Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXX Thường Niên B

Tin Mừng Mc 10:46-52: Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện chữa lành cho một người mù ở gầy thành Giêricô, có ý diễn tả Chúa Giêsu mở tâm hồn người ta để họ tin theo Người .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 30 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B

Gr 31,7-9 ; Dt 5,1-6 ; Mt 10,46-52

 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

VIỆC CHỮA LÀNH BARTIMÊ

(Mc 10, 46- 52)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Thử tìm văn mạch tổng quát và văn mạch trực tiếp của trình thuật.

2. Chủ dề chính của bản văn này là gì?

3. Đâu là phép lạ chính của bản văn? (nghiên cứu cuộc đối thoại và cử chỉ của kẻ lnù).

4. Bản văn này định nghĩa thế nào về đức tin?

Trong bản văn này, chỗ đứng của việc chữa lành rất nhỏ bé: không một lời hay một cử chỉ thần thông này cả. Phải chăng Mc muốn quên để nhấn mạnh đến một phép lạ thuộc loại khác, phép lạ mà ông sẽ cho thấy đặc tính trong ngôn ngữ riêng ông? Đó là vấn đề mà công việc nghiên cứu này thử giải đáp

1.MC 10,46-52 TRONG TOÀN BỘ DIỄN TỪ CỦA MÁT-CÔ

Để hiểu rõ hơn đoạn văn hôm nay, cần đặt nó lại vào trong văn mạch chung và văn mạch trực tiếp của nó: mỗi một văn mạch tương ứng với một mức độ riêng biệt trong hoạt động biên soạn của Mc.

a. Trong sự phối trí chung của tác phẩm.

Được đặt lại trong toàn bộ Tin Mừng thứ hai, cuộc chữa lành người mù ở Giêricô có dáng như là thành phần của một bộ ba song song với cuộc chữa lành người mù ở Betsaiđa (8,22-26). Bản văn cuối này đi ngay trước việc tuyên xưng của Phêrô tại Caisaria (8,27-30) và việc tuyên xưng này lại được kéo dài bởi lời loan báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn (8,31-33). Cũng thế, Mc .10,46-52 được tiếp nối bởi việc tung hô Chúa Giêsu là Đấng Messia khi Người vào Giêrusalem, đoạn bởi trình thuật về cuộc Khổ nạn.

Một cách nào đó, Mc 8,22-26 và 10,46-52 làm nên những trình thuật chuyển tiếp. Hình như chúng dẫn độc giả đến chỗ tuyên xưng đức tin cách công khai vào thiên sai tính của Chúa Giêsu: đức tin và thiên sai tính giả thiết biến cố Tử nạn. Trong viễn ảnh thần học này, việc mở mắt người mù mặc một giá trị dấu chỉ.

b. trong văn mạch trực tiếp.

Tiết tường thuật trong đó chen vào việc chữa lành Bartimê, khởi đầu từ Mc 10,32:

"Bấy giờ họ đang đi trên đường (en tôi hodôi) lên Giêrusalem, và Chúa Giêsu bước đi trước họ, và họ kinh hoàng; còn những kẻ theo sau thì sợ hãi..."

Nhiều sợi dây mà chúng ta sẽ tách ra khỏi "khung dệt" của Mc 10,46-52, một cách nào đó, còn nằm lộn xộn trong câu này. Con đường được xác định: đường lên Giêrusalem, trên đó Bartimê sẽ đi theo Chúa Giêsu sau khi được chữa khỏi (c.52).

"Và hắn đã theo người trên con đường" (c.52): câu này là một sự khai mở. Bi kịch cá nhân và sứ mệnh của Bartimê ("Hãy đi, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi") mở màn bi kịch tập thể và nhiệm mầu sắp trình diễn. Mátcô trình bày bi kịch này trong trình thuật tiến vào Giêrusalem tiếp theo. Số "nhiều kẻ" đã chống đối thái độ của Bartimê (10,8), nghĩa là những kẻ, cho đến lúc đó "còn kinh hoàng và sợ hãi" (10,32) thì nay nhận ra Đấng Messia (11,8-10). Họ cao rao tư cách thiên sai dòng Đa-vít của Chúa Giêsu mà trước đó họ đã từ chối. Tất cả, chẳng trừ ai, không còn công bố tước hiệu thiên sai nữa ("Con Đa-vít") nhưng công bố chính nội dung chính xác của tước hiệu này : "Họ kêu lên : Hosana ! Chúc muôn lành cho Đấng …" (11,9). Người ta gặp lại động từ "kêu lên" ở thì bán khứ, y như trong trường hợp của người mù (c.48 : "nhưng hắn càng kêu to hơn nữa…") sau việc can thiệp thù nghịch cũng của đám đông trên. Việc đi từ số ít sang số nhiều của cùng một hình thức động từ này mang nhiều ý nghĩa.

Thành thử Mc 10,32-1 1,10 xem ra giới hạn phạm vi biên soạn của đoạn văn chúng ta. Từ điểm bản lề này của Tin Mừng Mc nổi bật lên vật tranh dành tối hậu của sứ mệnh Chúa Giêsu: việc tạo lập dân tín hữu. Thật vậy, việc chữa lành Bartimê biểu lộ một quyền lực mới mẻ và kỳ lạ trên thực tại nhân loại đến nỗi kéo theo một sự gắn bó hoàn toàn và dứt khoát vào Chúa Giêsu, Đấng Messia. Sự gắn bó này lấp đầy mọi khoảng cách bởi vì nó đã đem tất cả các khoảng cách về con đường duy nhất tnà từ đây có tính cách giải phóng ("con đường", con đường lên Giêrusalem); nó cũng xếp đặt mọi giây phút vào trong một "thời gian" duy nhất (được biểu thị theo văn phạm bởi thì bán khứ: "hắn kêu lên", "họ kêu lên") thời gian bao gồm toàn thể các biến chuyển; cuối cùng, sau khi đã cấu tạo và tổ chức con người (được tiêu biểu qua Bartimê), sự gắn bó nói trên cũng cấu tạo và tổ chức đoàn người vốn tượng trưng và tiên báo một nhân loại sẽ chiếm hữu mãi mãi những tiềm thể năng động của sự thành tựu của nó.

c. Mc 10,46-52 và dấu vết của Mátcô

Bảng sau đây cho thấy ở đây Mátcô để lộ đến mức này các phản ứng mà ông đã khá gọt dũa khi biên soạn Tin Mừng của ông :


 

Mc 10, 46 - 52 Mc 5, 1 - 20
Hắn đang ngồi
bên đường
Hắn bắt đầu kêu to

Chúa Giêsu ngừng lại
Với một cái nhảy, hắn đến
cùng Chúa Giêsu Con Đavít.
…..

Rabbuni, xin cho tôi thấy được
…..
Hãy đi đức tin ngươi đã cứu ngươi
Và tức khắc hắn thấy được…

Hắn Có Chỗ
Trong Mồ Mả
Thấy Giêsu Đằng Xa
Người Đang Đi Ra
(Từ Xa) Hắn Chạy Lại
Bái Lạy Trước Người
….
hắn van xin Người cho hắn ở với Người
…..
Hãy đi về nhà
Và hắn ra đi….
 



Giữa việc chữa lành tại Giêricô và việc trừ quỷ ở Gêrasa, có một sự giống nhau rõ rệt, đáng được nghiên cứu xa hơn: các phân tích sau đây sẽ đóng góp một phần.

2. THỬ NHÌN MỘT CÁCH TỔNG QUÁT.

Chủ đề "con đường" (hê hodos) với tất cả những gì liên hệ đến nó (đi, dừng lại...) rất quan trọng trong Mc 10,46-52. Đọc lần đầu tiên, tất cả các yếu tố của bản văn hình như quy chiếu về đấy cả cử chỉ lẫn ngôn từ.

Người ta ghi nhận sự đó, ngay từ những chữ đầu tiên: "họ đến" (c. 46a, erchontai). Động từ ở thì hiện tại này không chủ từ minh bạch. Vẫn biết trong một thì thứ hai, người ta gặp lại, lúc ra khỏi Giêricô, các môn đồ, một đám dân đông đảo cùng Chúa Giêsu (c.46b). Và qua câu dẫn nhập rườm rà này người ta thấy được, nơi Mátcô, cái ưu tư đích thực muốn trình bày tất cả những ai ông đã cho "đến" Giêricô mà không chỉ định họ cách rõ rệt. Nhưng, được đặt một mình ở ngay đầu trình thuật, hình thức động từ "họ đến" nhất thiết mang một ý nghĩa khác với ý nghĩa tường thuật hoàn toàn: cú pháp sâu xa

của trình thuật sẽ xác định hình thức động từ đó. Lúc này, người ta có thể bảo nó đang tìm kiếm một chủ từ và một thì thích hợp, hơn nữa còn đòi hỏi một hạn từ thích đáng để chỉ còn là một dấu chỉ đường phải theo ("Khi Người ra khơi Giêricô"); nhưng theo mục tiêu nào?

Trong câu cuối cùng của trình thuật: "Và hắn theo Người trên con đường" (on tôi Ịhodôi), động từ ở thì bán khứ ám chỉ sự liên tục. Liên lục trong sự di động bởi vì là đi trên con đường", nhưng cũng liên tục trong sự cận kề, bởi vì Người ta đi sau và đi theo một kẻ ý tưởng chủ chốt của công thức đó là sự hiện diện dứt khoát "trên con đường" hay hơn nữa "trống con đường". Mà vị thế này lại đối nghịch với vị thế (bên khỏi của Bartimê (c.46): "Hắn đang_ ngồi bên đường" (para tôn hođon). Đây là một dáng điệu cố định, tự bản chất coi như dứt khoát. Thì bán khứ của động từ cho thấy điều đó. Hơn nữa, việc đề cập đến nghiệp ăn xin (Bartimê được gọi là prosaitôs) và tật mù lòa càng làm nổi bật thêm dữ kiện vừa nói. Ở đây nghiệp ăn xin hàm súc sự cố định và tật mù lòa hàm súc sự xa cách. Phải chăng một người mù không càng xa cách các thực tại mà về phương diện thể lý càng gần gũi chúng?. Do đó "mù lòa" và "ăn xin" thuộc về cùng một sổ như "con đường", "đến", "ngồi" hay "đi theo". Thành thử "bên đường" có nghĩa là "ngoài con đường" và trong trường hợp của người mù là "xa con đường". Bị loại khỏi con đường, đó là điều đánh dấu tình trạng của Batimê ngay đầu trình thuật. Vt mù lòa, hắn vĩnh viễn xa cách con đường bình thường của mọi kẻ sáng mắt. Vì ăn xin, hắn nằm trong tình thế bị khai trừ, trong sự cố định để có thể tồn tại trong sự xa cách ấy.

"Dừng lại" (c.49). một việc gây kinh ngạc : Chúa Ki-tô dừng bước. Làm thế, Người tự tách mình khỏi những kẻ đang ở với Người trên cùng một con đường, Người cắt ngang một chuyển động mà Người là động lực chính. Sự cắt ngang này phát sinh một hậu quả bất ngờ. Người ta rất ngạc nhiên thấy kẻ mù quăng áo khoác, nhảy chồm dậy và đến gần Chúa Giêsu ("Hắn đến cùng Chúa Giê-su, ôlthen pros ton lôsoun). Mọi sự xảy ra như thể Bartimê không còn mù lòa nữa! Động từ "nhảy chồm dậy" khá nói lên điều đó: nó đánh dấu một phản đề lớn đối với các dữ kiện tiên khởi của trình thuật.

Điều lạ là Bartimê được gọi là: người mù" (ho typhlos, cc 49.51) sau sự can thiệp của Chúa ki tô. Vì chính từ giây phút đó hắn xem ra được Chúa Giêsu và đám đông quan tâm ( Gọi người ấy... Hãy vững lòng! Đứng dậy...) và hắn xử sự ("với một cái nhảy...") như một người sáng mắt. Nếu Mátcô chỉ gọi hắn là "người mù", phải chăng ông muốn nói rằng hắn không còn là "kẻ ăn xin" nữa ? Việc ném chiếc áo áo choàng (mà những người ăn xin Đông phương thường dùng để nhận tang vật) biểu thị việc chấrn dứt sự cố định, y như, dưới một khía cạnh nào đó, tiếng gọi của Chúa Giêsu mà đám đông lặp lại theo. Điều quan trọng, đó là cách người mù đột nhiên đạt được sự di động, trong khi hắn, để sống còn, đã bị kết án nằm trong sự bất động vĩnh viễn ("Hắn đang ngồi.. Sự di động hay, hắn biểu lộ một cách rất rực rỡ nhất. Động từ "đến", vốn mở đầu trình thuật. Họ đến đã tìm được chủ từ của nó: trước tiên bị từ khước đối với Bartimê giờ đây động từ được dành cho hắn, nhưng ở thì aoriste ("Hắn đến", ôlthon). Đây là một dộng tác duy nhất, quyết định in vào thái độ này một đặc tính tuyệt đối. Nó dẫn đến Chúa Giêsu và, do đó, đưa vào "trong con đường". "Chúa Giê-su và "con đường" đồng hoá với nhau, hay nói cách khác, "sự kế cận" và "sự di động" kết hợp nhau: con đường mở ra cho người mù.

Tất cả các yếu tố mà chúng ta đã liệt kê, được xếp đặt cách chặt chẽ trong một màng lưới gồm những đối lập và tương quan đầy ý nghĩa; các đối lập và tương quan này hoạt động bên trong một hệ thống sít sao. Thế mà, một phần lần của trình thuật được cấu tạo bởi cuộc đối thoại giữa Bartimê và Chúa Giêsu. Thành thử điều quan trọng là tìm xem chính cuộc đối thoại này có thể được tích hợp vào trong một cơ câu như thế, để tăng cường cách diễn tả của cơ cấu đó không?

3. "TIẾNG KÊU" VÀ "CÁI NHẢY" CỦA ĐỨC TIN.

Khi đi tìm các thành phần chủ yếu của cuộc đối thoại, người ta sẽ biết rõ hơn cái động lực bên trong.

Đám đông dân chúng can thiệp nhiều lần. lần đầu tiên, họ báo hiệu sự hiện diện của "Giêsu người Nadarél" (.c.). Bartimê nhận được từ này do thính giác ("sau khi nghe"), điều nhắc đến tật mù lòa của hắn và mọi cái mà tật mù lòa bao hàm, đặc biệt là sự xa cách. Tiếng "Giêsu người Nadarét" chỉ Chúa Giêsu, không liên hệ gì với bất cứ mặc khải độc đáo nào về 639582* 1bản thân và sứ mệnh của Người. Sự kế cận của Người, hoàn toàn nhân loại, xem như đã đạt được. Nhưng phải chăng đấy là một sự kế cận đích thực? Một điều chắc chắn là: việc trần thuật diễn tả sự xa cách.

Vả lại người mù từ khước loại kế cận này. Người ta biết hắn không thể đến với "Giêsu Nadarét" vì tật mù lòa cái nhân tố chia cách và triệt để cắt đứt hắn khỏi tất cả những gì kế cận và rất kế cận hắn. Nhưng, với một tiếng kêu ("Hắn bắt lầu kêu kêu"), điều hàm súc sự xa cách, Bartimê gọi Chúa Giêsu như "Con Đa-vít". Làm thế, hắn gán cho Người tước hiệu Messia của Israel. Nếu hắn hiểu và công bố như vậy cái khoảng cách chia cách hắn thực sự với Người, thì bù lại, sự hiểu biết bất chợt và không thể giải thích vừa nói về Chúa Giêsu trong tận thâm sâu hữu thể Người cho thấy cái bước nhảy trọn vẹn ra khỏi sự xa cách ấy. Lời tuyên bố này xác nhận, trong một "tiếng kêu" duy nhất, cái ý thức đau khổ về một khoảng cách không thể rút ngắn (c.46: "đang ngồi") và xác nhận sự hiểu biết trực tiếp và chính xác về đối trọng con Đavít; đây là một thái độ tổng hợp cách lạ kỳ hay kinh nghiệm tương phản nhau, kinh nghiệm về sự xa cách (thể lý) và kinh nghiệm về sự cận kề (đích thực).

Trong lời tuyên bố hay thỉnh nguyện thứ hai của kẻ mù, sự can thiệp của "nhiều người" (c.48) kéo theo ý tưởng cường độ. Ý tường này được nhấn mạnh qua trạng từ "càng mạnh hơn" và qua-lối dùng thì bán khứ kêu lên c.48), thì ám chỉ tính cách liên tục trong cường độ ấy. Hơn nữa, tiếng "Giêsu" đã biến mất khỏi lời van xin. Chỉ tước hiệu "cứu Đavít" còn lại. Vậy là sự xa cách đã trọn vẹn và sự hiểu biết về đối tượng đã hoàn toàn; chướng ngại là đám đông biểu thị mạnh mẽ điều đó.

Chính nơi đây, xảy ra sự cắt đứt được đánh dấu bởi việc Chúa Giêsu dừng lại (c.49): một sự cắt đứt dứt khoát là ta biết là sắp ban cho người mù ăn xin sự di động và cho anh ta đạt được sự cận kề. Việc dừng chân này hình như tạo thành cái trục nối kết cách có hệ thống hành động và cuộc đối thoại của trình thuật.

Tiếng "Rabbuni" (xuất hiện hai lần trong Tân ước, ở đây và Ga 20,16), tiếng diễn tả sự tôn kính và thân tình, xác nhận sự kề cận nói trên. Nhưng nó cũng ngụ ý một sự cố định mới (nghỉ chân để gặp gỡ đương nhiên làm phương hại sự cận

kề mới được phát sinh và củng cố bởi sự di động. Chữ Rabbum nằm giữa hai lời của Chúa Giêsu : một lời mời gọi ("Hãy gọi người ấy và một lời sai đi ("Hãy đi", thường được Mc và một dùng trong khung cảnh một sứ mệnh do Chúa Giêsu ủy thác : Mc 1,44; 5,19; 10,21; 14,13). Mỗi một lời ăn khớp đi sự dừng lại của Chúa Giêsu và sự cắt đứt có tính cách "sáng tạo" mà việc dừng lại này tượng trưng.

Việc dừng lại, vốn cho phép Chúa Giêsu và anh mù cả hai dấu bị bắt buộc nằm trong tình trạng cố định - gặp nhau, gây nên hai mệnh lệnh song song và bổ túc nhau: một mệnh lệnh kéo theo sự di động (x. c.49): "Hãy gọi người ấy") và sự kế cận bất ngờ ("Với một cái nhảy, hắn đến cùng Chúa Giêsu"), và một mệnh lệnh ("Hãy đi, đức tin ngươi đã cứu ngươi") làm cho sự kế cận này được dứt khoát thủ đắc và được củng cố trong một sự di động bắt buộc ("Hãy đi") mà nếu không có thì sự kế cận không thể trường tồn: vì thế mệnh lệnh đưa tới việc thình lình cho thấy ("lập tức hắn thấy được", ở thì aoriste, giống như: "với một cái nhảy, hắn đến"). Cái nhìn cho phép ta được gần dù còn đứng xa, nó bảo đảm an toàn trong việc di động.

Sự kiện khôi phục lại thị giác làm nên dấu chi của việc ban đức tin ("Đức tin của ngươi đã cứu ngươi"), vì đức tin là cái nhìn cách khoảng, là khả năng đi đường và là sự đòi hỏi phải lên đường. Tật mù lòa bắt phải xa cách trong sự gần gũi; vì thế tự nhiên nó là dấu chỉ sự thiếu vắng đức tin (đám đông biết "Giêsu Nadarét" ở đó, thưng họ không biết đấy là "Con Đavít"; sự mù lòa đích thực thật ra nằm nơi đám đông đang đi, chớ không phải nơi Bartimê, người mù bất động). Từ đó ta dễ hiểu rằng, trong một trình thuật mà Mc cho thấy ngay từ những chữ đầu tiên đức tin của một người mù, thì kẻ mù này được coi như không mù và cư xử như không mù hay không còn mù nữa, mặc dầu việc chữa lành anh ta chưa được thực hiện. Các điểm bất mạch lạc trong việc tường thuật này lồng trong một sự hợp lý đích thực, sự hợp lý của tác phẩm.

Thành thử người ta hiểu được rằng phép lạ của đức tin - sự gần gũi trong xa cách - được biểu thị qua việc mở mắt. Một việc mở mắt cho phép ta trở nên kế cận dù cách khoảng. Câu nói "hãy đi" bao hàm một sự cắt đứt (mà "Rabbuni" có vẻ muốn khước từ), một sự cắt đứt gây nên sự di động cần thiết cho kẻ "thấy" trong đức tin, nghĩa là kẻ đi theo Chúa Giê-su trên con đường của Người: điều giả thiết phải có "cái nhìn" của đức tin và có khoảng cách (khoảng cách chứ không còn xa cách) cần thiết cho việc thi thố đức tin đó; vì đức tin lấp đầy khoảng cách này, một khoảng cách mà đức tin, một cách nghịch lý, đòi hỏi phải có.

KẾT LUẬN

Việc phân tích các điểm đối lập và tương quan khác nhau trong Mc 10,46-52 đã dẫn chúng ta đến chỗ phân biệt trong đó việc đi từ một vị thế bị khai trừ, cố định và xa cách sang một vị thế hội nhập, di động và gần gũi. Việc Chtía Giêsu dừng chân "lên đường" đóng một vai trò trung tâm trong quá trình đó. Việc nghiên cứu cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và Bartimê lại đến tăng cường lẫn xác định công việc trên. Các ý niệm xa cách và cận kề được nổi bật đặc biệt: thật vậy chúng xem ra chế ngự mọi ý niệm khác. Trong thực tế, "sự mù lòa" và "việc nhìn thấy" - cái thứ nhất biểu trưng sự xa cách trong kế cận, cái thứ hai sự kế cận trong xa cách – là những ý tưởng nổi bật của toàn thể bản văn. Tất cả đều xem ra xoay quanh chúng.

Một tia sáng bắn ra ngay từ c.47. Người ta khám phá ra trong câu đó điểm nghịch thường hiển nhiên này: "người mù" (nghĩa là kẻ thực sự xa cách mặc dầu kề cận về phương diện thể lý) "thấy" Chúa Giêsu là ai, trong một sự hiểu biết trọn vẹn ("Con Đa-vít") khiến cho hắn ta thực sự cận kề (qua "tiếng kêu" hay "cái nhảy" của đức tin) trong khi hắn hãy còn xa cách về phương diện thể lý (do sự ngăn cách bởi mù lòa). "Phép lạ" của đức tin vì vậy được thủ đắc, như trình thuật về việc chữa lành biểu thị một cách rõ rệt (việc chữa lành này chỉ được ám thị, chứ không được mô tả trong thực tế).

Thế mà sự kế cận (của đức tin) phải kéo dài. Sự di động là nhân tố duy nhất của sự kéo dài ấy ("Hắn theo Người trên đường", ở thì bán khứ); vì thế sự di động đòi hỏi sự hội nhập cần thiết vào "trong con đường". Sự kế cận đã được thủ đắc cuối một chuyển động được phát khởi do một sự cắt đứt Chúa Giêsu dừng lại") và được thúc đẩy do một lời mời "Hãy gọi hắn"). Việc chiếm hữu dứt khoát sự kế cận này tùy thuộc vào một sự cắt đứt khác ("Hãy đi"), một sự cắt đứt đưa nó vào một động lực từ đây có tính cách trường kỳ, "trên con đường" (hay "trong con đường") con đường cần thiết và duy nhất, dành cho kẻ "thấy", cho kẻ có thể kề cận dù cách khoảng, cho kẻ "tin hay nói một cách khác, cho kẻ có khả năng quán triệt trực tiếp toàn thể đối tượng vượt trên mọi xa cách.

Không thể có việc gián đoạn "cái nhìn" này: hai sự cắt đứt ("Chúa Giêsu dừng lại" và "Hãy đi") tạo nên cái nút thường xuyên của kinh nghiệm người tín htĩu. Thành thử "tin" (1) là "thấy" (2) nhưng nhất là "đi theo Chúa Giê-su (3) ("với một cái nhảy, hắn đến cùng Chúa Giê-su (1), "và tức khắc hắn thấy" (2), "và hắn đi theo Người" (3). Điều này đòi hỏi động lực của một thái độ tự ý vốn không ngừng lấp đầy một khoảng cách cần thiết cho việc tự do chiếm hữu sự kế cận duy nhất, sự kế cận của đức tin vào Giêsu, Đấng Ki-tô.
André Paul, Assemblées du Seigneur 61 , tr. 44-52.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Phép lạ chữa người mù được sáng là phép lạ cuối cùng mà Mc kể lại trước bài tường thuật tấn bi kịch được kết thúc bằng khổ hình thập giá. Một cách nào đó, thánh sử muốn đúc kết những gì xảy ra ở trước đây: Biến cố Chúa Giêsu đi qua, có những người không muốn nhìn thấy, nhưng cũng có nhiều người khác, như người mù thành Giêricô, dã muốn Chúa Ki-tô mở con mắt tâm hồn họ và đã ra đi bước theo con đường của Người. Họ là những người biết nhạy cảm với ánh sáng nội tâm, một thứ ánh sáng soi chiếu tất cả mọi người ở trong thế gian ; họ đã không dập tắt ánh sáng đó vì tư lợi, vì mưu toan ganh trị, vì quan niệm sống, vì thành kiến; họ đã ra di theo Chúa Ki-tô.

2.Mặt khác, phép lạ chữa người mù được sáng và đi theo Chúa còn báo cho chúng ta biết một điều luật quan trọng của Tin Mừng: nhận ra chân lý mà thôi chưa đủ, còn phải sống chân lý đó nữa. Nhận thức đức tin không phải chỉ là một hoạt động thuần lý trí mà còn đòi hỏi một sự dấn thân toàn vẹn con người. Khi trí khôn đã hiểu rõ khía cạnh nào của đức tin, thì con tim và ý chí phải theo để đem ra thực hành trong đời sống điều mà lý trí đã thấy. Chúng ta chỉ đọc và hiểu thật đúng Tin Mừng sau khi đã xếp sách lại, chúng ta cố gắng đem ra thực hành. Chúng ta hãy cầu nguyện cho mình theo ý lời kinh của Giáo Hội: "Lạy Chúa, xin biến cải chúng con thành những môn-đồ của ánh sáng và thành những người kiến tạo chân lý".

3. Người mù tin tưởng, gương mẫu của môn đồ Chúa Giêsu. Con người này, sống trong một tình thế nguy kịch, là hình ảnh kẻ nghèo khó mà chúng ta phải trở nên; anh nhận ra Chúa Ki-tô chư vị cứu tinh của anh và đến cùng Người với tâm hồn đơn sơ trong sáng. Đau khổ luôn luôn có nguy cơ làm cho chúng ta mù lòa, nổi loạn; nên ta hiểu ngày nay Giáo Hội đề ra phép Xức dầu không như bí tích để dọn mình chết cho bằng như sự giúp đỡ cho thời gian tật bệnh. Chẳng cần phải gần gũi nhiều bệnh nhân mới biết là vào một vài lúc, cuộc sống họ thật là khó khăn : làm sao giữ niềm tin vào vị Thiên Chúa tình yêu khi người ta đau khổ ? Thân phận bệnh nhân hay tật nguyền có những "cám dỗ" riêng của nó. Vẫn biết đối với một vài người, thử thách gây nên một phản ứng đạo đức và tin tưởng. Nhưng khi đau khổ quá mức, lòng tin cũng dễ bị lung lay. Tuy nhiên, cuộc sống tín hữu không nên là một chuỗi hành vi tin tưởng chớp nhoáng. Phép Thánh Thể phải rèn đúc chúng ta từ Chúa nhật này sang Chúa nhật khác một tâm hồn tin tưởng, chứ không chỉ là một con người đạo đức. Chúng ta phải khám phá từng tí rằng Chúa Ki-tô mỗi ngày ở trên con đường chúng ta và trên con đường anh em ta.


Noel Quession - Chú Giải

 

Mc 10,46-52


Giêrikhô. 

Về mặt lịch sử, đó là một trong những thành phố danh tiếng nhất thế giới. Nhưng đó cũng là thành phố "thấp nhất" thế giới : Nằm trong một miền trũng sâu gọi là Ghor, dưới mặt nước biển 250 mét gần Biển Chết, nên cảnh vật hoang vắng, lúc nào cũng thấp thoáng bóng dáng thần chết. Ở đây, loại cây cọ phát triển mạnh, tạo nên một vềt xanh tươi, một ốc đảo. Đó còn là một thành phố cổ xưa nhất thế giới . Theo ý kiến các nhà khảo cổ học, đã có người cư ngụ ở đó từ năm 7.800 trước, Chúa Giáng sinh, với những di tích đồn lũy có từ 7 .000 năm trước Chúa Giáng sinh. Tổ phụ Abraham sống gần chúng ta hơn là thành phố đầu tiên này, một thành được coi là rất cổ ngay ở thời của tổ phụ.

Về mặt Kinh thánh, Giêrikhô là biểu tượng cho "công việc tiến vào miền đất hứa" ngay sau khi vượt qua sông Gio-đan. Đối với khách hành hương lên Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, cũng như đối với những đoàn người từ Galilê đi dọc theo sông Gio-đan thỉ đây là chặng đường cuối cùng, vì chỉ cách thủ đô 35 cây số.

Chúng ta đừng quên rằng, đối với Đức Giêsu cũng vậy đó là con đường dẫn đến Giêrusalem. Ngày mai (Mc 11,1 ) người ta tiến vào thành phố để hưởng chút vinh quang ngắn ngủi của buổi rước lá, dự buổi tiệc ly, trải qua cuộc thương khó, rồi Phục sinh.

Chữ Giêrikhô trong tiếng Do Thái có nghĩa là "thành phố mặt trăng", chắc chắn để kỷ niệm việc thờ kính xa xưa. Vị thần của ban đêm. Chính vì thế mà Đức Giêsu sẽ làm "dấu lạ" cuối cùng : Người sẽ chiến thắng đêm tối đang giam cầm một người mù đáng thương. Đức Giêsu, ánh sáng của chúng ta ! Anh sáng soi chiếu đêm tối đời ta.

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Đức Giêsu cùng với các môn đệ và đám đông dân chúng ra khỏi thành Giêrikhô.

Trong những ngày trước, theo trình thuật của Mác-cô (chương 8 đến 10) chính những môn đệ này đã tỏ ra họ hoàn toàn "mù tối" trước định mệnh thực sự của Đức Giêsu : Họ vẫn còn mơ tưởng danh dự và thành công theo kiểu loài người (Mc 10,37) trong khi Đức Giêsu đã ba lần báo trước cho họ thập giá của Người (Mc 8,31 - 9,31 - 10,34). Những bài đọc của 6 Chúa nhật vừa qua đã cho chúng ta thấy rằng, các môn đệ là những người không hiểu biết và với cái nhìn nhân loại, hoàn toàn không đủ tư cách để bước theo" Đức Giêsu. Phải "mất mạng sống mình" (8,35). Phải trở nên "người cuối chót" .(9,35). Phải tự "móc mắt, chặt tay, chặt chân" để khỏi phạm tội (9,47). Phải "trung thành trong hôn phối" đến độ anh hùng (10,9). Phải "uống chén đắng và nhận phép rửa" . Phải trở nên "đầy tớ của mọi người" (10,38-44). Không, lạy Chúa, không thể được đối với con người, dù người đó đã làm môn đệ của Chúa, nếu chỉ dùng sức riêng của con người để "theo Chúa" .

Một người mù, tên là Bác-ti-mê, con ông Tiêm, đang ngồi ăn xin ở về đường.

Trong những xứ nghèo ở phương Đông, người bị mù rất đông. Trước khi phát minh phương pháp Braille cho người mù đọc được chữ nhờ ngón tay, người mù chỉ sống bằng cách ăn xin, ngồi tại chỗ. Trong biểu tượng Kinh thánh người mù là "hình trạng" của sự "khó nghèo", của con người bị bỏ rơi : Hãy nhìn hình ảnh đó ! Đó là chân dung của bạn đấy ! Con mắt tôi mù như đêm, bàn tay chìa ra, ngồi xệp dưới đất... Mù, không thể bước đi được, phải lệ thuộc kẻ khác một cách bi thảm. Nhưng nghịch lý thay, chính người "hành khất mù ngồi dưới đất" này, lại sắp trở thành gương mẫu cho tất cả chúng ta, cho các môn đệ là những người cứ "tưởng mình thấy rõ" (Ga 10,39-40).

Người hành khất mù ấy tên là Bác-ti-mê. Chỉ mình Máccô đã ghi lại tên của người này. Rất có thể ông Bác-ti-mê thuộc cộng đoàn những người Kitô hữu đầu tiên, lúc Máccô viết trình thuật này. Đó là một người mà người ta biết rõ : Một người đã được Đức Giêsu ban phép lạ. Bạn có biết Thiên Chúa cũng biết tên bạn, và Người thương yêu bạn với một tình thương cá biệt, không phải là nặc danh sao ?

Anh ta vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Na-za-rét liền kêu lên rằng.

Theo thói quen của mình, Mác-cô luôn tỏ ra rất cụ thể. Chúng ta sắp xem một đoạn phim ngắn vô cùng linh động, trong đó mọi chi tiết được quan sát thật tinh tế, và có giá trị biểu tượng khá cạo.

Như ta biết người mù có một thính giác rất đặc biệt.

Bằng lỗ tai, ông ta đã nhận ra sự hiện diện của Đức Giêsu, người Na-za-rét.

Ngồi trên mô đất ngoài của thành Giêrikhô, ông ta nghe tiếng ồn ào của một nhóm người đi qua trước mặt mình. Người ta nói cho ông biết rằng, đó là Đức Giêsu.

"Tôi chưa bao giờ thấy Thánh nhan Người nhưng những kẻ biết Người, đã nói với tôi về Người. Từ ngày đó, tôi mong Người đi qua và tôi nghe nói. Hôm nay Người đến .

Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng ở trong tình trạng của người mù trên : ta chưa bao giờ thấy khuôn măt của Đức Giêsu.


Nhờ đức tin, chúng ta đã tin nói chứng tá của những kẻ biết Người và chúng ta cũng ngóng đợi bước chân Người đi ngang qua" Người "đang đến".
Một ngày nào đó, chúng ta sẽ thấy Người.

Anh ta càng kêu lớn tiếng. Lạy con Vua Đa-vít xin dủ lòng thương xót tôi.

Từ trong bóng đêm của người này một niềm hy vọng cuồng say đã bùng dậy. Bấy giờ anh ta la hét lên. Anh cất tiếng cầu xin. "Xin thương xót tôi". Đó là tiếng kêu cứu của anh. Tiếng Hy Lạp là "Kyrie Eleison". Một truyền thống lâu đời của Giáo hội Đông phương đã dạy các tu sĩ ở Hy Lạp, Libăng, Xy-ri-a, Ai Cập, Cappadoce vùng Sa mạc... phương thế tự thánh hóa mình nhờ "lời cầu xin với Đức Giêsu bằng cách chỉ lặp đi lặp lại cách đơn sơ và không biết mỏi mệt những từ này : lạy Đức Giêsu, xin thương xót. Lạy Đức Giêsu, xin thương xót"... trong trình thuật của Mác-cô, tiếng Hy Lạp là "Ièsou, Éleisón, Lèsou, eléison. . . "

Chữ đầu đọc bằng cách hít hơi vào chữ sau bằng cách thở hơi ra, để nhịp nhàng theo cơ thể một lời cầu nguyện mà người ta muốn tinh thần của lời kinh thấm sâu vào toàn thể cuộc sống. Trong nhiều giờ liên tục, người ta có thể "thở" với Chúa trong ngực của mình. Kiểu cầu nguyện cao cả nhưng rất đơn giản này từ Phương Đông truyền cho chúng ta. Không can phải đi Katmandou mới sống bằng thần khí được, vì thần khí muốn thổi đâu thì thổi. Kỹ thuật đáng thán phục của môn Yoga cũng có thể được những người đơn sơ nhất, sử dụng : vậy chúng ta hãy học cầu nguyện với hơi thở của mình.

"Hỡi con vua Đa-vít" ngày mai, ở Giêrusalem, đám đông dân chúng sẽ cầm cành lá vạn tuế trên tay để tung hô Đức Giêsu (Mc 11,10).

"Bí mật Thiên sai" không cần phải giũ nữa. Giờ đây cái chết của ông "Vua" thuộc dòng dõi Đa-vít đã gần kề. Mọi sự hiểu lầm về chính trị đã được gạt bỏ. Đấng cứu thế đã được chờ đón như là người "sẽ lập lại vương quyền tại Ítraen". Vì Đức Giêsu lên Giêrusalem, mọi người đầu nghĩ rằng, Chúa sẽ lên "nắm quyền". Người là "Vua", nhưng không phải theo kiểu những quốc gia trần thế (Mc 10,42 ; Mt 27,11 ; Ga 18,33-36) Vương miện của Người bằng gai nhọn. Con vua Đa-vít sinh ở Bê lem như tổ tiên, sẽ trị vì ở Giêrusalem như tiên tổ của Người ? Nhưng không phải như đám đông mong đợi. Người sẽ đứng đầu bằng cách làm người sau chót, là nô lệ.

Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng : "Lạy con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi".

Thời nào cũng có những người bắt buộc kẻ đáng thương phải im miệng. Luôn luôn có những hạng người khó mà làm cho kẻ khác hiểu mình : đó là những di dân, những người sống ngoài lề xã hội, những kẻ khuyết tật và những nạn nhân đủ loại. Tiếng kêu của người mù Bác-ti-mê vẫn còn vang lên . .

Đức Giêsu dừng lại và nói : "Gọi anh ta lại đây".

Rõ ràng, đó là một chi tiết. Nhưng chúng ta đừng vội lướt qua mà không tìm hiểu ý nghĩa của nó. Đức Giêsu sai các "môn đệ" bắt đầu phục vụ những kẻ nhỏ bé. Người nhờ các ông chuyển lời mời gọi của Người. Thiên Chúa cần con người Vậy Chúa nói với nhãn loại nhờ Giáo hội của Người. Và Giáo hội, chính là chúng ta, chúng ta có lắng nghe tiếng kêu luôn vọng lên chung quanh chúng ta không ? Chúng ta có dội lại cho người anh em chúng ta tiếng kêu gọi của Chúa hay không ? Để dẫn họ đến với Đấng cứu chuộc duy nhất ? Người ta bàn cãi rất nhiều lần về "vai trò của Giáo hội" : thì chính là vai trò đó ! Bạn hãy lắng nghe tiếng kêu của thế giới. Bạn hãy kêu gọi thế giới, nhân danh Chúa !

Người ta gọi anh mù lại và bảo : "Cứ yên tâm, đứng dậy đi, Người gọi anh đấy".

Ở đây có một từ kỹ thuật Hy Lạp đáng lưu ý. "Đứng dậy" (égeiré) mà đáng lẽ người ta phải dịch là "thức dậy" hay "sống lại" (Mc 2,9-11, 3,3, 5,41, 9,27, 10,49). Đó là sứ điệp của Giáo hội, nhân danh Chúa.

Anh mù liền vất áo choàng lại nhảy chồm lên mà đến gần Đức Giêsu. 

Trong ngôn ngữ Kinh thánh, chiếc "áo ngoài" là biểu tượng cho quyền lực của con người (làm 18,4, 24,6, 2V 2,14, R 3,9). Đụng chạm tới áo ngoài của Đức Giêsu cũng đủ để lành bệnh. Việc người mù vứt bỏ áo ngoài của mình, tượng trưng cho một thứ "đoạn tuyệt với quá khư' của anh. Vào thời Máccô, người vừa được rửa tội, sẽ cởi áo ngoài của mình để mặc áo rửa tội.

Người hỏi : "Anh muốn tôi làm gì cho Anh ?".

Câu hỏi thật kỳ cục, nếu ta chỉ hiểu câu chuyện cách nông cạn. Chắc hẳn, Đức Giêsu biết rõ người mù đang mong đợi điều gì nói Người. Nhưng cảnh này được coi như một lễ rửa tội từ đầu đến cuối : Người dự tòng cần phải được "soi sáng" để tự mình "tuyên xưng Đức tin".

Anh mù đáp : Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được". 

Vào thời Máccô, người ta gọi phép rửa là "việc khai sáng". Đó là bí tích mở mắt.

Lạy Chúa, xin cho con được thấy : Lạy Chúa, xin mở mắt con ra.

Người nói : "Cứ về đi, lòng tin của anh đã cứu chữa anh ; tức khắc anh ta nhìn thấy được và theo Người lên đường".

Phép rửa đó là bước vượt qua từ bóng tối tiến tới ánh sáng. Đó là công cuộc cứu độ .: điều không thể đối với con người, nếu cần dựa vào sức riêng của mình, nay đã trở nên có thể... và đó là bắt đầu theo Đức Giêsu. Luca sẽ nói về các môn đệ làng Em-mau : "Lúc bấy giờ mắt họ mở ra". Vâng, họ đã mù, dù là với đôi mắt mở rộng.

Về phần anh Bác-ti-mê, anh sẽ mãi mãi nhớ "khuôn mặt đầu tiên" mà anh đã thấy, khi mắt anh đã được mở ra. Lạy Chúa, khi nào mắt chúng con sẽ được mở ra. Lạy Đức Giêsu, xin hãy đến !



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Lạy Thầy xin cho con được thấy "


BÀI TIN MỪNG : Mc 10, 46 - 52 

I . Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện chữa lành cho một người mù ở gầy thành Giêricô, có ý diễn tả Chúa Giêsu mở tâm hồn người ta để họ tin theo Người .

II . SUY NIỆM : 

1 / " Chúa Giêsu ra khỏi thành giêricô " : 

* Chi tiết khác nhau về vấn đề " Ra khỏi thành " của Mt 20, 29 và Mc 10, 46 với " Đến gần thành " của Lời Chúa 18, 33 . Lý do là vì : đời Chúa Giêsu có hai thành Giêricô một thành cũ và một thành mới do vua Hêrôđê Cả và Akêlau nới rông và sửa sang lại . Muốn vào thành Giêricô mới thì phải qua thành Giêricô cũ . Khi Chúa Giêsu đi qua thành cũ đến cửa thành mới thì Người chữa cho người mù . Mt và Mc kể Chúa " Ra khỏi thành " rồi mới làm phép lạ có ý nói thành Giêricô Cũ, còn Lời Chúa nói Người làm phép lạ " Khi đến gần cửa thành " là nói đến thành mới .

* " Cũng cùng với các môn đệ và một đám đông " :

Vì gần đến lễ vượt qua nên dân chúng cũng nhập bọn với các môn đệ đi theo Chúa Giêsu từ Galilê để về Giêrusalem mừng lễ .

* " Con ông Timê tên là Bratimê " :

Mt thuật lại có hai người mù ( Mt 20, 30 ) và sự thật là như vậy, nhưng Lc và Mc ở đây chỉ kể lại có một người mù vì các ông chỉ chú ý vào người mù mà người thuật chuyện biết tên tuổi, tức là Batimê con ông Timê, còn người mù kia các ông bỏ qua không nhắc đến .

* " Một người mù " : ám chỉ người chưa có đức tin, còn đang sống trong sự tối tăm vì xa cách Chúa .

* " Đang ngồi ăn xin " : diễn tả một hoàn cảnh đói khổ đáng thương, cần sự giúp đỡ . Ở đây có ý nói đến người chưa có đức tin thì khổ sở đáng thương, cần ơn Chúa soi sáng để nhận biết Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc .

* " Ở vệ đường " đồng nghĩa với " Đầu đường xó chợ " diễn tả một hoàn cảnh bơ vơ không nơi nưng tựa bảo đảm . Ở đây có ý nói đến người chưa có đức tin thì cũng giống như người mù : sống trong sự tối tăm không có ánh sáng chiếu soi, sống bơ vơ bất định, không có nơi nương tựa để bảo đảm sự sống đời đời .

2 / " Hỡi ông Giêsu Con vua Đavít xin thương xót tôi " : 

* Giêsu : là một con người ở Nagiaret, có tính cách khả giác mà người mù nhận ra qua sự nghe biết .

* Con vua Đavít : chỉ tước hiệu Đấng Cứu Thế của dân Israel mà người mù nhận ra được qua niềm tin . Đây là một sự công bố, một lời tuyên xưng Chúa Giêsu gọi là Đấng Cứu Thế . Chính lời tuyên xưng này đã làm cho anh, một con người xa cách vì bệnh mù thể lý biểu hiện sự thiếu vắng đức tin, đến gần Chúa Giêsu để nhận biết Người và đón nhận Người nhờ đức tin .

* Xin thương xót tôi : xin ai điều gì thì tin người đó có điều mình xin . Ở đây có ý nói người mù tin vào Chúa Giêsu là người có quyền chữa anh khỏi bệnh mù .

3 / " Nhiều người mắng anh bảo im đi " : 

Đây là thái độ cản trở có ý nghĩa như những thử thách của đức tin .

* Nhưng anh càng kêu to hơn : chính sự cản trở của nhiều người khiến anh kêu to lên, vì sự xác tín của niềm tin trong lòng đã thúc đẩy anh kêu to lên như vậy . Ở đây diễn tả những thử thách có giá trị tôi luyện làm cho đức tin vững mạnh thêm .

4 / " Hỡi Con Vua Đa vít xin thương xót tôi " : 

Qua lời " Kêu to hơn" này cho ta thấy anh không còn gọi Giêsu, một con người khả giác nữa, những anh trực tiếp tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế . Điều này muốn nói : đức tin phải vượt qua sự khả giác để nhìn thấy cái thâm sâu thiêng liêng bên trong là bản tính Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô .

5 / " Chúa Giêsu dừng lại và gọi anh đến " : 

* Cử chỉ dừng lại : nói lên Chúa Giêsu chấp nhận lời thỉnh cầu của người mù, đồng thời cũng nói lên sức mạnh của đức tin mà người mù đã biểu lộ qua lời thỉnh cầu .

* Và truyền gọi anh đến : đức tin đã đưa con người đến gặp gỡ Thiên Chúa .

6 / " Người ta gọi người mù ..." : 

Hai thái độ tương phản của dân chúng đối với người mù :

* Thái độ quát mắng ở trên nói lên cái nhìn theo kiểu con người thì khó chấp nhận người mù vì anh ở vào thân phận bất xứng với con người vì thời đó có quan niệm mù là hậu quả của tội lỗi .

* Thái độ mời gọi : Chúa Giêsu vừa mới gọi anh mù, tức thì thái độ dân chúng thay đổi vừa mới la mắng anh, bây giờ đổi ra tưởng lệ anh . Điều này muốn nói : đặt ý mình vào ý Chúa, chúng ta sẽ thay đổi cái nhìn đối với tha nhân : Từ cái nhìn " Nghịch " sang cái nhìn " Thuận " với tha nhân .

7 / " Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy đến với Chúa Giêsu " : 

* Áo choàng là vật dụng của những người Đông Phương thường dùng để nhận các tặng vật . Cử chỉ liệng áo choàng biểu lộ sự cởi bỏ đời sống ăn xin đáng thương của thân phận mù loà, và qua đó cũng trình bầy sự từ bỏ đời sống tối tăm của người chưa có niềm tin .

* Đứng dậy : là dấu chỉ của sự biến đổi, biến đổi từ sự xa cách của người thiếu vắng đức tin sang sự gần gũi, gặp gỡ của người đón nhận ánh sáng đức tin đối với Thiên Chúa .

* Đến cùng với Chúa Giêsu : người mù đến với Chúa Giêsu để được sáng, cũng như người chưa có đức tin đến với Chúa để được ơn soi sáng nhận biết Chúa .

8 / " Anh muốn ta làm gì cho anh ? " : 

Chúa Giêsu đặt câu hỏi này có ý gợi lên cho người mù một cơ hội tuyên xưng niềm tin của anh cách công khai và cụ thể .

9 / " Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy " : 

Tiếng lạy Thầy ( Rabbuni ) diễn tả sự tôn kính và thần tính, xác nhận sự gặp gỡ giữa người mù với Chúa Giêsu cũng là sự gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa .

* " Xin cho tôi được thấy " : người mù không xin tiền, không xin gì khác, chứng tỏ ý muốn của anh " Xin cho được thấy " rất mạnh .Ở đây diễn tả lòng xác tín và vững mạnh của niềm tin .

10 / " Được, đức tin của anh đã cứu chữa anh " : 

Chúa có ý nói điều kiện để được Chúa cứu chữa là đức tin . đức tin đem lại cho chúng ta sự sống đời đời . trong Tân ước có rất nhiều trường hợp nói lên sự quan trọng của đức tin :

+ Với người bất toại ( Mc 11, 15 ) .

+ Với hai người mù ( Mt 9, 29 ) .

+ Với người bệnh cùi ( Lc 17, 19 ) .

+ đối với các tông đồ ( Mt 8, 26 ; 16, 8 - 9 ; Mc 4, 4 ; Ga 20, 29 ; Lc 8, 25 ) 

III . ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay Giáo Hội muốn chỉ cho chúng ta thấy : đức tin là điều kiện để Chúa làm phép lạ và do đó những ai muốn đến gặp gỡ Chúa thì phải có niềm tin vào Chúa . Hiểu rõ chân lý này, chúng ta là những người đã có đức tin, cần phải biết bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển đức tin mỗi ngày một triển nở hơn .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a / Xem việc Người làm : 

Chúa Giêsu dừng lại và gọi người mù đến : Chúa có thái độ thông cảm trước cảnh khổ của người mù, khác với thái độ ruồng rẫy của dân chúng . Chúng ta noi gương Chúa để có lòng thương người như Chúa thương ta .

b / Nghe lời Người nói : 

Anh muốn Ta làm gì cho anh ? : hàng ngày Chúa cũng nói với ta qua tha nhân, qua mỗi biến cố sẩy ra cho tha nhân hay cho chính bản thân ta ... để gợi lên cho ta cơ hội tuyên xưng lòng tin, niềm cậy và lòng mến của ta đối với Chúa cách công khai .

2 / Nhìn vào người mù : 

* Người mù ngồi ăn xin bên vệ đường : đây là hình ảnh diễn tả thân phận người mù tối đức tin là cái mù tinh thần .

* Hỡi ông Giêsu con vua Đavít xin thương xót tôi . Người mù tuyên xưng Chúa trước khi Người cứu giúp . Chúng ta nhận ra rằng điều kiện để Chúa ban ơn cứu giúp là đức tin .

* Nhưng anh càng kêu to hơn : người ta càng ngăn cản, anh càng kêu to hơn, thử thách có giá trị tôi luyện đức tin . Vì thế, ta càng gặp thử thách càng phải giữ vững niềm tin vào Chúa hơn .

3 / Nhìn vào dân chúng : 

* Nhiều người mắng anh : đây là thái độ coi rẻ và khinh miệt những người đau khổ hèn yếu .

* Người ta gọi anh mù : đây là thái độ tưởng lệ người đau khổ vì Chúa .

4 / Nhìn vào các môn đệ : 

Người mù tin tưởng vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, đó là gương mẫu của môn đệ Chúa Giêsu .

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn