. Chủ vườn nho và ông vua cùng một nhân vật: Cha trên trời; người con thì rõ ràng là Đấng đã tự xưng mình là "Con" (11, 27); các gia nhân trong hai trường lợp làm ta nghĩ tới những kẻ được Thiên Chúa sai đi, nghĩa là các ngôn sứ; còn những kẻ được mời là dân bất trung đã quản lý không tốt vườn nho.

Nhưng cách sắp đặt câu chuyện hàm chứa điều khác trong dụ ngôn các tá điền, đó là vấn đề một yêu sách công bằng thuần túy, còn ở đây là một lời mời, một vinh dự ban cho kẻ nào đó. Trên kia, người chủ kỹ lưỡng đòi phần hoa lợi của mình, còn ở đây thì ông vua đại lượng và hào phóng muốn cho con thật nhiều người chia sẻ niềm vui tiệc cưới của con ông. Màu sắc quả tươi sáng hơn trong dụ ngôn mới. Thái độ lãnh đạm - nếu không muốn dùng một từ ngữ mạnh hơn - do đó đắc tội hơn nhiều. Vì không còn phải là vấn đề vi phạm một quyền lợi nửa, nhưng là một sự xúc phạm danh dự nặng nề Người ta thích các công việc đồng áng hay bán buôn thường ngày hơn một lời mời dự bữa tiệc thịnh soạn. Nhưng thái độ thờ ơ lãnh đạm ấy đã biến sang thái độ đối nghịch hận thù mà không rõ tại sao. Phải chăng vì các kẻ được mời cho rằng mình bị gia nhân sách nhiễu nên đã ngược đãi và giết chết họ? Và người ta co thể lự đặt cho mình cái câu hỏi mà Chúa Giêsu vừa nêu lên nước đó cho các kẻ chống đối Người: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ xử với những tá điền ấy ra sao? (21, 40). Câu trả lời không còn đựơc đưa ra như một sự đe dọa bằng lời nói nửa, nhưng là một hành động trừng phạt. Có sự đi lên từ dụ ngôn này qua dụ ngôn kia vậy.

2.Ông vua phản ứng bằng một cuộc xuất chinh tàn phá. Ông huy động binh lính và sai họ đi. Họ có sứ mạng tru diệt lũ sát nhân và thiêu hủy thành của chúng. Một độc giả chăm chú sẽ khó chấp nhận sự gia trọng đột ngột tình thế này. Hình như các người được mời đều thuộc thành phố nơi đang xảy ra bữa tiệc. Vậy thì phải chăng tất cả thành sẽ bị tiêu diệt cùng với mọi kẻ vô tội đang ở bên trong, trong lúc thật ra chỉ có lũ sát nhân mới đáng bị sự báo thù cay nghiệt ấy? Phải chăng những kẻ sát nhân không chỉ là dăm ba người trong số các khách được mời? Phải chăng nhưng kẻ chỉ cho biết rằng họ không quan tâm đến lời mời mà chỉ thích làm công việc riêng, cũng phải chịu một hình phạt như mấy kẻ sát nhân kia? Những câu hỏi vừa nêu cho thấy rằng có một sự gián đoạn bên trong câu chuyện ở câu 7. Hẳn là có một cái gì khác hơn cái mà dụ ngôn nói tới ban đầu. Vì nếu người ta tiếp tục câu chuyện một cách hợp lý, thì phải nhảy sang ngay việc mời những người khác, những tân thực khách. Thành thử cuộc xuất binh chinh phạt xuất hiện như một vật thể xa lạ trong câu chuyện.

Hình như ở đây thánh sử liên tường đến việc tiêu diệt thành Giêrusalem vốn đang xảy ra lúc ông soạn thảo bản văn. Chỉ có điều ấy mới có thể giải thích được tầm mức quan trọng của cuộc xuất binh chinh phạt và sự tiêu diệt toàn thành. Vào năm 70 sau Chúa Kitô, Giêrusalem bị đốt cháy cùng bị san bằng tận gốc. Và các kẻ sát nhân không phải chỉ là một vài người như bản văn đòi hỏi để có thể chấp nhận được, nhưng là tất cả mọi tá điền đã giết chết người con sau khi đã cùng nhau bàn tính (21, 38-39). Rõ ràng là một trình thuật do truyền thống truyền đạt đã được tác giả giải thích ở đây, một lối giải thích rút từ một biến cố thời sự. Mt nghĩ rằng phải giải thích lời Chúa Giêsu như thế và ông hoàn toàn ý thức việc ông làm. Cái ông cho chúng ta, không phải chỉ là chứng từ trung thực về những lời nói của Chúa Giêsu đã được chuyển cho ông, nhưng còn là cách giải thích các lời đó cho mọi phần tử trong các cộng đoàn đầu tiên của Giáo Hội. Hai khía cạnh ấy có liên quan mật thiết với nhau. Vì chỉ có lời được hiểu và được giải thích do Giáo Hội xuất phát từ các sứ đồ mới có thể xem như là Lời Chúa đối với chúng ta, lời được Thánh Thần linh ứng và liên hệ đến chúng ta tất cả.

Thành thử đối với Mt, việc Giêrusalem bị phá hủy điêu tàn là một hình phạt Thiên Chúa giáng xuống trên tội Israel cứng lòng và giết chết Đấng Messia. Như ta đã biết, có nhiều cách giải thích các biến cố cửa lịch sử. Các ngôn sứ đã giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin và các tác giả Kinh Thánh đã làm công việc của sử gia chính theo viễn tượng ấy, trong Cựu ước cũng như trong Tân ước. Trong Cựu ước, người ta gặp nhiều lối giải thích khác nhau về cùng một biến cố, tùy theo khả năng hiểu biết, quan niệm và bố cảnh lịch sử của soạn giả. Trong Tân ước cũng vậy, vì chân lý của lịch sử luôn luôn lớn hơn và đầy đủ hơn các cố gắng khác nhau để tường thuật lịch sử trong toàn bộ của nó. Thành thử ta có thể giải thích sự phá hủy thành Giêrusalem như là một hình phạt, nhưng đừng quên rằng đó chỉ là một trong số nhiều cách giải thích.

3. Các gia nhân có nhiệm vụ kêu mời những người khác mà không được chọn lựa. Họ được lệnh đem bào phòng tiệc những ai họ bắt gặp trên đường. Việc này đã thực hiện và phòng tiệc không mấy chốc tràn ngập đủ mọi hạng khách ăn cưới. Các người mới được mời thật! hỗn tạp, nhưng sự hỗn tạp này chẳng phải do khác biệt về y phục, về địa vị xã hội hay do các yếu tố ngoại lai. Đó là một sự khác biệt nội tại, chủ yếu, những kẻ dữ và người lành (c. 10). Và đấy là điểm kỳ dị! Sự việc chỉ có thể hiểu được từ thực thi mà tác giả của câu chuyện nghĩ đến. Lời mời đã được gởi tới cho Israel, nhưng dân này đã không muốn đón nhận, nên bây giờ nó được ngỏ cho một dân mới, không còn là một dân gồm những kẻ trong sạch và thánh thiện nửa, nhưng là một xã hội rất đa tạp gồm người dữ và người lành. Ta gặp họ, cả hai thứ trong Giáo Hội, như cỏ lùng giữa lúa. Phòng tiệc đã đầy, lời mời đã đạt được điều nó mong đợi. Tất cả mọi người đều có thể vào cách tự do. Nhưng rồi sẽ có sự phân biệt cuối cùng. Nói theo ngôn ngữ của dụ ngôn, thì lời mời tự nó không bảo rằng người ta sẽ tham dự thật sự vào hôn lễ. trước tiên cần phải phán xét, phải phân tách cỏ lùng ra khỏi lúa đã. Đó chính là mục tiêu thắm tới trong phần thứ hai của dụ ngôn.

Người ta thắc mắc tự hỏi làm thế nào mà một người bắt gặp giữa đường lại có thể có áo cưới được. Như thế chẳng phải là bất công lắm sao? Cái phía gây khó chịu mà ta gặp trong câu chuyện này cho thấy rõ đây muốn nói đến một cái gì khác hơn là y phục cụ thể. Chúng ta được chuẩn bị để giải thích như thế vì tác giả dụ ngôn đã ghi chú trước là trong phòng có người dữ kẻ lành. Hiển nhiên là kẻ không mặc áo cưới thuộc vào hạng người dữ. Chỉ có điểm này mới giải thích được cách đối xử mà y sắp chịu. Người ta không chỉ đuổi y ra ngoài mà còn nắm vào nơi tối tăm, chỗ khóc lóc và nghiến răng. Y bị lên án trầm luân vậy.

Vì cỏ lùng mọc bên cạnh lúa tốt trong Hội Thánh, nên có sự lựa chọn ngay trong hàng ngũ các kẻ tin. Họ đã được mời nghĩa là đã nghe tiếng gọi ngỏ với họ, nhưng không phải vì thế mà họ đương nhiên được vĩnh viễn cứu thoát. Số người được gọi rất đông, có nghĩa là người ta để cho nhiều kẻ đi vào mà không phân biệt một ai, không đặt một điều kiện nào cả. Họ chẳng cần giữ luật Môisen, chẳng cần phải cắt bì, vì lối vào:được mở rộng thênh thang. Nhưng việc tự do gia nhập này không làm nên một bảo đảm, vào trong cộng đoàn Giáo Hội chẳng có nghĩa là vào trong Nước Trời của thời thế mạt đâu. Phải phân biệt niềm trông cậy đầy tin tưởng và phó thác với tình tự phụ vô lý rằng mình sẽ nắm chắc phần rỗi. Hình như đó là sứ điệp thần học hàm chứa trong phần thứ hai này của dụ ngôn. Nó có giá trị cho mọi thời.

4. Câu kết của dụ ngôn đặt ra một vấn đề giải thích đặc biệt. Trong nhiều thế kỷ, phần lớn giáo phụ và thần học gia, dựa vào bản văn này, đã nói về số ít người được chọn như là một điều được chấp nhận cách chung chung. Nhưng dần dần, họ đã cảm thấy là cách giải thích đó khó phù hợp với cái tín điều luôn được công bố trong Thánh Kinh, là Thiên Chúa yêu thương con người với một lòng thương lạ lùng vô hạn (Ep 2, 4). Đàng khác, những tiến bộ của khoa chú giải đã cho thấy rằng rất nhiều khi, trong quá khứ, người ta đã dùng các bản văn Kinh Thánh mà không để ý cho đủ đến văn mạch, khiến đôi lúc phạm ít nhiều phản ngựa. Vì vậy người ta đã tìm cách đưa ra nhiều lối giải thích thỏa đáng hơn về câu kết luận nói trên.

Ngày nay người ta có thể thu gọn các lối giải thích được chấp nhận vào hai lối chính. Một cho rằng các "kẻ được chọn" của dụ ngôn là những người thụ hưởng một ơn đặc biệt giúp họ sống một cách thân tình với Chúa hơn những người khác và được nương dựa vào lòng thương xót dư đầy của Người đối với họ. Các kẻ được "chọn" như thế tất nhiên là số ít, trong lúc đại đa số các người "được gọi" chỉ nhận được một ơn chung mà thôi, nhưng không phải vì thế mà bị loại ra khỏi bàn tiệc Nước Trời.

Cách giải thích thứ hai, ngày nay phổ thông hơn, là cách giải thích giới hạn câu xác quyết của Chúa Giêsu vào trường hợp duy nhất của người Do thái thời Người. Trong câu nói ấy, cách giải thích bảo Chúa Giêsu chỉ nhắm các người Do thái đương thời, được gọi tất cả vào Nước Thiên Chúa biểu hiện trong bản thân Người, nhưng đại đa số đã chẳng chịu vào qua việc từ khước Đấng Messia.

Hai cách giải thích này không phải là vô giá trị, nhưng khó phù hợp với dụ ngôn. Cách thứ nhất giả thiết rằng thực khách bất xứng bị đuổi ra ngoài vì đã muốn gian lận nhập vào nhóm nhỏ người được ưu đãi; nhưng dụ ngôn quả quyết rõ ràng anh ta bị đuổi vì thiếu điều tối thiểu cần phải có để cho bữa tiệc được trang nghiêm chỉnh tề. Cách thứ hai lại càng khó thỏa mãn hơn. Thật vậy, thực khách bị đuổi đã vào với nhóm người đựoc mời thứ hai, thành ra đó là một người ngoại chứ không phải là một người Do thái; thế nhưng chính vào lúc anh ta bị đuổi mà Chúa Giêsu mới thốt lên câu nói về số ít người được tuyển chọn. Đàng khác, dấu hiểu theo mặt chữ thì câu nói hình như bị các sự kiện làm cho mâu thuẫn, vì trong số đông thực khách, chỉ có một mình thực khách bất xưng bị đuổi ra ngoài, thì làm sao mà có thể nói đến số " ít" được tuyển chọn được?

Có một giải đáp đơn giản hơn xóa tan ngay lui khó khăn vừa nói. Nó thuộc lãnh vực ngữ học -và hệ tại chỗ giả thiết có một tỷ giảo cấp (comparatif) kiểu sêmita được dấu ẩn dưới công thức "gọi nhiều chọn ít "khiến cho ta được phép dịch là: Số người được mời gọi thì đông hơn, còn số được chọn lại ít hơn".

Một nhận xét sơ đẳng về văn phạm hy bá cho thấy rằng hy bá không có những hình thức đặc biệt cho các tĩnh từ ở tỷ giảo cấp (comparatif) hoặc tối thượng cấp (superlatit), nên người ta phải nại đến những uyển từ (périphrase). Vì thế, trong tiếng Hy lạp của Tân ước các tĩnh từ (nguyên cấp (positif) đôi khi cũng có một nghĩa rõ rệt tỷ giảo cấp hay tối thượng cấp và chỉ có văn mạch mới giúp khám phá ý nghĩa hiểu ngầm ấy. Một ví dụ: tốt (kalon) cho nó nếu nó đã không sinh ra phải hiểu là: "Thà con người đó đã không sinh ra thì tốt hơn". Những thí dụ về hiện trạng này ta rít năng gặp: Mc 5,42; Mt 22, 36; Lc 10, 42; Lc 1, 42; Lc 18, 14...

Thành thử thật là chính đáng và tự nhiên khi hỏi phải chăng có một tỷ giảo cấp nào đó ẩn dấu dưới hai tĩnh từ "nhiều" và " ít" trong câu văn. Nếu có thì châm ngôn sẽ như thế nào. "Kẻ được gọi thì đông hơn, kẻ được chọn thì ít hơn". Thế mà công thức này hoàn toàn phù hợp với văn mạch của dụ ngôn chúng ta. Thật vậy, dụ ngôn cho thấy các người được gọi có rất nhiều, vài kẻ lại từ chối và một người đã bị loại ra. Được gọi thì nhiều dĩ nhiên, nhưng người được chọn thì ít hơn kẻ được gọi; và vì thế cần phải lo làm sao cho có đủ những điều kiện cần thiết để ơn gọi của chúng ta đạt đến sự tuyển chọn cuối cùng.

Để chứng thực cho lối giải thích này, ta cần phải ghi nhận là đoạn văn của Mt được hiểu trong ý nghĩa vừa gợi hoàn toàn hòa vận với một sấm ngôn căn bản khác của Tin Mừng, sấm ngôn duy nhất trong đó Chúa Giêsu đã minh nhiên trả lời cho vấn đề số người được chọn. Đó là bản văn quen thuộc của Lc 13, 22-24: người rảo khắp các thành các làng mà giảng dạy và tiếp tục hành trình đi Giêrusalem. Có kẻ nói với Người: " Thưa Ngài, ít người được cứu thôi phải không?". Người bảo họ: "Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì Ta bảo các ngươi, có lắm kẻ sục tìm cách vào, nhưng không được". Nếu thực sự Chúa Giêsu đã muốn để lại cho các sứ đồ, về vấn đề này, một giáo huấn chính xác, thì chắc chắn Người đã lợi dụng cơ hội đó để giải thích mà không cần phải nói quanh. Thế mà thay vì cho ta biết về số người được chọn, người lại khuyến giục ta hãy luôn cố gắng để qua cửa hẹp. Chớ gì câu trả lời này cho chúng ta. Những điều khác thuộc về Thiên Chúa!

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Về nước Trời cũng giống như vua kia". Nước Trời không giống như một ông vua; nhưng trong Nước Trời được Chúa Kitô khai mào, sẽ xảy ra điều mà dụ ngôn sắp kể lại (x. 13, 24; 18, 23; 25, 1). Cựu ước và Do thái giáo năng chỉ Thiên Chúa dưới những nét của một vì vua (Tl 8, 23; 1 Sm 8, 7; Xh 19, 6; Tv 11, 4; 47, 3; 93, 1- 2; 95, 3- 5; 103, 19; Gr 10, 7...).

"Làm tiệc cưới cho hoàng tử ". Hình ảnh bữa tiệc thiên sai chắc chắn được vay mượn từ Cựu ước (Is 25, 6; 55, 1 -3). Nó diễn tả tính cách nhưng không của ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho dân Ngài và được tiên trông qua bữa ăn của Môisen với 70 kỳ lão, trước sự hiện diện của Đấng Vmh cửu trên núi Sinai, sau hy tế đền tội (Xh 24, 11 ). Sách Khải huyền cũng trình bày ngày quang lâm của Nước Thiên Chúa như là việc cử hành lễ cưới của Con Chiên (Kh 19).

"Nhưng họ không muốn đến": Sự từ chối được diễn tả một cách rành rẽ qua động từ muốn động từ rất được Mt ưa thích (x. 11, 14; 16, 24; 18, 30; 19, 17; 23, 27b). Việc đáp lại lời mời không phải là chuyện khuynh hướng bẩm sinh hay chuyện tình cảm, nhưng là chuyện quyết định tự ý hoàn toàn. Xa hơn chút nữa (c. 5), Mt cho thấy các thực khách không nhèm đếm xỉa, đến lời mời không quan tâm rằng đó chính là thái độ hờ hững đáng tội, là sự thờ ơ hiểu theo nghĩa mạnh nhất.

"Khách mời đã không đáng dự ". Sự bất xứng của các kẻ được mời không do tự nhưng khiếm khuyết hay vô tri tự nhiên, vì sau đó đủ mọi hạng người sẽ được triệu mời, lành cũng như dữ " (c. 10); họ bất xứng vì đã từ chối.

"Vậy các người hãy ra các ngã đường, hễ gặp ai thì mời vào tiệc cưới, Kiểu nói vậy hãy đi" (poreuesthe oun) nhắc cho ta nhớ những tiếng mà Chúa Giêsu sẽ dùng để sai các môn đồ đến với dân ngoại: vậy các ngươi hãy đi thâu nạp các môn đồ khắp muôn dân " (28, 19). Ơn cứu độ nhưng không của Chúa Kitô, dù bị người Do thái khinh chê, vẫn được cống hiến cho bất cứ ai nghe lời mời gọi của các kẻ phục vụ Tin Mừng trong khắp nẻo đường thế giới: "Nhiều kẻ sẽ từ phương Đông, phương Tây mà đến và được dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước Trời " (8, 11). Sự cứng lòng và từ chối của Israel chỉ khai mào thời gian của Giáo Hội, thời gian mà một khi Tin Mừng được rao giảng cho mọi dân tộc (24, 14), phòng tiệc sẽ tràn ngập đủ hạng người. Thành t!lử việc sai các gia nhân lần thứ ba tương ứng với việc sai các sứ đồ đến với dân ngoại sau khi Chúa Giêsu phục sinh. Ở đây, chúng ta gặp lại chiều hướng phổ quát và truyền giáo rất được Mt chú trọng (2, 1- 2; 3, 9; 8, 5-10; 8, 28- 34; 15, 21- 28; 13, 47; 21, 43...).

"Bất luận dữ hay lành". Chi tiết này làm ta liên tưởng tới dụ ngôn lưới cá (13, 47- 50); "kẻ dữ " đây là những người có tội được mời cách nhưng không, sẽ cải thiện đời sống một khi đã vào trong Nước Trời hay Giáo Hội, hoặc là các kẻ dữ theo nghĩa tuyệt đối mà một ngày kia sẽ bị loại ra khỏi Nước Trời (hay khỏi Giáo Hội). Các câu 11- 14 tiếp theo sau xét đến hạng kẻ dữ này.

"Nhà vua đi vào coi khách dự tiệc". Đây là cuộc phán xét sau cùng; hãy so sánh với các dụ ngôn của ch. 13 (vd: cỏ lùng, lưới cá) và của ch. 25 (mười trinh nữ nén vàng, chiên và dê): trong các dụ ngôn ấy nói tới sự lựa chọn, phân tách kẻ dữ người lành. Những câu này, của riêng Mt, chắc chắn là để sửa lại một lối giải thích tự do quá trớn về các câu 1-10. Dĩ nhiên, việc gia nhập vào Giáo Hội là nhưng không thật đấy, song chớ quên rằng đó là Giáo Hội của Vua. Thiên Chúa "khám xét": Dân mới của Ngài kỹ lưỡng vô cùng vì ân sủng Ngài luôn luôn đòi hỏi.

"Sao bạn vào đây mà không mặc y phục lễ cưới? ": Y phục lễ cưới này là cái gì vậy? Đó chỉ có thể là thực tại và được biểu hiệu trong dụ ngôn thợ vườn nho qua hình ảnh hoa quả Nước Trời. Đó là sự công chính luôn được Tin Mừng Mt đòi hỏi nơi tín hữu, sự công chính hay là sự trung thành mới mà các chương 5-7 đã cho một vài ví dụ (5, 20; 6, 33...). Để đi vào Nước Trời, cần phải mặc áo cứu độ" (Is 61, 10), "mặc lấy Chúa Kitô " (Ep 4, 24; Gl 3, 27). Vì thế, chỉ những ai đã "giặt áo mình trong máu Con Chiên" (Kh 7, 9-17) mới có thể đứng vững trước ngai Con Chiên trong ngày lễ cưới (x. Kh 19, 6- 8).

"Người ấy câm miệng": Người Do thái quan niệm rằng các việc lành phúc đức sẽ bầu cử cho họ trước mặt Thiên Chúa. "Ai thực thi huấn lệnh thì người ấy sắm cho mình một kẻ chuyển cầu" (Châm ngôn tiên tổ 4, 13). Một ý tường tương tự cũng được tìm thấy trong Cv 10, 4. Người khách đã không thực thi việc phúc đức thành ra câm miệng lại: chẳng một ai chuyển cầu biện hộ cho y.

KẾT LUẬN

Dân Do thái, kẻ thừa hưởng lời hứa của Thiên Chúa, là những người đầu tiên được đón nghe Tin Mừng, do từ chính Chúa Giêsu (Người chỉ giảng dạy cho họ) cũng như do các sứ đồ (các vị luôn luôn bắt đầu từ nơi họ, ngay cả Phaolô, trong các thành ngài rao giảng), nhưng họ đã không sẵn sàng tiếp đón. Tuy nhiên, sự cứng lòng của họ, dầu bí nhiệm đến đâu (Ga12, 37- 43), cũng không thể làm cho ý định quan phòng của Thiên Chúa thất bại. Các dân ngoại, được rao giảng Tin Mừng muộn hơn, sẽ dần dà đi vào trong Giáo Hội của Chúa Kitô. Và chính thánh Phaolô (Rm 11, 26) có hé mở cho thấy trong tương lai, Israel sẽ trở lại với Người cách ồ ạt, khiến sau cùng Do thái và dân ngoại, hiệp nhất trong một Giáo Hội, có thể cùng nhau tạo thành Israel của Thiên Chúa. trong lúc chờ đợi, mỗi người phải cố gắng mặc lấy Chúa Kitô bằng cách thực thi việc làm.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Bàn tiệc cưới của Giáo Hội là bàn tiệc Thánh Thể, được Chúa Ki-tô khai mạc với các sứ đồ trong bữa tiệc ly (Mt 26, 26- 29) và luôn được tái diễn từ ngày Hiện Xuống trong Giáo Hội sơ khai (Cv 2, 42) cũng như trong các cộng đoàn Kitô hữu mới (1Cr 11, 23- 29). Để xứng đáng tham dự bàn tiệc Thánh Thể này, phải mặc áo cưới, nghĩa là sống một đời phù hợp với Tin Mừng của Chúa Kitô. Và từ bàn tiệc Thánh Thể này đến bàn tiệc Thánh Thể khác, chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô và đủ điều kiện để một ngày kia tham dự vào bàn tiệc thiên quốc trong tình thân mật với Thiên Chúa, nơi đó Thiên Chúa sẽ là tất cả niềm vui của chúng ta.

2.Khi lãnh nhận phép Thánh tẩy, chúng ta đã được mặc một chiếc áo trắng và linh mục đã chúc chúng ta gìn giữ nó tinh tuyền cho đến ngày phán xét trước tòa án của Chúa Kitô. Nếu chúng ta đã làm bẩn chiếc áo rửa tội này, chúng ta luôn có thể trình diện nơi tòa án của lòng thương xót là Bí tích Giải tội. Ở đó Chúa Kitô, qua lời Bí tích của vị đại diện Người, sẽ tẩy sạch áo cưới của chúng ta và lại kêu mời chúng ta dự tiệc cưới của Vua, trong niềm vui của tình thân được tái lập. Đừng có làm như những người được mời đầu tiên của dụ ngôn mà từ chối hồng ân lớn như thế.

3.Thiên Chúa luôn kêu mời chúng ta vào trong tình thân mật của Ngài, mời ta hưởng niềm vui được phục vụ Ngài (phục vụ là thống trị vì Chúa). Người ta có thể phản đối lời mời ấy bằng một thái độ thù nghịch công khai, điều này rất may là họa hiếm. Thường thường người ta phản đối bằng thái độ lãnh đạm tôn giáo, được che dấu dưới nhiều cớ dễ dãi: không có thì giờ, nhiều việc khác cấp bách hơn..v.v... Như những kẻ đầu tiên được mời của dụ ngôn, ta không thèm đếm xỉa đến lời mời đã nhận được. Trong phương diện này, trách nhiệm Kitô hữu nặng nề hơn trách nhiệm của người ngoại, vì Kitô hữu biết rằng mình được mời đự tiệc, trong khi lương dân chỉ có thể trực giác cách mơ hồ thôi, trong đáy sâu thẳm của lòng họ.

4. Chúa nói dụ ngôn cho chúng ta, là Người đang sống trong Giáo Hội. Người cảnh giác chúng ta: đừng tưởng rằng các ngươi đã đến đích, đã an vị; giữa các ngươi có đủ loại, kẻ dữ người lành, cỏ lùng lúa tốt. Các gia nhân của Ta dã quy tụ các ngươi, họ đã lấy tất cả những gì họ gặt: tốt cũng như xấu. Chẳng phải vì các ngươi ở trong mà các ngươi được xét đoán kẻ ở ngoài, những kẻ đã từ chối không chịu đến. Vì có một cách khác làm sỉ nhục cho Đấng mời gọi chúng ta là định cư trong nhà Người như thể trong nhà của chúng ta, quên rằng Người đã mời gọi chúng ta, quên rằng chúng ta ở trong Giáo Hội là nhờ ân sủng thuần túy, quên rằng chỉ c.ó cách sống đạo của chúng ta mời định đoạt về số phận được tuyển chọn cuối cùng.

5. Mặc lấy Chúa Kitô là mặc lấy các tâm tình: lân tuất, nhân hậu, khiêm nhu, nhẫn nại, hiền từ (Cl 3, 9- 13), là tha thứ như Người đã tha thứ cho ta, là yêu mến như Người đã mến yêu ta, là trở nên một Kitô khác, là được biến đổi trong Người, là chân thật trong các cuộc giao tiếp với anh em, là đừng để cho cơn giận có thời giờ ra chai cứng lại thành hiểu lầm nhau, là nỗ lực làm việc để có thể chia sẻ cho những người túng thiếu.

6. Thiên Chúa mời chúng ta dự tiệc của Ngài không những là qua tiếng nói của Giáo Hội hay các linh mục, nhưng còn qua bất cứ một người vô danh nào mà chúng ta biết lắng nghe, qua một biến cố lay động cuộc sống, qua một thử thách mà chúng ta trải vượt, qua một niềm vui mà chúng ta thường thức. Trong mức độ mà các con người và các biến cố ấy kêu gọi chúng ta, thúc bách chúng ta phản ứng, buộc chúng ta chọn lựa sống đạo, vì đó chính là các gia nhân đến nài xin tự do của ta, đến thông ban cho ta một Tin Mừng: "Tiệc cưới đã sẵn".


 

Noel Quession - Chú Giải

Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình...


Tin Mừng không bao giờ cho chúng ta những định nghĩa to tát trừu tượng về Thiên Chúa, về thiên đàng, về Giáo hội. Không? Tin Mừng đúng ra là một là một cuốn sách cao cả bằng nhiều hình ảnh. Khi nhìn sự thành công về mặt truyền hình của các đám với hoàng gia thì hình ảnh mà Đức Giêsu sử dụng trong thời đại ấy xem ra còn mới... dù hình ảnh ấy có tính chất Phương Đông rõ nét.

Như thế, Đức Giêsu trình bày với chúng ta một Thiên Chúa làm đám cưới cho con trai mình: đây là câu chuyện đẹp nhất trần gian, câu chuyện tình yêu đẹp nhất! Rõ ràng là câu chuyện liên quan đến Người. Đức Giêsu là người yêu. Người đã cưới một hôn thê mà Người yêu say đắm: hôn thê đó là nhân loại. Hình ảnh hôn lễ này như "một sợi chỉ vàng" xuyến suốt toàn bộ Kinh Thánh: Hôsê 1 đến 3; I-sai-a 54,4-8 - 61,10 - 62,4-5; Giê-rê-mi-a 2,2 - 31,3; ê-đê-ki-en 16; Thánh vịnh 45,7-8,Diễm Ca, toàn bộ; Mác-cô 2, 19; Gioan 3;29; Mát-thêu 2 5, 1 -1 3 - 9, 1 5; Ê-phê-sô 5,25; 2 Cô-rin-tô 19,29 - 21,2-9' - 22,17; Khải Huyền 20,9 - 21,2-9 v.v...). Vâng, từ đầu này đến đầu kia của mạc khải, những quan hệ của Thiên Chúa với nhân loại là một "Giao ước" một "Lễ cưới". Điều đó sẽ thay đổi gì cho tôn giáo của tôi nếu như thay vì chỉ quan niệm tôn giáo ấy như những chân lý phải tin và những quy tắc về đạo đức phải tuân thủ, tôi đi đến chỗ quan niệm tôn giáo của tôi thật sự là "một câu chuyện tình yêu?

Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc cưới...

Thiên Chúa mơ đến một bữa tiệc hoàn vũ cho nhân loại một bữa tiệc thật sự "vương giả"... một lễ hội! Bạn hãy thử hỏi bất cứ đứa trẻ nào để biết những trường hợp làm chúng rất sung sướng. "Đó là khi có nhiều khách mời đến nhà? ". Bữa ăn ngày lễ hội hoàn toàn là một biể u tượng của niềm vui được chia sẻ. Và ngày hôm nay vẫn thế, bữa tiệc cưới thường quy tụ nhiều khách khứa vui vẻ nhất: Món ăn chọn lọc, rượu ngon, tiếng nhạc lời ca, y phục lễ hội, khiêu vũ... Đến ngày lễ hội, bàn ăn đã sẵn sàng, Thiên Chúa cũng quy tụ các khách mời của Người. Nhưng khách được mời sắp làm gì?

Nhưng họ không chịu đến.

Ông vua tội nghiệp và thất vọng biết bao! Có gì mà chán nản.

Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi và dặn họ: "Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rãi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!".

Như trong dụ ngôn "những tá điền sát nhân", nhưng sự từ chối của nhân loại dường như không làm Thiên Chúa ngạc nhiên. Không chán nản, Người sai những đầy tớ khác đi để một lần nữa mời họ. Đây không phải là một câu chuyện cũ trong quá khứ. Hiện nay vẫn luôn luôn có những lời mời gọi. Trước tiên đây không phải là lời mời gọi của những người khác. Thiên Chúa đã gợi cho tôi một "thẻ" vào cửa. Tôi có nhận thức tôi đang được chờ đợi và có một chỗ đành cho tôi ở bàn ăn không? Thật vậy, tôi phải dùng thời gian để mỗi buổi tối tự hỏi về những lời mời gọi mà Thiên Chúa đã không ngừng gọi đến tôi suốt một ngày. Và mỗi Chúa nhật, hãy dùng thời gian để tự hỏi tôi đã bỏ lỡ những lời mời gọi nào của Thiên Chúa trong tuần.

Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì thăm trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết.

Nhu trong "mùa hái nho đẫm máu" của Chúa nhật vừa qua chúng ta như chìm ngập vào bi kịch. Tiệc cưới đẫm máu cũng là biểu tượng cho sự khước từ Thiên Chúa. Chúng ta chớ quên rằng Đức Giêsu kể lại câu chuyện này, có lẽ một ít ngày trước cuộc khổ nạn của Người... trong tuần lễ cuối cùng của Người. Cái chết của Người đã được các thủ lãnh ở Giêrusalem quyết định trong bóng tối. Nhưng, chúng ta biết rõ không chỉ liên quan đến những người đồng thời của Đức Giêsu. Chính tôi... chính thế giới hiện nay...đang từ chối lời mời của Thiên Chúa. Sự mô tả tâm trạng sâu kín của những khách được mời ấy có tính thời sự nóng bỏng. Đức Giêsu mô tả hai hạng người: 1. những người "thờ ơ" với một sự lãnh đạm hầu như tự nhiên không có vẻ gì quan tâm đến việc mình được mời, và một cách rất đơn giản họ để cho công việc của họ cuốn họ đi... 2. và đến những người."phản bác" họ từ chối lời mời một cách có ý thức và tham gia dùng bạo lực giết hại các đầy tớ.

Như thế Đức Giêsu mô tả cho chúng ta tình trạng của thế giới hiện đại một cách chính xác. Chỉ cần đưa ra một vài ví dụ xác đáng của ngày hôm nay dưới những từ ngữ của ngày xưa... "Làm thế nào mà các ông muốn tôi đi lễ? Tôi chỉ có một ngày Chúa nhật để chơi bóng đá và quần vợt. Đó là ngày mà tôi sẽ di du lịch. Đó lâu ngày mà tôi sửa chữa máy móc trong nhà. Tôi đã nhảy đầm cả buổi tối thứ bảy, làm thế nào mà các ông muốn tôi đi lễ ngày Chúa nhật... Và rồi, tôi còn có bài tập phải làm và các kỳ thi phải ôn thi...". Thế đấy chúng ta đều bị xã hội tiêu thụ và chủ nghĩa duy vật ở xung quanh khống chế. Và chúng ta đều có nguy cơ cho Thiên Chúa đứng ở chỗ cuối. Biết bao âm thanh khác lấp mất những 'lời' kêu gọi của Người. "Hãy đến dự tiệc cưới của Ta?". Và chúng ta không hề nghe thấy!

Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng.

Lịch sử phương Đông cổ đại cung cấp cho chúng ta những giai thoại thuộc loại này. Nhưng một lần nữa, chúng ta biết mình đang ở trong thể loại dụ ngôn. Không nên tìm kiếm ý nghĩa chính xác cho mỗi chi tiết. Tuy nhiên, thành phố bị thiêu hủy làm chúng ta nghĩ đến một biến cố lịch sử chính xác đã lầm tổn thương những người Do Thái và những Kitô hữu của thế kỷ đầu tiên và đó là cơ hội để Hội Đường và Hội Thánh đoạn tuyệt nhau (Do Thái giáo và Kitô giáo tách rời nhau). Khi Mát-thêu viết câu chuyện này thì trong thực tế những đạo quân của Titus đã tàn phá thành Giêrusalem vào năm 70. Một số phận như thế đã có thể xảy đến cho thủ đô nổi tiếng của dân tộc ít-ra-en như thế nào? Những biến cố lịch sử có thể được giải thích theo nhiễu cách. Tuy nhiên, các ngôn sứ đã giải thích sự tàn phá của các thành phố lớn như một hình phạt của Thiên Chúa" (I-sai-a 5,26-29; Giê-rê-mi-a 5,15-17).

Rồi nhà vua bảo đầy tớ: "Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới". Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

Vậy đây là những khách mời mà người ta không chờ đợi và chính họ chấp nhận lời mời. Những người Do Thái, những người khách mới đầu tiền, vì thế sẽ nhường chỗ cho dân ngoại.
Nhưng một lần nữa, chúng ta phải cảnh giác với sự tự mãn về chủng tộc. Bởi vì đây cũng là vấn đề của chính chúng ta. Một cách chân thật, chúng ta có thể đáp "vâng" với những lời mời gọi mà Thiên Chúa lặp lại trong đời sống hàng ngày của chúng ta hay không?

Đức Giêsu đã báo trước cho chúng ta: Căn phòng tiệc cưới sẽ đầy cho dù các "ông lớn" không thèm đáp lại. Người sẽ làm đầy phòng tiệc với những người rách rưới, bị loại trừ, những người đầu đường xó chợ. Thánh Luca trong bài dụ ngôn song song xác định rõ thành phần: "Các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt" sẽ thế chỗ cho những người được mời đầu tiên (Luca 14,21). Và Mát-thêu, trong một đoạn văn khác cũng đã nói với chúng ta điều dó: Những người thu thuế và những cô gái.điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông"

Vậy các người đi ra các ngã động gặp ai cũng mời, tốt xấu gì cũng mời... ". Chúng ta hãy để cho những lời khác thường ấy tra vấn chúng ta. Chúng ta có được tấm lòng cũng bao la như Thiên Chúa hay không? Chẳng phải chúng ta luôn luôn bị chủ nghĩa ưu tuyển cám dỗ sao? Chẳng phải chúng ta luôn luôn mơ đến một Giáo Hội của những người thanh khiết, những chiến sĩ, những người có đức tin hoàn toàn sáng suốt sao? Chẳng phải chúng ta coi nhẹ những thực hành của "tôn giáo bình dân sao?".

Còn Thiên Chúa, Người mời gọi mọi người, không phân biệt, đủ mọi thành phần. Người lại còn ưu ái đến những người nghèo, những người ở bên lề, những người bị bỏ rơi vì thiếu thốn, những người nghèo khổ.

Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: "Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?". Người ấy câm miệng không nói được gì.

Lòng nhân từ của Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người xấu và tốt, không vì thế mà buông xuôi thành nhu nhược Biểu tượng về y phục thường gặp trong Kinh Thánh. Ơn cứu chuộc không bao giờ tự động có được: phải "đáp ứng" lời mời gọi của Thiên Chúa bằng sự biến đổi chính mình Phải "mặc lấy con người mới" (Ga-'lét 3,27; E-phê-sô 4,24; Cô-lô-xê 3,10).

Bấy giờ nhà vua bảo những người phục dịch: Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng?"

Hình phạt to lớn này và những từ ngữ khuôn sáo (Mát--thêu 8,12 - 13,42 - 24,51 - 25,30) dùng để mô tả sự xét xử ấy làm nổi bật tính chất hoàn toàn tượng trưng của "Y phục lễ cưới", của chiếc áo dài hôn lễ! Đi vào trong phòng tiệc cưới một lần rồi thôi chưa đủ. Tiếp nhận Lời Chúa không phải để sau cùng cất Lời ấy vào chỗ an toàn.

Những người đã thay thế cho những khách mời đầu tiên cũng thế, không Phải là những người có quyền ưu tiên: nếu họ tỏ ra bất xứng với tiệc cưới của Thiên Chúa, họ sẽ bị ném "ra ngoài". Lời cảnh báo ấy rất nghiêm trọng? Nó cáo giác sự an toàn dễ dãi của chúng ta? Người tín hữu được nhắc nhở đến trách nhiệm của mình.

Lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô cùng. Nhưng người ta không thể coi thường sự thánh thiện của Người. Khi chúng ta được linh mục "mời gọi" đến hiệp lễ trong thánh lễ chúng ta nghe Ngài đọc: "Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Thiên Chúa". Và chúng ta chỉ có thể nói tiếng "vâng" nhưng trước hết phải nói rằng: "Lạy Chúa con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con... nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con được lành mạnh".


 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

ĐÁM CƯỚI VĨ ĐẠI NHẤT



Một trong những đám cưới được xem là vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại đó là đam cưới của Alexandre Đại đế với công chúa Roxane của Ba Tư vào thế kỷ thứ tư trước công nguyên.

Khi quyết định cưới một người Á Châu, dĩ nhiên, Alexandre theo tiếng gọi của con tim. Nhưng qua cuộc hôn nhân này, ông muốn biểu tỏ ý muốn thống nhất tất cả lảnh thổ đã được chinh phục từ Đông sang Tây. Ông cũng hy vọng có được một người con nối dõi với hai dòng máu Đông Tây để thống nhất hai phần đất của địa cầu.

Đám cưới được cử hành trong vòng bảy ngày, bảy đêm. Nơi nơi đều có yến tiệc. Và để tăng thêm phần long trọng, Alexandre đã cho tổ chức những cuộc tranh tài thể thao: Thế vận hội đã được khai sinh từ đó. Chính Đại đế là người đích thân trao giải thửơng cho những người thắng cuộc. Thông thường Hoàn đế trao tặng những chiếc cúp bằng vàng. Nhưng người được coi là đoạt nhiều giải nhất trong cuộc thi thế vận hội đầu tiên ấy chỉ nhận được một cành lá chiến thắng. Alexandre Đại đế giải thích như sau: Chỉ có vinh quang mới có thể tưởng hưởng được người xuất sắc nhất.

Thưa anh chị em,

Có một hôn lễ còn vĩ đại gấp bội so với hôn lễ của Alexandre Đại đế với công chúa Roxane: đó là hôn lễ của Trời và Đất, của Thiên Chúa với nhân loại. Đây là hôn lễ mà loài người đã chờ đợi từ khi có mặt trên trái đất. Hôn lễ ấy đã diễn ra qua biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Tất cả nhân loại đều được mời đến dự tiệc cưới vĩ đại này. Trong Tin Mừng hôm nay, Chính Chúa Giêsu đã sánh ví tiệc cưới của một nhà Vua tổ chức cho Hoàng Tử. Chỉ có một đều khác biệt là những khác được mời-những khác quí đầu tiên-đã tỏ ra hết sức khinh thường và hung dữ đối với các sứ giả của Nhà Vua. Họ không những đã từ chối lời mời mà còn nhục mạ và sát hại những người được Nhà Vua phái tới.

Bài học mà Chúa Giêsu muốn truyền đạt cho thính giả thời của Ngài, tức là Dân Israel, một dân tộc ngay từ đầu đã được Thiên Chúa mời gọi làm dân tuyển chọn của Ngài-làm những khác mời đặc biệt vào dự Tiệc Nước Chúa-Nhưng đến khi Chúa Giêsu đến loan báo Ngài mở tiệc và mời gọi họ thì họ lại từ chối. Vì thế, các khác được mời đầu tiên này sẽ được thay thế bằng bất cứ ai-người tốt cũng như kẻ xấu-gặp được ở các ngã đường. Dân Israel đã từ chối lời mời gọi gia nhập Nước Chúa sẽ được thay thế bằng các dân tộc khác, cả những người ngoại giáo và tội lỗi, những người thu thế vá các cô gái điếm.

Anh chị em thân mến,

Dụ ngôn tiệc cưới hoàng gia mà Chúa Giêsu đã kể lại luôn có giá trị đối với thính giả ngày xưa cũng như ngày nay. Là kitô hữu, chúng ta là những khác được mời dự tiệc Nước Trời. Thiên Chúa là Đấng đã mời gọi chúng ta "do lòng từ bi của Ngài, chứ không do công trạng nào của chúng ta". Nhưng Chúa đòi hỏi ở chúng ta một đièư kiện-cũng là vinh dự của chúng ta là con người có lý trí và tự do – đó là đáp lại lời mời gọi yêu thương quảng đại của Ngài.

Trong các khách được mời dự tiệc cưới, chúng ta là những khách dược mời cuối cùng để thay thế vào chỗ những khác đặc biệt được mời từ đầu mà đã từ chối lời mời của Chúa. Qua các thời đại, Thiên Chúa vẫn sai các sứ giả của Ngài đi qua mọi nẻo đường thế giới, mời gọi mọi người vào phòng tiệc, bất cứ họ là ai, tốt hay xấu. Thiên Chúa không loại bỏ ai, chính chúng ta tự loại mình. Nhưng không phải cứ vào phòng tiệc là được dự tiệc đâu, còn cần phải có áo cưới nữa, nếu không sẽ bị tống cổ ra ngoài. Nói cách khác, không phải cứ ghi tên vào Sổ Rửa Tội, là người Công Giáo, lá người có đạo, là được vào Nước Trời đâu. Cần phải sống đời sống kitô hữu, phải tin, yêu và theo Chúa Kitô nữa.

Dụ ngôn cho thấy, cuối cùng phòng tiệc đầy khác, gồm đủ hạng người. Cũng thế, Giáo Hội ngày càng đông, gồm đủ mọi dân tộc trên thế giới. Nhưng Giáo Hội không phải là quán cơm bình dân, ai vào cũng được, không có một chút điều kiện tối thiểu. Đành rằng Chúa rất thương người có tội và Giáo Hội của Ngài đầy tội nhân hơn là vị thánh. Nhưng dù sao, muốn vào Giáo Hội, Chúa cũng đòi hỏi có một ước muốn trở lại chân thật, "một chiếc áo trắng Rửa Tội", "mặt lấy con người mới, được Thiên Chúa tạo dựng và tái sinh trong công công chính và thánh thiện".

Phải, thưa anh chị em, Giáo Hội là một "Bữa Tiệc của người tội lỗi", nhưng là những người tội lỗi tin tưởng vào Chúa Kitô và ơn cứu độ của Ngài đem đến. Tình thương đòi hỏi tình thương đáp đền, mới xứng đáng dự vào BữaTiệc tình thương.

Anh chị em thân mến,

Thánh lễ là một Bữa Tiệc của Chúa. Giáo Hội là tập thể những người được mời dự tiệc, không phân biệt giai cấp giàu nghèo, màu da, ngôn ngữ. Lời Chúa và Mình Thánh Chúa là những món ăn "có chất lượng". Áo cưới trong trắng Chúa đã ban cho chúng tatrong bí tích Rửa tội và Giải tội là điều kiện để xứng đáng dự Tiệc Thánh này. Và Tiệc Thánh hôm nay bảo đảm cho việc dự tiệc cưới trong Nước Trời mai sau. /.


 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

LỜI MỜI DỰ TIỆC CƯỚI CỦA CHÚA



Tin mừng hôm nay kể cho chúng ta nghe dụ ngôn tiệc cưới. Tất cả nhân loại được mời tham dự tiệc cưới này, có nghĩa là vào Nước Trời mà chính Đức Kitô đã đến thiết lập trên trái đất. Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của nỗi buồn, Ngài là Thiên Chúa của niềm vui và hạnh phúc. Ngài luôn âu yếm mời gọi con người chia sẻ niềm vui với Ngài, trao ban hạnh phúc của Ngài cho nhân loại. Thiên Chúa đã sẵn sàng; còn bản thân con người thì sao? Có hân hoan, chân thành nhận lời Thiên Chúa hay không? Tất cả tùy thuộc vào thái độ đức tin của mỗi người. Mỗi người có biết bỏ qua những bận tâm, lo toan của cuộc sống, những đam mê dục vọng xác thịt, những quyến rũ của trần gian để tiến vào Nước Trời hay không?

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Is 25,6-9

Yến tiệc Đấng Messia

Để gợi lên và ca tụng hạnh phúc mà Thiên Chúa tuôn đổ trên các dân tộc vào ngày viên mãn, Tiên tri Isaia đã dùng những hình ảnh rất cụ thể của một bữa tiệc thịnh soạn Thiên Chúa thết đãi muôn dân.

a. Đại yến tiệc được thết đãi trên núi cao với rượu thịt thơm ngon là hình ảnh gợi đến các mối phúc mà những người bạn của Chúa sẽ đón nhận trong Vương quốc của Ngài.

b. Khăn tang, vải liệm bị xé đi, mọi khuôn mặt được Chúa lau sạch nước mắt, mọi tủi hổ sẽ bị cất đi… là những biểu trưng cho chiến thắng của Chúa trên đau khổ và sự chết. Chính Thiên Chúa là Đấng giải phóng muôn dân.
c. Âm hưởng và tâm tình của bản văn giàu chất thi ca mang lại cho người đọc một sự an ủi, một niềm hy vọng, một niềm tin trong đau khổ.

2. Bài đọc II: Pl 4,12-14.19-20

Những lời tạ ơn của Phaolô

Phaolô cảm ơn sự giúp đỡ của cộng đoàn Philipphê đã nâng đỡ ngài trong suốt thời gian bị cầm tù ở Rôma, mặc dầu nhờ sức mạnh của Chúa Giêsu, ngài vẫn có thể vượt qua được.

a. Với Phaolô, những tình cảnh khó khăn người Tông đồ gặp phải là những cơ hội giúp người Tông đồ học biết cuộc sống, học biết chịu đựng.

b. Có thể làm được mọi sự, chịu đựng được mọi hoàn cảnh là nhờ gắn bó với Chúa Giêsu. Trong Người là Đấng ban sức mạnh, chúng ta có thể làm được mọi sự.

c. Tuy dựa vào sức mạnh của Chúa Giêsu Kitô, nhưng Phaolô vẫn quí trọng và biết ơn anh chị em giáo đoàn Philipphê đã yêu thương chăm lo cho ngài. Họ đã hành động chí lý khi chia sẻ nỗi quẫn bách của ngài.

3. Tin mừng: Mt 22,1-14

Dụ ngôn tiệc cưới

Dụ ngôn này thể hiện những lời Thiên Chúa mời gọi dân được tuyển chọn. Được tuyển chọn nhưng dân Do Thái lại không sẵn sàng đi vào Nước Trời hưởng vinh quang, hạnh phúc với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu. Chính vì thế Thiên Chúa đã thay đổi ý định: dành Nước Trời cho các dân tộc khác.

a. Cùng với dụ ngôn tá điền sát nhân (Mt 21,33-43), dụ ngôn tiệc cưới trình bày những khía cạnh khác nhau về mầu nhiệm Nước Trời. Sự tương đồng giữa ông chủ vườn nho và nhà vua; hình ảnh người con trong cả hai dụ ngôn; chi tiết các gia nhân đều bị ngược đãi, sát hại cho thấy hướng đi rõ rệt của tác giả Tin mừng. Chủ vườn nho và ông vua là nói về Chúa Cha. Người Con là chính Chúa Giêsu và gia nhân là các Tiên tri. Còn những người được mời là dân bất trung.

b. Hình ảnh bữa tiệc cưới, chắc chắn được vay mượn từ Cựu ước nơi Is 25,6; 55,1-3, diễn tả tính cách ban không của ơn cứu độ. Thật là một hồng ân khi được Thiên Chúa mời gọi vào tham dự hạnh phúc, sự sống và tình yêu Nước Trời.

c. Hình ảnh tiệc cưới là hình ảnh của niềm vui, người được mời dự tiệc cưới hoàng tử là cả một vinh dự. Vậy mà những người được mời lại từ chối, thậm chí còn tệ hại hơn khi bách hại giết chết cả những gia nhân đi mời khách. Họ dứt khoát từ chối, theo Matthêu đó là một sự thờ ơ, một thái độ hờ hững xem thường Thiên Chúa, khiến Thiên Chúa phải nổi giận và làm cho người được mời trở nên không xứng đáng dự tiệc cưới, họ sẽ bị loại trừ. Và thay cho họ là tất cả mọi hạng người không phân biệt tốt xấu. Ơn cứu độ của Chúa sẽ cất khỏi dân Do Thái để ban cho mọi dân tộc khác.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Dụ ngôn tiệc cưới mạc khải tính phổ quát của ơn cứu độ:

Nhà vua tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử; theo lẽ thường tình, được mời quả là một vinh hạnh lớn lao, người ta chắc hẳn sẽ không thể bỏ qua cơ hội này để thăng tiến trên đường danh vọng. Nhưng trong dụ ngôn thì lại trái ngược hẳn, người được mời thờ ơ với lời mời, thậm chí còn khó chịu và bách hại hay giết chết những sứ giả vua sai đi mời. Phải chăng đây là ông vua bị thất sủng? Phải chăng khách được mời muốn làm một cuộc lật đổ? Những vấn đề đặt ra không có ý nghĩa gì vì khi trình bày dụ ngôn này Chúa Giêsu muốn trình bày một mầu nhiệm tôn giáo, một vấn đề đức tin. Ơn cứu độ của Thiên Chúa được dành cho mọi người, mọi dân tộc. Điểm trọng tâm của dụ ngôn chính là việc sau khi khách được mời từ chối dự tiệc, nhà vua liền sai người đi khắp mọi nẻo đường, mời bất cứ ai, bất luận tốt xấu. Cách diễn tả này chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương hết thảy mọi người, Ngài mời mà không lựa chọn, không đòi hỏi, để tất cả đều có cơ hội đi vào Nước Trời. Những người được mời gọi là những lớp người của mọi dân tộc qua mọi thời, ở khắp nơi trong cuộc sống trần gian này. Ngài mời gọi người lương thiện cũng như kẻ bất lương; với người công chính cũng như người tội lỗi. Vào Nước Trời không tùy thuộc nòi giống hay văn hóa, nhưng căn cứ vào sự trở lại, hoán cải canh tân đời sống và biết vui vẻ đón nhận ý Chúa.
Giáo hội chính là nơi qui tụ mọi người đến dự bàn tiệc Thiên Quốc. Giáo hội nhất định không phải là nơi qui tụ những con người thập toàn, những con người ưu tú. Nhưng là nơi đón nhận mọi hạng người, để rồi nhờ ơn Chúa cứu độ sẽ biến đổi tất cả nên những con người xứng đáng đi vào hưởng hạnh phúc, vinh quang và sự sống của Thiên Chúa.

2. Từ việc được mời dự tiệc cưới đến việc tham dự, một biểu lộ của tình yêu:

Người Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài để chuẩn bị ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, nhưng họ đã từ chối đặc ân dành cho họ. Hình ảnh những người được mời dự tiệc trong dụ ngôn ám chỉ trực tiếp đến họ, những người dân Israel. Vấn đề ở đây chính là sự thờ ơ, không đếm xỉa gì đến lời mời gọi dự tiệc cưới: người thì đi thăm trại, kẻ thì đi buôn, người khác thì bắt đầy tớ nhục mạ và giết đi… Người ta có thái độ thờ ơ, lãnh đạm và coi thường như thế bởi vì họ không yêu Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa. Nếu yêu thương, tôn trọng người chủ tiệc thì chắc chắn cho dù có vướng bận đến đâu người ta cũng sẵn sàng sắp xếp công việc, thời gian để đi dự tiệc. Được mời là một vinh dự, là một sự quí mến được đón nhận từ người mời, nhưng đáp lời mời tham dự là biểu lộ tình cảm của bản thân dành cho gia chủ. Cũng thế, Thiên Chúa mời gọi con người vào hưởng hạnh phúc Nước Trời là nói lên tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, còn đáp lời mời này để hân hoan tiến vào Nước Chúa là lời đáp trả tình yêu của con người dành cho Thiên Chúa.

Được mời và đón nhận lời mời là một biểu lộ của tình yêu từ hai phía Thiên Chúa và con người dành cho nhau. Thế nhưng, trong cuộc sống Kitô hữu ngày hôm nay, thái độ từ chối Thiên Chúa, thờ ơ với lời mời gọi của Ngài vẫn còn tiếp diễn nơi nhiều người. Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận bịu với những sinh họat xã hội để từ chối cầu nguyện, từ chối tham dự thánh lễ. Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, để khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa. Kitô hữu cần phải xét mình lại thái độ của bản thân mình trước những lời mời gọi dấn thân vì Nước Trời, vì tha nhân của Chúa.

v Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:

Thánh lễ chính là tiệc cưới Nước Trời mà Thiên Chúa thết đãi chúng ta, cho chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc, vinh quang và sự sống thần linh. Vậy chúng ta hãy dẹp bỏ đi mọi lo toan của công việc, mọi vướng bận của cuộc sống đời thường, hân hoan tiến đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Sau khi đã vui hưởng tiệc Thánh của Chúa, chắc chắn mỗi người sẽ thêm nghị lực, thêm niềm tin, thêm tình yêu để gánh vác cuộc sống mình ngày càng tốt hơn.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Thiên Chúa vẫn đang tiếp tục yêu thương mời gọi chúng ta đến dự tiệc vui trong nhà Ngài. Đáp trả lại lời mời của Ngài, chúng ta cùng đến và thân thưa với Ngài những tâm nguyện của chúng ta.

1. Các vị mục tử là những người được giao phó quản lý và phân phát bữa tiệc thần lương cho mọi người. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị mục tử trong Giáo hội luôn ý thức trách nhiệm cao trọng này để cộng tác với ân sủng, hầu có thể dọn cho thế giới những bữa tiệc của niềm vui và hy vọng.

2. Trong thánh lễ, hai bàn tiệc thần thiêng là Lời Chúa và Mình Chúa được trao ban cho chúng ta. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện cho từng mỗi thành viên trong Giáo hội luôn ý thức được giá trị cao cả của bữa tiệc thần linh và siêng năng đến lãnh nhận.

3. Thế giới vẫn đang hiện diện những người đói khát. Chúng ta cùng cầu xin cho từng mỗi Kitô hữu biết luôn cộng tác với ân sủng để chia sẻ với mọi người và dẫn dắt họ đến với bàn tiệc của niềm tin yêu, hy vọng, tự do và sự sống.

Lời kết: Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã yêu thương dành chỗ cho chúng con trong bàn tiệc vui Nhà Chúa. Xin cho chúng con luôn hiểu thấu tình yêu tuyệt vời này và giá trị đích thực của bàn tiệc mà Chúa đã dọn cho chúng con, để chúng con hân hoan sẵn sàng chuẩn bị tâm hồn.


Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn