Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXX Thường Niên C

Tin Mừng Lc  18: 9-14 Qua bài Tin-Mừng hôm nay, Giáo Hội dạy chúng ta phải có lòng khiêm tốn và thống hối khi cầu nguyện để được ân nghĩa với Chúa đồng thời đừng bao giờ tự mãn về sự công chính của mình.
 

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN C



Hc 35,15b-17.20-22a ; 2Tm 4,6-9.16-18 ; Lc 18: 9-14 

 
 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
 
NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ NGƯỜI THU THUẾ (Lc 18,9-14)

1. Trong phúc âm Lc, dụ ngôn người biêt phái và người thu thuế được tiếp đón sau dụ ngôn vị thẩm phán bạo ngược. Không có gì chứng minh hai dụ ngôn này được đưa ra trong cùng một hoàn cảnh. Có lẽ chúng được liên kết với nhau vì có cùng chủ đề tương tự. Mỗi dụ ngôn đều có phần nhập đề đặc biệt. Mạch văn ghi lại những giai thoại cuối cùng trong hành trình tiến về Giêrusalem. Lc giống Mt và Mc ở điểm này. Dụ ngôn xem ra được đưa ra tại Perée hoặc Giuđêa ít lâu trước khi CGS đi tới Giericô lần cuối cùng. Bản văn đã giúp xác quyết các dữ kiện đó. Dụ ngôn chạm trán, không chút vị nể, sự công chính giả hiệu của người biệt phái. CGS đã không đợi đến ngày cuối cùng mới làm việc đó, nhưng đúng hơn ngay khi bắt đầu cuộc sống công khai, tuy nhiên Ngài tránh dịp đả kích.

2. Nhiều nhà chú giải nghĩ rằng CGS muốn dùng dụ ngôn này để dạy về sự cầu nguyện, hoặc bề sự khiêm tốn, hoặc về sự cầu nguyện khiêm tốn, đó là những điểm nhấn mạnh trong những lời chú giải. Họ xây dựng ý kiến đó trên sự kiện dụ ngôn được bao gồm trong một cơ cấu về việc cầu nguyện, theo sau vị thẩm phán bạo ngược và nhất là dựa trên những nét chính dụ ngôn: dụ ngôn không được xây dựng do những lời cầu nguyện của người biệt phái và người thu thuế sao ? Cách chung, các tác giả này xem câu châm ngôn: "Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên" như là câu kết thúc trình thuật dụ ngôn.

Đa số các nhà chú giải cho rằng CGS có lý khác. Khi mô tả người biệt phái cầu nguyện. Ngài không muốn dạy về sự cầu nguyện cho bằng phơi trần hai đời sống nội tâm. Phải chăng lúc cầu nguyện là lúc người ta được coi là chân thành hơn hết đó sao ? Vậy dụ ngôn có mục đích dạy về các giá trị của hai trạng thái tâm hồn, hai thái độ nội tâm, hai mặc cảm tinh thần: mặc cảm của người biệt phái tự mãn về chính mình, về sự thánh thiện của mình và mặc cảm của người thu thuế, tuy là tội nhân, nhưng biết tin tưởng vào lòng thương xót của TC.

Tất cả đều làm nổi bật quan niệm đó: thể văn dụ ngôn đưa ra hai khuôn mặt đối nghịch, chỉ mình CGS mới xét đoán ai công chính, ai không. Câu nhập đề cũng nghiêng theo quan điểm đó: "CGS nói dụ ngôn sau đây với những ai thường tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác". Dụ ngôn dạy những người tự phụ, bằng cách cho họ thấy rõ ràng tính tự kiêu và vẻ hợm hĩnh họ bày tỏ trước mặt TC, trong khi những người bị họ khinh chê, nhờ ăn năn hoán cải, đã được ơn tha thứ và ơn công chính hóa.

3. Thông thường, các dụ ngôn trình bày những sự vật hay con người để dùng bản chất hay việc làm của họ để dạy về các thực thể thuộc bình diện cao hơn. Ngược lại, dụ ngôn hôm nay chỉ là một ví dụ.

CGS đã vắn tắt phác họa hai khuôn mặt nổi tiếng. Không nên có tiên kiến khi phân tích hai khuôn mặt đó. Từ nhiều thế kỷ, người biệt phái đã thành một loại chiên hy sinh (bouc émissaire); một số nhà chú giải còn muốn tô đậm hơn các nét mà CGS đã sơ họa. Chớ làm thế. Một khuôn mặt luôn ngụ một ý nào đó; nếu quá nhấn mạnh nó sẽ thành hài hước và cuối cùng không gây được một cảm tưởng nào.

Ví dụ, khi người biệt phái cảm tạ Chúa vì mình không như những kẻ khác, thật là ép nghĩa khi xem người biệt phái đó muốn đối chiếu bản thân ông là người công chính; bên kia là tất cả mọi người khác, họ đều là người hư hỏng. Nhiều nhà chú giải nghĩ phải hiểu ngầm có thêm câu "như những người khác không phải là biệt phái": cách nói này có thể chấp nhận. Ngoài ra, người biệt phái không xem tất cả các người khác không phải là biệt phái đều là những quái vật. Đừng hiểu cách vô hạn định thành ngữ hoi loipoi tôn ânthrôpôn. Nếu dịch thành ngữ này là "các người còn lại" thì quá mạnh nghĩa; có lẽ nên dịch là "các người khác", hay "quần chúng nói chung". Hoặc nếu muốn hiểu thành ngữ đó theo nghĩa mạnh thì phải xem người biệt phái đã cố ý khoa trương như tác giả Tv (Tv 14,2-3). Việc đối chiếu người đạo đức với các kẻ gian ác là một chủ đề thường gặp trong các Tv (Tv 1,14; 16,17...). Việc người biệt phái có khuynh hướng gán ghép điều ác cho kẻ khác và điều thiện cho bản thân mình là một việc có thể có. Ông sai lầm ở chỗ là tạo nên ảo tưởng đó ngay trước mặt TC. Ông hơi hợm hĩnh, buồn cười, nhưng sự kiêu ngạo của ông không lạ lùng gì, vì thường ai cũng thế.

Và vì hình ảnh người biệt phái có vẻ có như trong thực tế, và vì lời ông cầu nguyện xem ra chính đáng, nên dụ ngôn đã làm cử tọa kinh ngạc và khó hiểu. Sách Tamud ghi lại một lời nguyện ở thế kỷ I khá tương tự với lời nguyện của người biệt phái: "Lạy Chúa là TC của con, con cảm tạ Chúa vì đã cho con nhập bọn với các người đầu đường xó chợ, con đã lên đường sớm như họ: nhưng con sớm đi theo Lời của Lề luật còn họ sớm theo phù vân giả dối. Con từng vất vả như họ: con chịu vất vả để trọng thưởng, còn họ chịu vất vả mà chẳng gì. Con chạy họ cũng chạy: con chạy về sự sống của thế giới mai sau, còn họ chạy về hố thẳm diệt vong (b Ber 28b).

ời nguyện của người Biệt phái do đó là một lời nguyện rút từ cuộc sống cụ thể, và b Ber 28b là lời chú giải chính xác về thành ngữ "con cảm tạ Chúa" của câu 11. Người biệt phái chân thành cảm tạ Chúa đã hướng dẫn đời sống ông. Ông biết rằng chính TC đã cho ông sống khác biệt và tốt hơn người khác, rằng chính Ngài đã cho ông gia nhập nhóm những người biết nghiêm túc tuân giữ các bổn phận tôn giáo. Ông không muốn hoán đổi cuộc sống ông với suộc sống của kẻ khác dù họ có một đời tốt đẹp hơn, vì ông hứa rằng: đường ông đang đi, dù gặp bao khó khăn gian khổ, cuối cùng cũng sẽ đưa đến "sự sống của thế giới mai sau". Đó chẳng phải là những lý do để cảm tạ hay sao (c.12 cũng là lời cảm tạ). Hãy lưu ý thêm điều này: lời nguyện của người biệt phái không chứa đựng một lời van xin gì cả, mà chỉ là một lời cảm tạ, tri ân. Thật là điều tuyệt hảo, không ai mà lại không ao ước như thế. Đó chính là tiền nếm sự sống vĩnh cửu. Cầu nguyện như thế, có gì cần phải sửa đổi ?

4. Chúng ta cũng phải khảo sát lời cầu nguyện của người thu thuế với cái nhìn của người đương thời. Bản văn nói là ông ta không dám nhìn lên và hơn nữa - đây là điều hiểu ngầm - không dám đưa tay lên trời như ông vẫn thường làm khi cần nguyện. Ông cúi đầu và đấm ngực: đây là một cử chỉ hoàn toàn lạ thường biểu lộ một nỗi thất vọng sâu xa. Ông ăn năn đấm ngực, không để ý gì đến nơi đang đứng; ông đau khổ vì thấy mình quá xa TC; hoàn cảnh của ông cũng như gia đình của ông, thật vô vọng, bởi vì để ăn năn hối cải, không phải chỉ từ bỏ đời sống tội lỗi, nghĩa là từ bỏ nghề nghiệp của ông, nhưng còn phải hoàn trả và bồi thường thêm một phần năm những số tiền mà ông đã tham nhũng. Làm sao biết ông đã biển thủ ai ! hoàn cảnh của ông, cũng như lời cầu nguyện của ông, thật là vô vọng.

Chính lúc đó, câu 14a kết luận: "Ta bảo các ngươi, người này ra về khỏi tội, còn người kia thì không ! TC đã tha thứ cho người này mà không tha thứ những kia. Đó chính là câu kết luận khiến thính giả CGS bỡ ngỡ; chắc chắn không ai trong họ ngờ điều đó. Vậy người biệt phái đã có thể làm gì ? Và người thu thuế sẽ phải sửa đổi làm sao ? Nếu bỏ câu 14b (có lẽ là câu kết luận tổng quát Lc thêm vào), CGS không thèm đưa ra một giải pháp nào. Ngài chỉ nói cách đơn giản: đó là cách TC xét xử. Nhưng một cách gián tiếp, Ngài cho thấy lý do tại sao TC xem ra bất công. Trong tiếng kêu đầy thất vọng, người thu thuế đọc lại những câu đầu của Tv 51 (Miserere) và chỉ thêm: "thương xót tôi là kẻ có tội" (một nghĩa đối nghịch): "Lạy Chúa, xin thương xót tôi dù tôi là kẻ tội lỗi" (c.13). Nhưng trong chính Tv 51 này cũng có nói: "Của lễ TC ưa chuộng chính là tâm hồn tan nát khiêm cung" (Tv 51,19). CGS nói TC xử sự như Tv đã viết. Ngài nhận lời những tội lỗi thất vọng và từ chối người chỉ để ý đến sự "công chính" của riêng mình. Ngài là TC của những người thất vọng và lòng thương xót của Ngài vô biên đối với những ai có tâm hồn tan nát. TC thế đó ! và bây giờ, bắt chước Ngài, tôi cũng hành động như vậy.

KẾT LUẬN

CGS đánh đổ niềm tự tin của những kẻ tự xưng là "đạo đức". Họ tự công chính hóa bản thân mình, trong khi đúng ra phải để Chúa công chính bản thân họ, vì chỉ Ngài có thể làm công việc đó.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Qua dụ ngôn này, Chúa đề nghị chúng ta chọn giữa hai thái độ tinh thần, hai cách thức nhận ra tương quan chúng ta với Ngài.

Thái độ của người biệt phái chứng tỏ ông có ý thức về các cố gắng đã chu toàn, các tiến bộ bản thân ông đã thực hiện, khoảng cách giữa tình trạng hiện thời lành thánh và tình trạng khả thể tội lỗi của mình. Ông rất quan tâm đến điều đó và đặt tin tưởng vào những thành tích tinh thần của mình (ăn chay, dâng 1/10 ...) Ông có một cái gì đó để làm chứng trước tòa TC; ông còn thấy mình "chắc ăn" hơn khi sánh mình với những người có thành tích thua mình.

Người thu thuế đo lường khoảng cách giữa tình trạng hiện thời tội lỗi và tình trạng phải trở nên lành thánh của mình; khoảng cách này đối với ông không có gì là rõ ràng cả. Tuy nhiên ông không trì trệ đối với điều đó. Ông kêu van lòng thương xót, ông không tìm cách được công chính hóa bằng một thành tích tốt lành... Xin Chúa hãy hành động.
Người thứ nhất nhìn sau lưng ông và tự mãn bằng sự quảng đại và hiệu quả của những cố gắng riêng mình. Người thứ hai nhìn trước mặt mình và xin TC giúp. Người thứ nhất nhìn chính mình, người thứ hai nhìn TC - và đó là điều cứu vớt ông.

2. TC chúc phúc cho lòng khiêm cung tín thác. Lòng khiêm cung cốt ở chỗ phơi bày tâm tư trước mặt TC. Nó được tạo nên do sự sáng suốt và sự tín thác. Sự sáng suốt soi sáng tâm trí về trạng thức của lương tâm. Nó khám phá ra những bất hạnh lớn lao và xem ra bị vây hãm trong sự thất vọng, chán chường. Thế nhưng sự tín thác đến để nâng đỡ tâm hồn. Khám phá ra sự bất hạnh của mình dưới cái nhìn của TC để biết rằng TC là tình yêu, chính là kêu xin sự tha thứ và lòng xót thương một cách rất bảo đảm. Nếu thành thực, nghĩa là quyết tâm thực hành việc ra khỏi bất hạnh của mình, ta sẽ được tha thứ.

Ngược lại, sự tự túc tự mãn làm mếch lòng TC khi đem ra khoe khoang trước mặt Ngài hoặc người bên cạnh. Ai trong chúng ta lại không bị cám dỗ tự "công chính hóa" trước người bên cạnh, trước mặt những người khác ? Có thực sự chấp nhận đường lối khiêm như làm hài lòng TC ? Chúng ta rất dễ bị cám dỗ nâng mình lên. Thử xem chúng ta phản ứng thế nào khi bị người khác đánh giá quá thấp. Cũng như lòng khiêm như tín thác làm hài lòng TC, sự nhún nhường thành thật khiến chúng ta làm vừa lòng người khác. Trong cả hai trường hợp, tâm hồn cảm thấy dễ dàng đón nhận, trao đổi, vui mừng.

3. Đừng kiêu ngạo hoặc tự đắc về việc đạo đức của chúng ta. Khi tham dự thánh lễ, chúng ta chỉ chu toàn bổn phận tối thiểu của người Kitô hữu. Chúng ta đừng bằng lòng về một sự hiện diện duy hình thức, không hiến dâng thân mình làm hòa với lời nguyện tôn thờ, van xin của phụng vụ, nhưng hãy làm hòa lẫn mọi ý hướng và thái độ nội tâm với mọi nghi lễ, kinh nguyện phụng vụ. Đừng bắt chước kiểu công chính biệt phái: đứng trên cao nhìn xuống phê phán người ta, dù họ có mặt hay vắng mặt. Chỉ mình TC mới thấu triệt các lý do họ hành động, các tâm ý cũng như các khó khăn họ gặp phải. Chúng ta đừng xuất hiện trước mặt TC như những quan tòa phê phán tha nhân, nhưng như những người thờ lạy thống hối, khiêm cung.
 

Noel Quession - Chú Giải
 
 
Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đậy với một số người tự hào cho mình là công chính.

Đức Giêsu thích nói bằng "dụ ngôn" bằng hình ảnh.

Người ta đếm được năm mươi dụ ngôn trong các sách Tin Mừng. Luca kể lại bốn mươi dụ ngôn mà mươi lăm là của riêng ngài. Dụ ngôn về "người Pharisêu và người thu thuế" ở trong số các câu chuyện mà người ta chỉ tìm thấy trong Luca.

Bắt đầu vào câu chuyện, chúng ta thấy Luca chỉ cho chúng ta "người nhận" bức thư riêng này : Đức Giêsu gởi nó cho "những người tự hào mình là công chính". Trong lúc này, không có ý nghĩa gì xấu cả. Là người công chính ư ! Đó là một lý tưởng rất tích cực. Mọi con người xứng đáng với danh xưng này phải mong ước trở nên công chính. Theo nghĩa của Kinh Thánh, từ "công chính" không chỉ có nghĩa như hiện nay tức là "trả cho mỗi người cái gì là của người đó". Thật vậy, trong Kinh Thánh, "là công chính" tương đương "là thánh". Người công chính là người có đời sống phù hợp với ý Chúa. Vâng, quả thật là một lý tưởng của cuộc sống : Sự đúng đắn, sự ngay thẳng, thánh thiện, hoàn hảo. Chúng ta đã quá quen với việc lên án lập tức những người Pharisêu, như thể tất cả những người Pharisêu đều là những người giả hình bẩn thỉu. Thật vậy, tỉ lệ những kẻ giả hình trọng số họ hẳn phải thấp hơn tỉ lệ những kẻ giả hình thuộc mọi nhóm Người. Những người kháng chiến anh dũng chống lại sự đàn áp của vua ngoại bang Antiochus Epiphane có những người thừa kế là người Pharisêu. Vào thời Đức Giêsu, họ vẫn còn là một nhóm trong sạch và thanh cao, những con Người tôn giáo sâu xa, đã trọn đời tin cậy Thiên Chúa, họ có những kiểu sùng đạo và học hỏi Luật, được dân thường thán phục và yêu mến

và có ảnh hưởng sâu rộng đối với dân. Bởi vì "sự công chính" theo nghĩa Kinh Thánh, bao gồm cùng lúc "lòng kính

sợ Thiên Chúa" , nghĩa là sự tế nhị không làm điều gì mất lòng Thiên Chúa cả trong những chi tiết dù rất khó khăn... và sự thương yêu người thân cận" nghĩa là sự tế nhị không làm điều gì có hại cho người thân cận này . . .

Trong khi đọc phần tiếp theo của dụ ngôn, gởi cho "một số người tự hào cho mình là công chính", chúng ta cố đừng quên điều đó.

Chúng ta chớ quên rằng Đức Giêsu được coi là "công chính" ! (Lc 23,47 ; Mi 27,19). Nhiều vị đại thánh của Tin Mừng cũng được coi là "công chính" (Lc 1,6 - 2,25-23,50 ; Cv 10 22).

Vậy thì, cám dỗ tinh vi mà người công chính có thể gặp là gì?

Và bù lại, cơ may tinh vi cho kẻ tội lỗi, không phải là người công chính là gì ?

..Một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác.

Ít ra đây là một điểm trong đời sống họ không được công chính "khinh chê" nào có tốt đẹp gì. Chúng ta đoán được điều đó , Đức Giêsu không thể đồng ý với một tấm lòng khinh miệt. Tấm lòng của Người hoàn toàn dịu dàng và nhân hậu. Thiên Chúa không khinh thị một ai. Một người càng khiếm khuyết, hư hỏng, bệnh hoạn, dị dáng. . .Thiên Chúa càng yêu người ấy. Một Người càng đáng khinh, càng cần được yêu thường bằng một tình yêu không cần đền đáp lại. Thiên Chúa thật mà Đuốc Giêsu mạc khải là Thiên Chúa của những người nghèo khổ, bị bỏ rơi, bị kết án, bị gạt ra ngoài lề, không được yêu thương. Con chiên đi lạc trong những bụi gai bỗng nhiên hoàn toàn chiếm chỗ trong lòng người mục tử .

Khinh chê ư ! Làm thế nào mà người mục tử có thể khinh chê dù chỉ một con chiên của mình ?

Một kinh nghiệm mà ai cũng thấy là một đứa trẻ có tật không những không bị khinh chê mà còn chiếm trong lòng cha mẹ nó một vị trí quan trọng hơn cả những đứa con khỏe mạnh. Làm sao chúng ta ngạc nhiên được ? Chẳng phải là điều rất tự nhiên đó sao ? ôi thật là nghịch lý, tình yêu thuần khiết nhất, vô tư nhất hướng về con người đang cần nó nhất... và xét trong một giới hạn "không thể" đáp trả tình yêu.

Thiên Chúa lúc nào cũng như thế. Tình yêu không tính toán và không đòi đáp trả . Tình yêu tuyệt đối.

Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế.

Như mọi câu chuyện kể ở Phương Đông câu chuyện được phóng đại đến độ thành tranh biếm họa. Đức Giêsu là người kể chuyện thiên tài. Chỉ cần nghe kể một lần, người ta sẽ không quên được.

Đức Giêsu đặt trước mắt chúng ta hai nhân vật đối lập nhau, hai thái cực :

Người Pharisêu, đó là con Người không thể chê trách, người "hành đạo" tốt lành, người công chính...

Người thu thuế, đó là mẫu người tội lỗi : Hình ảnh của sự suy đồi đạo đức. Được giao cho việc thu thuế họ chiếm đoạt thật nhiều tiền và giữ lại cũng nhiều. Đó là những người giàu nhất hạng, không được lòng dân và không còn nghi ngờ gì nữa, bị mọi Người khinh bỉ ! Hơn thế nữa vì nghề nghiệp của họ bắt họ phải đụng đến đồng tiền của La Mã, nên cả ngày họ phải ở trong sự phạm thánh ô uế dưới mắt của những Người Do Thái : Những đồng tiền đều có hình của Hoàng đế kẻ ngoại xâm ! với dòng chữ nói lên tình thần linh của Hoàng đế (ngẫu tượng !). Trong ngôn ngữ thường ngày, người ta liên kết người thu thuế, với kẻ Hội- giáo, dân ngoại và gái điếm (Mt 5,46-47 –18,17).

Người Pharisêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng : "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con".

Đây là một người trung tín và quảng đại. Chúng ta không có lý do gì để nghi ngờ ông ta nói dối. Ong nói điều ông thật sự đã làm. Luật chỉ buộc giữ chay một ngày trong năm vào dịp lễ Yom Kippour : nhưng những người sùng đạo đã tự nguyện thực hành việc sám hối bằng việc ăn chay hai lần trong một tuần lễ Luật buộc nông dân có nghĩa vụ trích một phần mười hoa màu để chăm lo cho người nghèo và cho việc tế tự 'trong đền thờ ? nhưng những người Pharisêu bởi sự tế nhị của lương tâm đã tự ý nộp thuế thập phân một lần thứ hai về số thực phẩm nhỏ nhất mà họ mua (Mt 23,23). Vả lại, lời cầu nguyện của Người Pharisêu tinh truyền : ông ta không cầu xin điều gì . . ông "cảm tạ " Thiên Chúa. . . . đó là lời kinh tạ ơn và Thánh Thể . Vâng, trước tiên phải thán phục con người thanh liêm ấy. Nếu có thêm các ông, các bà sống như thế, hẳn là xã hội sẽ đẹp hơn lên : không trộm cắp, không bất công, không ngoại tình... những người chịu thiệt để đem cho người khác vì tình liên đới... những Người cầu nguyện bằng sự tạ ơn ! Vậy thì, hẳn người ta hạ thấp dụ ngôn ấy và thay đổi vấn đề khi chỉ nhìn trong vị "thánh" ấy một kẻ giả hình che giấu khéo léo cách sống của mình. Nếu Đức Giêsu không trách ông ta về thói giả hình, vậy Người trách điều gì nơi con người xem ra "rất công chính đó ? Và một cách chính xác chủ nghĩa Pharisêu là gì ?

Mới thoạt nhìn, chúng ta không thể không nhận ra tính kiêu ngạo và tự mãn của người ấy. Chúng ta đã nhận thấy ông ta khinh chê những người khác, những người tội lỗi. Nhưng NGÀY NAY thật là quá dễ dàng để áp dụng tính cách Pharisêu, không chỉ cho nhiều loại người. Thời nay, không ai còn muốn xưng mình là Pharisêu.... nhưng điều đó không không tỏ rằng dòng giống Pharisêu đã biến mất. Từ lâu nay, trong bối cảnh vô đạo đức trong đó "những người thu thuế và tội lỗi" bằng lòng về mình và hãnh diện mình như thế : Họ bày sự vô đạo Đức của họ ra một cách vô liêm sỉ, khoe mình không hành đạo, khinh chê những người đề cao một lý tưởng hoặc cố gắng trở nên tốt hơn . . .Hài lòng về mình họ khinh khi "bọn tư sản" hoặc "bọn công nhân", tin chắc mình chiếm hữu các chân lý, lên án những người thuộc "phe tả" , hoặc "phe hữu" . . . Không, chủ nghĩa Pharisêu không chết ! Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì con không như ông chủ nọ trả lương cho công nhân rất tệ . . .hoặc con không như đoàn viên công đoàn kia có tư tưởng quá cấp tiến... hoặc như anh chàng kia có tác phong thật bừa bãi... hoặc như bà già mê đạo nọ, mê đạo đến nực cười, và còn anh chàng kia nữa, sống một cuộc đời đểu cáng...

Lạy Chúa, xin hãy giải thoát chúng con khỏi vô số chủ nghĩa Pharisêu tinh tế của chúng con. Lạy Chúa, xin Chúa giúp con không áp dụng bài Tin Mừng này cho những người khác, nhưng giúp con khám phá ra sự tự mãn, kiêu ngạo của con, cái cảnh mà con khinh chê Người khác" . . .

Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng :Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi..."

Người thu thuế không phán xét kẻ khác. Người ấy phán xét chính mình. Người ấy biết mình có tội . . .

Chúng ta nhận thấy rằng người ấy không lặp đi lặp lại toàn bộ danh sách các lỗi lầm của mình. Người ấy không "xưng tội", chỉ cảm thầy mình bị tội lỗi đè bẹp. Và người ấy nói với Thiên Chúa điều đó. Người ấy không dựa vào sức mình, và công nghiệp của riêng mình. Chúng ta hãy tưởng tượng người ấy nhiều lần cố hoán cải để trở nên tốt hơn : nhưng mỗi lần, lại ngã xuống. Nếu chúng ta đã nhận ra mình trong người Pharisêu. . .thì chúng ta cũng nhận ra mình trong người tội lỗi đáng thương ấy, không tài nào thực hiện được lý tưởng của mình, luôn vấp phải những thói quen của mình và bị cám dỗ trở nên tuyệt vọng.

Nhưng chúng ta có nói lại không ngừng lời cầu nguyện của người ấy không ? "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" .

Tôi nói cho các ông biết : "Người này khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không.Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống i còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên".

Câu phán quyết này phải giáng xuống cử tọa của Đức Giêsu như một tiếng sét. Nhưng Đức Giêsu không cho một lời giải thích nào ! Người để chúng ta đoán ra rằng Thiên Chúa không phải như chúng ta vẫn tưởng. Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa vô tư. Thiên Chúa "đau khổ" với người "đau khổ" vì tội lỗi mình. Thiên Chúa muốn tha thứ. Nhưng người ta không đổ đầy một cái cốc đã đầy rồi ! "Người công chính", trong giới hạn của mình, là người không cần đến Thiên Chúa nữa . . . bởi vì người ấy tự mình xoay xở rất tốt kia mà !

Tất cả bài học của dụ ngôn tuyệt vời này là ở sự chuyển dịch ý nghĩa của từ "công chính" được dùng theo ngôn ngữ Sê-mít ở đầu và cuối bài dụ ngôn. Nói cho cùng, con người không bao giờ là một "người công chính" mà là một "người được công chính hóa" . . . không phải là một người có giá mà là người "được thi ân". "Oi lạy Chúa Cha, sự công chính của chúng con là đón nhận sự tha thứ của Cha, là ân sủng cho người nào không dám ngước mắt lên trời nhưng có tấm lòng nài xin khẩn khoản..."
 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
 
"Người thu thuế ra về được khỏi tội"
 
I. Ý CHÍNH:

Tin Mừng thuật lại hai Người : biệt phái và thu thuế vào đền thờ cầu nguyện: thái độ của Người biệt phái tự mãn về chính mình, về sự thánh thiện của mình, còn thái độ của Người thu thuế, tuy là tội nhân, nhưng biết tin tưởng vào lòmg thương xót của Thiên Chúa .

II. SUY NIỆM :

1. "Chúa Giêsu nói dụ ngôn sau đây với những ai…":

Ngay câu mở đầu đã nói lên chủ đích của dụ ngôn là nhằm chỉ trích những Người hãnh diện về sự công chính của mình (x. Lc 5.23;15.7).

2. "Có hai Người lên đền thờ cầu nguyện…":

Mở đầu giới thiệu hoàn cảnh và nhân vât trong ngụ ngôn:

+ Đền thờ là nơi cầu nguyện của Người Do Thái. Người ta tụ tập ở đền thờ vào những ngày sabbat, ngày lễ, ngày chay để nghe Thánh Kinh, hát thánh kinh và cầu nguyện. Tuy nhiên, mổi cá nhân cũng có thể đến đó lúc khác, như những trượng hợp hai Người vào cầu nguyện ở đây.

+ Một Người biệt phái: đây là hai Người thường hãnh diện về lòng đạo đức của mình và họ giữ luật rất nghiêm ngặt và thích những hình thức rườm rà như đọc kinh dài, may dài tua áo, nới rộng thẻ kinh (Mt 23.3) và họ tự hào cho mình là Người công chính.

+ Một Người thu thuế: đây là hạng Người bi đồng hóa với Người tội lỗi vì họ cộng tác với chính quyền đô hộ Rôma và thường dùng quyền thu thuế của mình để ăn chăn bóp chẹt dân chúng, và làm giào cho bản thân mình. hạng Người này thường bị dân chúng khinh bỉ và xa lánh.

Dụ ngôn niêu lên hai nhân vật đặc biệt có tính cách tương phản để nói lên hai thái độ khát biệt khi cầu nguyện.

3."Người biệt phái đứng thẳng cầu nguyện rằng…":

- Đứng thẳng là bộ điệu Người Do Thái quen làm khi cầu nguyện (Mt 11,25)

- Tôi cảm tạ chúa : Người biệt phái cảm tạ Chúa đã cho ông sống khát biệt và tốt hơn các Người khác.

- Vì tôi không như các Người khác: tự nhận cái tốt cho mình và phơi bày cái xấu của Người khác.

- Hay như tên thu thuế kia: thái độ khinh bỉ Người khác.

Tôi ăn chay mổi tuần hai lần: thường luật chỉ buộc ăn chay vào ngày lễ quốc táng và sám hối(Lv 16.29)nhưng những Người biệt phái và những Người tự cho mình là Người đạo đức đã ăn chay thêm mổi tuần hai ngày( thứ hai và thứ năm) vì họ cho rằng Maisen đã lên núi Sinai ngày thứ năm trong tuần và xuống núi vào ngày thứ hai.

-Dâng một phần mười các huê lợi của tôi : người Do Thái tin nhận Thiên Chúa đã cho họ dồi dào phong phú của ăn, nên họ dâng một số hoa quả đầu mùa tượng trưng để cảm tạ Thiên Chúa. Thuế một phần mười đóng trên các thổ sản như lúa, dầu, rượu (Đnl 14,22) nộp tại đền thờ Giêrusalem, cũng có thể trả bằng tiền (Đnl 14,25).

Phân tích lời cầu nguyện của biệt phái này, chúng ta nhận ra rằng.:

+ Ông coi Thiên Chúa như khán giả để phô trương công nghiệp của ông, đó là thái độ về sự công chính của mình.

+ Ông cầu nguyện, nhưng chỉ để phô trương chứ không cần gì để xin với Thiên Chúa. Đó là thái độ kiêu căng chứ không muốn đón nhận lòng hương xót của Thiên Chúa.

4. "Người thu thuế đứng xa xa…":

Những cử chỉ: Đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực, diễn tả tâm tình khiêm tốn, và thống hối, nói lên nội tâm trạng công chính bên trong. Chính tâm trạng này mà Thiên Chúa đã nhìn xuống và làm cho nên công chính.

5. "lạy Chúa, xin thương xót tôi là kẻ có tội…":

Người thu thuế này cầu nguyện với một thái độ thụ tạo trước mặt Đấng Tạo Hóa: Nhìn nhận là kẻ có tội, trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Và cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa.

6. "Người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không":

Chúa Giê-su muốn nói, lời cầu nguyện của người thu thuế với thái độ khiêm tốn và thống hối nên được ơn nghĩa với Thiên Chúa và được ơn tha thứ, còn lời cầu nguyện của người biệt phái với thái độ tự mãn thiếu lòng khiêm tốn à hoán cải, vì ông chỉ nghỉ đến sự công chính của riêng mình nên khônf được ơn nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa và không được tha thứ. Người biệt phái này tuy tốn về phương diện không sai lỗi luật, nhưng ông không nhận ra rằng những ân tứ ông đang có là do Chúa ban cho chứ không phải tự ông mà có. Cái sai lầm của ông ở chỗ không nhận ra sự công chính là một ân huệ Chúa ban (Pl 3,9) nên ông đã tự mãn về sự công chính của ông.

7. "Vì tất cả những ai nâng mình lên…"

Câu này Luca thêm vào để khuyên người ta sống khiêm nhường, những ai tự mãn liêu căng sẽ mất ân nghĩa với Chúa, ngược lại những ai có lòng khiêm tốn và thống hối sẽ được ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và được ơn tha thứ. Vì Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cáo những kẻ khiêm nhu (Lc 1,25).

I. ÁP DỤNG:

A. Ap dụng theo Tin-Mừng:

Qua bài Tin-Mừng hôm nay, Giáo Hội dạy chúng ta phải có lòng khiêm tốn và thống hối khi cầu nguyện để được ân nghĩa với Chúa đồng thời đừng bao giờ tự mãn về sự công chính của mình.

B. Ap dụng thực hành:

1. Nhìn vào Chúa Giê-su:

a). Xem việc Người làm:

Chúa dùng dụ ngôn để sữa lỗi những người hay tự hào mình là người công chính. Noi gương Chúa đôi khi chúng ta cũng phải dùng phương pháp gián tiếp để sữa lỗi cho tha nhân, vì "Người khôn nóimánh, người dại đánh đòn".

b) Nghe lời Chúa nói:

" Ta bảo các ngươi: Người này ra về được khỏi tội, người kia thì không". Chúa bảo ta hãy nhìn vào thái độ củ người biệt phái mà rút ra kinh nghiệm cho bản thân và noi gương thái độ của người thu thuế để bắt chước khi cầu nguyện.

Nhìn vào dụ ngôn:

a) Xem người biệt phái:

Người này cầu nguyện trong thái độ tự mãn và khinh bỉ người anh em và phô trương và phô trương công trạng của mình và cần gì đến sự trợ gíup của Chúa. Người này ra về thì không được âng nghĩa với Chúa. Chúng ta sẽ không được Chúa nhận lời khi chúng ta cầu nguyện à không có lòng khiêm nhường và tín thác vào Chúa.

b) Xem người thu thuế:

Nhìn nhận mình là người tội lỗi và tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa. "Người này ra về được khỏi tội". Noi gương thái độ cầu nguyện với lòng khiêm nhường và thống hối, chúng ta sẽ được ân nghĩa với Thiên Chúa./.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn