Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXXI Thường Niên A

 Tin mừng Mt 23: 1-12: Trong bài Tin Mừng hôm nay, Matthêu ghi lại việc Chúa Giêsu dạy dỗ dân chúng và các môn đệ qua việc cảnh giác trước những gương xấu của biệt phái và việc khuyên nhủ các môn đệ và dân chúng phải có tinh thần khiêm nhường trong khi thi hành nhiệm vụ của mình...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG  
 
 CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN A    
   
    NGÀY 05/11/2017    
   
   
 
 
  Tin mừng Mt 23: 1-12

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

THÓI GIẢ HÌNH VÀ KHOE KHOANG CỦA KÝ LỤC VÀ BIỆT PHÁI


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đoạn văn này có điểm tương tự nào với Diễn từ trên núi không?

2. Câu 3 phải chăng là lời tán thành thực sự giáo thuyết của Biệt phái và ký lục?

3. Trong Diễn từ về đời sống cộng đoàn ở chương 18, có những câu nào song song với các câu 8- 12?

4. Nơi câu 9, Chúa Giêsu yêu cầu các môn đồ đừng gọi ai là "cha". Vậy phải chăng có đối nghịch giữa lời khuyên này với một vài xác quyết của Phaolô 1Cr 4, 14-15; Gl 4, 19; 1Tx 2, 11; Plm 10; 2 Cr 6, 18) và với thói quen của Giáo Hội thường gán ước hiệu "cha" cho các linh mục?

5. Đối với chúng ta, đoạn văn này có tính cách thời sự không?

1. Trước chương 23, Mt đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về hoạt động thiên sai của Chúa Giêsu lại Giêrusalem, hay đúng hơn tại Đền thờ. Người đã chuyên chú vào việc rao giảng Lời, nghĩa là vào việc giáo huấn (21,23) hay "dạy giáo lý" (22, 33: êpitê didachê). Một khi đã chiếm hữu Đền thờ và đã thanh tẩy nó (21, 12), Chúa Giêsu giảng dạy ở đấy như kẻ có uy quyền. Thính giả của Người chìa làm ba nhóm, ba hạng: môn đồ địch thủ, dân chúng; các môn đồ làm thành một cộng đoàn chặt chẽ quanh Người; địch thủ thì âm mưu chống lại Người; và dân chúng, vốn còn phấn khởi (22, 33), bảo vệ Người khỏi kẻ thù ám hại (21, 46). Đoạn văn chúng ta thuộc về phần đầu của một đoạn ráp nối nhiều lời Chúa Giêsu; đoạn ráp nối này chiếm trọn chương 23 và được nhiều người gọi là "Diễn từ chống Biệt phái ". Phần thứ hai làm nên tâm điểm đặc trưng của nó? với một giọng bài xích kiểu ngôn sứ, Chúa Giêsu thốt lên bảy lời nguyền rủa Biệt phái và ký lục cách mãnh liệt (cc. 13- 36), trong lúc phần đầu là một lời giáo huấn và khuyến thiện dành cho dân chúng và môn đồ (cc. 2- 12). Sau hết, ở phần thứ 3, Chúa Giêsu cáo từ dân Người bằng cách khóc than trên Giêrusalem vốn sắp nếm cảnh tàn phá (cc. 37-39). Và những lời cuối cùng này dẫn đúng ngay vào "Diễn từ cánh chung" (ch. 24- 25).

Đoạn văn chúng ta phân chia thành hai khối đối xứng nhau: họ... (cc.2-7); các ngươi... (cc.8- 12). Một bên là những nét làm nổi bật dung mạo quy ước của "Ký lục và Biệt phái", bên kia là tác phong, kiểu thức phải biểu hiệu tình huynh đệ trong cộng đoàn.

2.Trước tiên diễn từ tỏ ra nhân nhượng Ký lục và Biệt phái: họ, họ thực thi một huấn quyền tôn giáo chính thức trong Israel (câu 2). Tiếng "tòa" (kathedra) là một kiểu nói hoán dụ chỉ một "chức vụ giảng sư". Vào thời văn minh Hy lạp, tư tưởng Do Thái thường quen coi Môisen như một "Tôn sư " (Ga 9, 28) mà Thiên Chúa đã đặt tòa cho trên núi Sinai. Học thuyết các giáo sĩ cũng đã lập ra một loạt gia phả thiêng liêng – làm thành một sợi dây liên tục đi từ Môisen, ngang qua Giosuê, các kỳ mục (x. Xh 24, 1- 2; 9, 11), các ngôn sứ và "các vĩ nhân của Hội đường" đến các giáo sĩ đương thời - cho tất cả những ai từng phát ngôn và giải thích khẩu truyền, những ai có nhiệm vụ bảo vệ và hiện tại hóa Luật thành văn. "Ngự tòa Môisen" diễn tả đúng sự liên tục trong chức vụ ấy.

Phẩm chức cao quý mà Ký lục và Biệt phái đại diện tương phản mãnh liệt với hình ảnh khôi hài các câu sau sắp vẽ ra về họ (cc.3-7). Trong các câu này, người ta liên kết lại, không phải để châm biếm hay chỉ trích thể chế, việc thừa nhận một uy quyền, việc nhắc nhở một trách nhiệm và lời quở trách một sự bất xứng. Đối với một dân tộc không thể không cần huấn quyền tôn giáo, thì các tiến sĩ Luật thời Chúa Giêsu, cho dù đáng chỉ trích, vẫn là những kẻ giảng dạy kế nghiệp Môisen. Nên vì thế, mọi người Israel tốt lành đều phải làm theo điều họ bảo.

Tuy nhiên, có nhiều đoạn trong Mt chê bai giáo huấn của các giáo sĩ ở một vài điểm (12. 1-13; 15,1- 20). Tin Mừng đôi lúc không mấy lưu tâm gọt dùa các góc cạnh gồ ghề của một câu văn trình bày một quan điểm phiến diện. Trong những trường hợp ấy, lời xác quyết quá tuyệt đối của nó cần được đối chiếu với những xác ngôn khác không kém triệt để mà nó lại đưa ra theo chiều hướng trái ngược; chung chung, các câu ấy, thay vì nói nghịch nhau, chỉ bổ túc cho nhau và thế quân bình được tái lập Nói tóm lại, nếu không nên coi đoạn này như là một lời thực sự và đơn giản tán thành giáo thuyết của Biệt phái, thì cũng chẳng nên nghĩ rằng việc bài bác một vài giáo huấn của các tiến sĩ luật có nghĩa là việc phế bỏ quyền bính giảng dạy của họ.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Khi ấy Chúa Giêsu nói với dân chúng và môn đồ của Người rằng". Trong Tin Mừng Nhất lãm, Chúa Giêsu không ngỏ lời trực tiếp với Biệt phái, nhưng với dân chúng và các môn đồ. Điều này thật quan trọng, nó có nghĩa là Người không tấn công chính giáo thuyết Biệt phái, nhưng đúng ra tự đặt mình làm trung gian giữa dân chúng và thủ lãnh xưa nay của họ để giải phóng dân khỏi ách nặng nề mà tinh thần nệ luật của các thủ lãnh ấy đặt trên vai họ. Chắc hẳn vì chính việc chống đối này hơn là vì những điểm đặc thù trong giáo thuyết mà Chúa Giêsu đã bị đẩy vào chỗ chết; đối với các thủ lãnh của dân, Người chẳng những là một tên tà đạo nguy hiểm hay một tên cuồng phái, như nhóm Essêni, những người rất mực khinh bỉ "dân chúng" hay "đám đông" song còn là một kẻ thù trực tiếp chuyên chống lại toàn thể dân Thiên Chúa. Mt nhấn mạnh đến mối tranh chấp này giữa Biệt phái và Chúa Giêsu, vì ông muốn giải thích cho Kitô hữu biết tại sao Chúa Giêsu bị đẩy đến chỗ chết do chính Biệt phái là những kẻ điều khiển sinh hoạt Hội đường vào thời của Người.

"Ngự tòa Môisen": Không nên hiểu động từ "ngự" theo nghĩa bút chiến, như thể Chúa Giêsu quả quyết rằng các Ký lục và Biệt phái chiếm ngự cách trái phép tòa Môisen. Ngược lại bản văn cho thấy là Chúa Giêsu không hề tấn công chính thế chế giáo sĩ, cũng như những kẻ mà Người tố cáo là ký lục giả hiệu. Người khiển trách một điểm khác. Trong Tân ước, từ ngữ kathodra, theo nghĩa tòa giảng sư, chỉ xuất hiện ở đây mà thôi (trong 21, 12 nó có nghĩa là bàn của những người buôn bán); tòa Môisen là tòa của các giáo sĩ, những người có nhiệm vụ giải thích áp dụng bằng cách khai triển luật Môisen.

"Họ nói mà không làm". Trước tiên (nhưng không phải là lần duy nhất), Chúa Giêsu tố cáo địch thủ Người có thái độ bất nhất: giáo huấn họ có giá trị nhưng chính họ lại không trung thành; hữu hiệu tính của giáo huấn họ, trong văn mạch này, mặc hai khía cạnh: một đàng, các giáo sĩ là những người giảng dạy hữu quyền của dân chúng; đàng khác, mọi điều họ nói chẳng phải là sai. Ở đây chúng ta gặp một thái độ đúng là của Do Thái ki tô giáo, chứ không phải là cửa Do thái giáo; vì quả thực, chỗ khác, Chúa Giêsu tấn công chính "men" nghĩa là chính nội dung giáo thuyết giáo sĩ.

Tiếng số nhiều "hành vi của họ" chỉ tất cả tác phong của Biệt phái, chứ không ám chỉ đến một vài thái độ riêng biệt mà Chúa Giêsu khiển trách; ký lục và Biệt phái chẳng phải là gương mẫu xứng đáng của đoàn chiên. Dĩ nhiên, chớ quên rằng đây là một chân dung tập thể, chứ chẳng phải của một cá nhân nào. Vì có nhiều giáo sĩ giữ luật rất tỉ mỉ. Khi cựu Biệt phái Phaolô tự tuyên bố mình vô phương trách cứ trước Lề luật (Pl 3, 6), thì phải nói là ngài rất chân thành. Ở đây, sự nghịch lý là, một cách chính thức, truyền thống giáo sĩ đã luôn luôn nhạy cảm trước sự quàng xiên Chúa Giêsu tố cáo nơi đây: "Học, giữ và thực hành, ngoài ra không cớ gì khác nữa" (Sifré sur le Dt 47), "Ai học mà không thực hành, thì tốt hơn là nó đừng được sinh ra" (Sifré surle Lv 26, 3, 110), "...Torah đã được ban chính là để học, để dạy, để gìn giữ và để chu toàn" (sifré sur les Nb 115), "...Đẹp thay những lời phát xuất từ miệng những người thực hành chúng, đẹp thay người giảng dạy chúng và đẹp thay kẻ đem chúng ra thực hành " (yebamot 8,4).

"Họ có những gánh nặng": "Gánh nặng" mà Biệt phái chất lên vai người ta đối nghịch với "gánh nhẹ nhàng" của vị Thầy những người khiêm hạ (11, 30). Biểu tượng "gánh" gợi lên hình ảnh một tên nô lệ bị đè bẹp dưới sức nặng của một đồ vật mà người ta đây cột kỹ trên vai y nhưng lại không giúp y vác lấy Động từ "bó" chắc hẳn quy chiếu, theo nghĩa bóng, về các halakhot mà các giáo sĩ dùng để áp đặt cho dân những trói buộc lương tâm theo cách giải thích Kinh thánh của họ. Dầu sao, ở đây Tin Mừng không quan tâm đến tính cách nghiêm khắc của kỷ luật (Mt không ghét bỏ thứ kỷ luật đó cho lắm, x 23, 23), nhưng là đến thói giả hình cố ý tạo nên hai đấu: một đấu thuận lợi cho mình và một đấu đòi hỏi cho kẻ khác. Không phải sự bất lực hay tính yếu đuối của Biệt phái, nhưng là ý định xấu xa của họ bị tố cáo chỗ này (ou thelousin: họ không muốn); ta biết động từ "muốn" là một tràng những thuật ngữ của Mt.

"Mọi việc của họ, họ đều làm để được người ta thấy": Yếu khoản tố cáo thứ hai: tính cách quy ngã của các hành vi Biệt phái làm. ở đây Mt lấy lại chủ đề và ngay cả ngữ vựng của phần thứ hai trong Diễn từ trên núi (6, 1-6. 16- 18). Như thường lệ, ý tưởng chính trước tiên được phát biểu (c. 5a) rồi được khai triển trong một vài thí dụ (c.5b-7).

"Thủ phù": Đây là những hộp nhỏ hình vuông bằng da thuộc hoặc da bò con đựng những giải da dê mịn trên đó ghi 4 bản văn Kinh Thánh: Đnl 11, 13- 22; 6, 4- 9; Xh 13, 11 - 16; Xh 13, 2- 10. Thủ phù mặc một ý nghĩa tôn giáo rất cao nếu ta biết lý tưởng mà nó làm dấu hiệu: ghi nhớ không ngừng kỷ niệm của Lề luật Thiên Chúa và lời cam kết tuân theo luật đó. Từ năm 13 tuổi, trẻ em Do thái mang một thủ phù trên đầu và một ở tay trái vào buổi sáng những ngày thường, lúc giờ cầu nguyện, và đọc lên lời chúc tụng sau đây: "Lạy Giavê Thiên Chúa Vua vũ hoàn, chúc tụng Ngài đã thánh hóa chúng con bằng huấn lệnh Ngài và đã truyền cho chúng con mang lấy thủ phù đây". Bản văn chúng ta ám chỉ đến một thói quen của những người Do thái quá sùng đạo mang thủ phù cả ngày và nới rộng các giải kinh để dễ bề trông thấy. Chúa Giêsu không khiển trách việc các giáo sĩ mang thủ phù, nhưng khiển trách việc họ muốn lấy đó phô trương. Cũng thế đối với các tua áo, một thứ chùm lông (bằng len hay lụa) mà, theo quy định của Lề luật (Ds 15, 37- 39) mọi người Israel tốt đều phải mang ở bốn góc áo ngoài, như một lời nhắc nhở thường xuyên các giới răn, phải đem ra thực hành mà Chúa đã dạy. Biệt phái đã làm to đại các tua ấy vì muốn phô trương ta đây đạo đức.

"Chỗ nhất nơi hội đường": Các chỗ nhất này xây lưng lại với tráp Lề luật và quảy mặt về phía dân chúng.

"Cùng bái chào ngoài công trường": Theo quy luật của giáo sĩ, "người ta phải bái chào kẻ trối vượt hơn mình trong việc hiểu biết Lề luật"; thành thử, ưa được bái chào là ưa được công nhận như là trối vượt kẻ khác.

"Rabbi ": Hạn từ hy bá Rab (lớn), vào thời Chúa Giêsu, có nghĩa là "chúa"; người ta thường thêm một tiếp vị ngữ của ngôi thứ nhất: Rabbi ("chúa tôi"). Với thói quen, tiếp vị ngữ này dần dần mất ý nghĩa. Hình như vào hậu bán thế kỷ I, lúc Mt biên soạn Tin Mừng của ông, tiếng "rabbi " này được dùng để chỉ một chức vụ tương đương với chứ( "tiến sĩ") và,'trong nghĩa đó, dùng để gọi các thầy dạy tôn giáo và các chuyên viên lừng danh nhất về Lề luật.

"Còn các ngươi ": Đối xứng với ba thái độ kiêu căng vừa nêu là ba mệnh lệnh truyền dạy đức đơn sơ cho một nhóm người được chỉ định 8 lần (trong bản hy lạp) bằng đại danh từ "các ngươi". Chắc hẳn tiếng này không quy về dân chúng nói chung, nhưng về các môn đồ (x.c. 1) và qua họ, quy về những người hướng dẫn các cộng đoàn Kitô giáo. Qua cung giọng và lời văn, mấy câu này bổ túc cho "bảng hướng dẫn về đời sống tu đức và mục vụ" của chương 18. Trọng tâm của chúng không nằm trên việc cấm chế mọi phẩm trật trong Giáo Hội, nhưng trên các động từ "chớ cho gọi mình, đừng xưng hô ai "; chúng muốn tấn công chính lòng kính trọng đức giáo sĩ (rabbinat). Trong ngôn ngữ sêmita, "được gọi" thường tương đương với "là Do đấy câu 8 muốn bảo: các người đừng muốn là thầy (x Gc 3, 1), đừng tự đặt mình làm thầy giữa các ngươi, vì "thảy của các ngươi chỉ có một". Nếu lưu ý đến tính cách song đối của c. 10 và văn mạch chung của Tân ước (x.Ga 13, 13-14), thì Thầy duy nhất đó không ai khác hơn là Chúa Kitô.

"Đừng xưng hô ai dưới đất là "cha": Mệnh lệnh này xem ra phản đối thói quen gán cho một vài vị hướng dẫn cộng đoàn tước hiệu Abba cùng trong'một ý nghĩa danh dự và xã hội như tước hiệu Rabbi. Rõ ràng là nó không nhắm đến người cha gia đình theo nghĩa đen ~x.Mt l5,4-6; 19~19).:Mệnh lệnh lại càng không chống đối cái truyền thống kỳ cựu - có nơi mọi dân tộc và trong Thánh Kinh - theo đó giữa thấy và trò phải thiết lập một mối liên hệ tương tự mối liên hệ giữa cha và con, khiến họ thường gọi nhau là "cha " và "con " (x.2V 2, 12; Cn 4, 1; 1Cr 4, 14-17; Gl 4, 19; 2Tm 1, 2; Tt 1, 4; 1Pr 5, 13; 1 Ga 2, 1.12). Chẳng hạn như trong các tiến sĩ Israel của 4 thế kỷ đầu hơn 50 vị được mang tước hiệu "Abba". Vì vậy trong các thể chế Kitô giáo, người ta cũng dùng khá nhiều tước hiệu "cha" dưới mọi hình thức (ví dụ: viện phụ, abbé; Đức Thánh Cha, Pape v.v...) theo nghĩa linh tông ấy. Đấy chẳng phải là đi ngược lại Tin Mừng, vì cái quan trọng là tinh thần chứ không phải chữ viết. Nên lưu ý là ở đây cũng vậy, các câu không nhấn mạnh đến sự phủ nhận mọi quyền bính trong Giáo Hội cho bằng là đến mối nguy tạo nên do những "đại nhân vật" chiếm hết danh dự dành cho Thiên Chúa và Chúa Kitô.

Ở giữa ba lời khuyến cáo chống Biệt Phái, lý do của chúng được lặp lại ba lần: Chỉ có một... thầy, Cha, Chỉ đạo). Chiếu theo nguyên tắc ấy, nhân cách của những người lãnh đạo Giáo Hội vừa bị hạ xuống vừa được đề cao: nhân cách đó phải nói lên sự hiện diện của Đấng duy nhất và đồng thời là tấm màn trong suốt không ngăn che Ngài. Cũng thế đối với vị Mục tử duy nhất (Ga), vị Thượng tế duy nhất (Dt). Kitô hữu chỉ xem một con người như thầy, như cha, như thủ lã nh, thư mục tử, như linh mục... trong mức độ con người ấy tham dự vào tư cách của vị Thầy, Cha, Thủ lãnh, Mục tử, Linh mục đích thực.

"Kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên": ý tưởng hạ mình cần phải được giải thích theo ý tưởng phục vụ ở câu trước, vì đây không phải là chuyện tự nhiên ưa thích xóa mình, hay anh hùng phủ nhận bản thân hoặc khiêm nhường đến làm cho mình lụi bại. Theo nghĩa của Tin Mừng, không ai hoạt động và sung sướng vì được hoạt động hơn kẻ phục vụ hết mình. Thì tương lai của 5 động từ vừa có tính cách truyền lệnh (c. 11) vừa có tính cách cánh chung (c. 12): các ngươi phải làm điều đó và Thiên Chúa sẽ trả lại cho các người vào ngày Chung thẩm ("bị hạ xuống" và "được nhắc lên" là những thể thụ động diễn tả hành động của Thiên Chúa). Thành thử các động từ này không mô tả một định luật tâm lý hay xã hội tự nhiên cho rằng định mệnh con người có thể thay đổi.

KẾT LUẬN

Óc tham vọng, tính háo danh nói lên cái tinh thần thống trị của một quyền bính đã tách khỏi nguồn gốc của mình, đã chiếm đoạt những quyền lợi chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa. Khi vạch trần các tính xấu của Hội đường, Chúa Giêsu muốn đề phòng Giáo hội Người cho khỏi nhiễm lây chúng, vì tính cách chính thống, vô hồn, tinh thần câu nệ hình thức, óc giáo sĩ trị bao giờ cũng vẫn là những cám dỗ lớn cho Giáo Hội; Giáo Hội chỉ có thể thoát khỏi chúng khi luôn nhớ rằng mình chỉ là "nữ tỳ của Chúa" (Lc 1, 38), tuân phục một mình vị Chúa độc nhất ấy mà thôi, Đấng không chấp nhận một chia sẻ nào (Mt 6, 24); uy quyền đích thực của Giáo Hội chỉ có khi Giáo Hội biết hạ mình theo gương Chúa Kitô. Đấng vốn là lớn hơn cả nhưng đã hóa thành kẻ bé nhất, là người đầu song đã tự: trở nên kẻ rốt hết, là Thầy và là Chúa nhưng đã trở thành kẻ phục vụ mọi người (Mt 20, 26-27; Lc 22,24-30; Ga 13, 13- 16).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Chúng ta cảm thấy gì khi nghe lời Chúa Giêsu chỉ trích Biệt phái? Phải chăng là thỏa mãn vì nghĩ rằng nó nhắm đúng vào những Biệt phái đời nay mà chúng ta biết rõ? Nhưng đấy không phải là dấu chỉ của một lòng kiêu hãnh nào đó sao, lòng kiêu hãnh muốn quả quyết rằng nhờ ơn Chúa, tôi không thuộc hạng người như vậy? Nếu chúng ta ra khỏi nhà thờ mà trong lòng tự khen mình không phải là Biệt phái, thì đó thật là một dấu hiệu chẳng mấy tốt lành. Môn đồ đích thực của Chúa Giêsu, kẻ biết lòng mình rất yếu đuối và dễ buông theo đàng tội lỗi thì bao giờ cũng hiểu rằng mình đang mang trong người mọi gốc rễ của Biệt phái, hiểu rằng bổn phận đầu tiên của mình là tự tra vấn hơn là tự hỏi ai là Biệt phái trong xứ đạo.

2. Chúng ta cũng vậy, mỗi người tùy theo vai trò xã hội, tuổi tác phái tính, kiến thức, chúng ta đã chẳng từng đòi hỏi một lòng kính trọng nào đó, một sự tán thành công khai, hay hơn nữa, một sự vâng phục và tùng quyền nào đó sao? Thanh danh và tăm tiếng là một điều tốt, nhưng nỗi lắng lo quá độ về tiếng tăm là một chuyện không hay gì. Sự đòi hỏi lòng vâng phục từ phía cha mẹ là một điều tốt khi nó phát xuất từ tinh thần hiền lành và bác ái, nhưng lại trở nên xấu và hoàn toàn có tính cách biệt phái lúc chỉ là một cái cớ để tỏ uy quyền và áp đặt ách thống trị.

3. Khi phê phán và khinh bỉ tha nhân bằng cách đòi hỏi họ phải có một thái độ khác, chúng ta đã đặt một gánh nặng trên vai họ và đồng thời tránh đặt lại vấn đề chính mình rồi. Thật ra, chúng ta có thể nhận ra chính mình trong chân dung Chúa Giêsu mô tả về Biệt phái.

4. Phẩm trật của Nước Trời không ở trong kiến thức cũng chẳng nằm trong khả năng chuyên môn hay trong việc điều khiển, nhưng là trong việc phục vụ. Trong Nước Trời, không ai là chủ, chẳng ai có quyền thống trị kẻ khác, tất cả chúng ta đều là anh em. Ngay cả việc hành xử uy quyền, cho dù thuộc phạm vi dân sự hay tôn giáo, cũng chỉ là một hình thức phục vụ. Ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng tự gọi là "tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa".

5. "Kẻ lớn nhất sẽ là người phục vụ", Chúa Giêsu đã nói thế. Rõ ràng đấy là vấn đề tập luyện một đức khiêm nhường nào đó. Tiếng "sẽ là" chỉ rõ đây là tình trạng mà chúng ta phải đạt cho được chứ chẳng phải là tình trạng tự nhiên. Thành thử chúng ta không thể nào không chống lại cơn cám dỗ muốn thống trị, muốn đè bẹp tha nhân, chống lại cơn cám dỗ muốn tỏ ra mình quan trọng mà làm thiệt hại cho kẻ khác. Tuy nhiên đức khiêm nhường trong phục vụ không phải là việc dẹp bỏ những khả năng tự nhiên hay là sự từ chổi hoạt động và phát triển, nhưng là một thứ tâm trạng, một niềm xác tín rằng mình chỉ là một dụng cụ mà ước muốn duy nhất là trở nên ngoan ngoãn trước sự thúc đẩy của Thánh Thần.

6. Có một tiêu chuẩn cho phép ta nhận biết mình có trung thành với những lời khuyên nhủ khiêm nhường mà Chúa Giêsu vừa ban cho ta không? "Vậy mọi điều họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm theo và giữ lấy" hay nói cách khác: "Các ngươi hãy có đủ lòng đói khát sự thật và công chính để phân biệt điều thiện bất cứ đèn từ đâu ". Một Kitô hữu thật sự khiêm nhượng không bao giờ từ chối lời lành của một người nào đó, lấy cớ rằng kẻ ấy chẳng sống phù hợp với lời họ bảo, rằng họ giả hình hay khoe khoang. Vì Chúa có thể dùng họ để làm cho chúng ta tốt hơn.


 

Noel Quession - Chú Giải



Các kinh sư và người Pha-ri-sêu ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ...

Bản văn này là một phần cuộc tranh - luận mạnh mẽ giữa Đức Giêsu với những quyền bính tôn giáo ở Giêrusalem: cuộc khổ nạn sắp đến gần và chúng ta biết rằng sự khước từ của các thân hào ở thủ đô là một trong những nguyên nhân cái chết của Đức Giêsu.

Vào thời kỳ Mát-thêu viết Tin Mừng của ngài, cuộc tranh luận nổ ra một cách bi thảm: Sau khi Đền thờ bị phá hủy vào năm 70, các người Pha-ri-sêu đã trở thành nhóm duy nhất còn tồn tại có tổ chức... và được quy tụ lại ở Giam-ni-a (Giáp nê), họ chính thức tuyệt thông với những người Do Thái theo Kitô giáo, coi những người này như những người lạc giáo và trục xuất họ ra khỏi Hội Đường Do Thái.

những nhận xét về -lịch sử này, tuy vậy, không cho phép chúng ta nghĩ rằng Mát-thêu chỉ đơn thuần nghĩ ra các cuộc tranh luận chống Pha-ri-sêu ấy. Đức Giêsu rõ ràng đã chết vì chống đối lại một số thủ lãnh tại thủ đô. Điều đó không có nghĩa là tất cả những người Pha-ri-sêu đều đáng bị lên án. Và trong bất kỳ trường hợp nào, điều đó không thể nuôi dưỡng một cuộc bút chiến chống Do Thái. Vả lại chúng ta nhận thấy rằng, trong câu đầu tiên Đức Giêsu khuyên "thực hành và tuân giữ những điều các kinh sư và Pha-ri-sêu giảng dạy". Vì thế Người thừa nhận họ có thẩm quyền trong kiến thức về Luật của Thiên Chúa. Đức Giêsu không phê phán học thuyết và những nguyên tắc của người Pha-ri-sêu. Người yêu cầu chúng ta áp dụng những điều họ dạy.

Nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm.

Nếu Đức Giêsu tán đồng lý tưởng mà các Pha-ri-sêu đòi hỏi, thì Người lại trách họ rõ ràng đã không đem lý tưởng đó ra thực hiện cho đủ. " Vậy có một sự nghịch nghĩa khi tiếp thu tư tưởng của Đức Giêsu để biện minh cho thái độ bừa bãi trên bình diện thực hành tôn giáo. Người ta còn nghe quá nhiều những lời biện minh dễ dãi: "Tôi không đi dự thánh lễ bởi vì các Kitô hữu không tốt hơn những người khác... đó là những người Pha-ri-sêu! Chính Đức Giêsu không phê bình những người Pha-ri-sêu vì họ "thực hành" quá nhiều nhưng vì họ thực hành không đủ lý tưởng của họ.

Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.

Chúng ta thấy lại một nét nổi bật của Đức Giêsu: Người bênh vực những người nhỏ bé, nghèo nàn, yếu đuối. Các kinh sư là những học giả. Ngày nay hẳn người ta gọi đó là những nhà trí thức, những người biết rành về Kinh Thánh. Những người Pha-ri-sêu đúng ra là những người sùng đạo. Ngày nay, người ta sẽ nói đó là những chiến sĩ, những người dấn thân để biến đổi xã hội. Nguy cơ lớn của học giả và người quảng đại là họ rất đòi hỏi những người khác khi áp dụng những nguyên tắc cao cả của họ cho các tập tục bên ngoài, thay vì xét lại chính bản thân mình. Canh tân người khác luôn luôn dễ hơn hoán cải chính mình.

Lạy Chúa, xin giúp đỡ chúng con luôn sống nhân từ với người khác và khắt khe với chính chúng con. Xin làm cho chúng con gánh bớt gánh nặng của người khác và chớ để chúng con thành một gánh nặng cho những người xung quanh chúng con…

Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội trường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi".

Những hộp kinh là những hộp nhỏ chứa những bản văn Kinh Thánh mà người ta dùng dây cột ở trán và cổ tay: đó là một cách để nhớ lại lời Chúa (Xuất hành 13,9-16; Đệ nhị luật 6,8-11,18). Những tua áo ở lai áo cũng là một cách để nhắc người ta nhớ đến những điều răn của Thiên Chúa (Dân số 15,37; Đệ nhị luật 22,12).

Tập tục này giống với tục lệ đeo huy chương, vòng cổ, nhẫn.

Đức Giêsu không lên án những tập tục này tự nó. Chính Đức Giêsu cũng mang những tua áo (Mát-thêu 9,20 - 14,36). Nhưng ở đây Đức Giêsu công kích thói tự kiêu vặt vãnh về tôn giáo: Người ta khoe khoang lòng sùng đạo của mình. Người ta tìm cách để được chú ý. Người ta đặt mình ra trước, chạy theo vinh hoa, phô trương thói kiêu căng hão huyền, tìm kiến những đặc ân đặc quyền ….Tất cả đều là một khuyết điểm mà thôi nào -cũng có. Mỗi thời đại theo cách của thời đại đó.

Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "ráp-bi"...

Công thức này chỉ cho chúng ta thấy rằng Đức Giêsu hơn tất cả những người Pha-ri-sêu của thời Người và quả thật, đây là lời Người nhắc nhở- các môn đệ của mình. Thay vì lúc nào cũng áp dụng Tin Mừng cho những người khác, ví dụ như thay vì lên án những người giảng đạo nói mà không làm..." bó những gánh nặng mà chất lên vai các tín hữu... " thì chúng ta phải trở lại với chính mình: Phần anh em, đừng bắt người ta tôn xưng mình, cho mình được hưởng đặc quyền.

Còn tôi, cái cách của tôi làm cho tôi rơi trong sự lệch lạc ấy là gì?

Vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em là anh em với nhau.

Đức Giêsu lên án thói tự phụ rằng chúng ta phải là những người nắm giữ chính thức học thuyết đúng nhất. Chỉ một mình Thiên Chúa mới dạy chân lý tuyệt đối. Phần chúng ta, chúng ta chỉ đến gần chân lý ấy mà thôi. Còn tất cả anh em là anh em với nhau, Công thức này ngắn gọn, đầy những yêu sách. Đây là một yêu cầu về sự bình đẳng sâu xa giữa chúng ta với nhau: Một lần nữa, tôi phải áp dụng cho chính tôi những lời ấy: tôi có xu hướng muốn thống trị ai? Tôi có xu hướng muốn nhìn ai một cách ngạo nghễ, muốn khinh bỉ, phán xét ai?

Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời.

Mỗi lần mà Đức Giêsu truyền cho chúng ta có những thái độ trên bình diện đạo đức (làm điều này... không làm điều kia...), Đức Giêsu đều dùng các thái độ và xác tín của đức tin để nâng đỡ chúng. Ở đây yêu sách về sự bình đẳng bắt nguồn trong sự phụ thuộc của chúng ta trước Thiên Chúa. Đức Giêsu không đòi bãi bỏ mọi phẩm trật, quyền bính, tình phụ tử nào có thể thay thế cho Thiên Chúa. Đây là một yêu sách triệt để của tự do? Mọi con người đều có quyền gặp Thiên Chúa một cách trực tiếp. Không một thế phẩm nào được thay thế cho Đấng Duy Nhất, Đấng có thể cứu chuộc con người. Vâng, đối với Đức Giêsu việc gặp gỡ tình yêu của Chúa Cha, ở trên trời rất quan trọng đến độ mọi tấm chắn kính lọc, mọi sản phẩm thay thế mọi thế phẩm bất kỳ nào xem ra đều có hại. Đừng gọi ai dưới đất này là "cha"! Chắc chắn người ta có thể cho một người tước hiệu này nhưng không nên vì thế mà bị giam hãm trong mối quan hệ ấy, và trở thành ấu trĩ như trẻ con. Đức Giêsu biết rằng "chỉ có" Thiên Chúa mới là Thiên Chúa.

Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô…

Đây cũng là lời cảnh báo tương tự không nặng được nhắc lại dưới những hình thức khác nhau. Xuyên qua những công thức ấy, chúng ta đã chẳng có thể khám phá chính điều chủ yếu của lời giáo huấn sao? Người lãnh đạo không phải là người lôi kéo người khác đến với mình nhưng lôi kéo người khác đến với chân lý.

Nhà giáo dục Kitô giáo, theo một ý nghĩa sâu xa hơn chỉ thật sự thành công trong việc giáo dục nếu người ấy có thể dẫn học trò mình bước vào quan hệ trực tiếp với Đức Giêsu. Trách nhiệm của cha mẹ, các nhà giáo dục và các linh mục vì thế rất nặng nề và kỳ diệu: một ngày kia họ phải tự quên mình là "thầy", bởi vì học trò mình đã tìm thấy vị Thầy duy nhất, vị "Lãnh đạo" duy nhất. Cuối cùng, một người dạy giáo lý chỉ đạt được mục đích khi dẫn đưa người học giáo lý đến kinh nguyện cá nhân để gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa. Và một nền giáo dục chỉ thật sự đạt được mục đích của nó nếu người được giáo dục một ngày kia có thể không cần đến nhà giáo dục nữa để hướng dẫn cuộc đời mình trong sự tự do hoàn toàn và dưới cái nhìn nội tâm của vị Thầy duy nhất.

Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ xuống, sẽ được tôn lên.

Công thức này làm ngạc nhiên, dễ nhớ vì tính chất nghịch lý, là một trong số những câu mà Đức Giêsu đã phát biểu. một cách rõ ràng dễ nhớ nhưng người ta không thể xác định vào thời điểm chính xác nào trong sự giảng dạy của Người. Thật vậy, người ta tìm thấy câu ấy trong những văn cảnh khác nhau. Trong Mát-thêu (20,26) để gạt bỏ tham vọng của các con trai ông Dê-bê-đê: Trong Luca (14,11), để mời gọi các môn đệ không nên chọn chỗ nhất ở bàn tiệc. Trong Luca (18,14), để phục hồi danh dự cho người thu thuế trước sự tự mãn của người Pha-ri-sêu. Dù sao, tư tưởng ấy chắc chắn là một xác tín của Đức Giêsu mà Người đã không ngừng nhắc lại trong những trường hợp khác nhau…

Do đó nó không phải là một phương tháp hành văn của các tác giả Tin Mừng nào. Dẫu sao công thức ấy mạnh mẽ và tra hỏi chúng ta những bản năng tự tôn của tôi là gì? Những công việc phục vụ của tôi là gì?


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Họ nói mà không làm"


I. Ý CHÍNH:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Matthêu ghi lại việc Chúa Giêsu dạy dỗ dân chúng và các môn đệ qua việc cảnh giác trước những gương xấu của biệt phái và việc khuyên nhủ các môn đệ và dân chúng phải có tinh thần khiêm nhường trong khi thi hành nhiệm vụ của mình.

II.SUY NIỆM:

1/ "Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ...":

Chúa Giêsu dạy dỗ dân chúng và các môn đệ bằng cách nêu lên những thói hư tật xấu của các biệt phái để cảnh giác. Vì thế ở đây cho ta thấy Chúa Giêsu không trực tiếp tấn công giáo thuyết của biệt phái, nhưng có ý giải thoát dân chúng và các môn đệ khỏi ách nặng nề mà tinh thần vì luật của các biệt phái đã đặt trên vai họ.

2/ "Các luật sĩ, biệt phái ngồi trên toà Maisen"

"ngồi trên toà Maisen": có nghĩa là những người kế vị Maisen thì có quyền chính thức giải thích luật Maisen. Chúa Giêsu công nhận các luật sĩ và các biệt phái có quyền chính thức. Vì thế dân chúng và các môn đệ phải lắng nghe và tuân giữ những lời họ nói. Nhưng tiếp theo Chúa Giêsu lại cảnh giác dân chúng và các môn đệ về gương xấu của các luật sĩ và biệt phái là họ nói mà không làm, tức là họ biết dạy những điều hay lẽ phải mà họ không thực hành. Họ là những người ngôn hành bất nhất.

3/ "Họ buộc những bó nặng"

Chúa Giêsu trưng ra những thói xấu của các luật sĩ và biệt phái:

a)"Buộc những bó nặng vác trên vai người ta."

Người Do Thái thường dùng những chữ "bó nặng, gánh nặng, ách..." để chỉ lề luật cùng những điều nặng nề của truyền thống Do Thái (Mt 11,28-30). Ở đây có ý nói các luật sĩ và biệt phái dạy dỗ và đòi hỏi người ta giữ luật lệ cách tỉ mỉ và nghiêm khắc nhưng họ lại dễ dãi với chính mình.

b)"Mọi công việc họ làm..."

Nêu lên những thói xấu hám danh, cầu lợi hão huyền của các luật sĩ và biệt phái:

- Nới rộng thẻ kinh thẻ kinh đây là những miếng da mỏng, trên có viết bốn đoạn Kinh Thánh quan trọng (Xh 13,1-10;13,11-16. Đnl 6,4-9; 11,13-21). Thẻ kinh có mục đích rất tốt là nhắc nhở người ta luôn nhớ đến luật Chúa. Người Do Thái thường hay đeo thẻ này trên trán hay tay trái mỗi khi đọc kinh cầu nguyện, các luật sĩ và biệt phái đeo những thẻ này dài hơn rộng hơn vá các nét chữ đậm màu hơn để được người ta chú ý và cho mình là đạo đức. May dài tua aó: Áo khoát ngoài của người Do Thái như tấm khăn mỏng, 4 đầu dính tua bằng len làm giải buộc có màu tím tượng trưng trời, mục đích nhắc người ta nhớ đến giới răn (Ds 15,38-41. Đnl 22,12). Chính Chúa Giêsu cũng mang tua aó (Mt 14,36.Mc 6,56. Lc 8,44). Các người Do Thái đều mang tua áo, nhưng các luật sĩ và biệt phái thì tăng kích thước quá đáng để có ý kheo mình là sốt sắng đạo đức hơn người.

c) "Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc..."

Tính háo danh của cac luật sĩ và biệt phái còn thúc đẩy họ đến những tham vọng đáng trách khác nữa, chỉ mong được biệ đãi mọi nơi: nhất là trong những đám tiệc, chỗ hội đường hay những chổ phố xá công trường.

- Trong các đám tiệc hay hội đường, người Do Thái thường xếp chỗ ngồi theo tuổi tác và chức vụ hay tài trí. Tuổi tác và chức vụ là cái dễ nhận ra, chứ tài trí khôn ngoan thì khó nhận ra. Các luật sĩ và biệt phái đi đâu cũng muốn tỏ ra mình là người tài trí khôn ngoan nên thường ưa những chỗ cao ghế nhất.

- Ưa được bái chào nơi đường phố. Người Do Thái thường có thói quen chào người trên của mình trước. Các luật sĩ và biệt phái ưa được bái chào nơi đường phố vì họ thích được nhận biết như là người trên của mọi người.
Được người ta xưng hô là thầy:" Thầy" là tước hiệu xưng hô những bậc thầy dạy về đạo hay lề luật.

4/ "Phần các ngươi..."

Sau khi nêu lên những khuyết điểm của các luật sĩ và biệt phái đến đây Chúa Giêsu muốn dạy dân chúng và các môn đệ phải có thái độ ngược lại.

- Chữ "Thầy, Cha, người chỉ đạo": là ba danh xưng có nôi dung gần giống nhau.

Khi nói"Một Cha trên Trời" Chúa Giêsu có ý chỉ Chúa Cha. Còn khi nói "chỉ có một thầy, một người chỉ đạo" là có ý nói Đức Kitô.

Chúa Giêsu có ý dạy, chỉ có một Thiên Chúa tự bản tính là Cha, là Thầy, là người Chỉ đạo. Vì vậy khi có ai nói được người ta gọi là Cha, là Thầy, là người Chỉ đạo, thì có nghĩa là những người đó được thông phần vào tước hiệu của Chúa là do Chúa ban cho, chứ kkhông phải tự nhiên mà có. Vì vậy các môn đệ tuy vẫn làm công việc của bậc thầy là đi dạy dỗ dân chúng, nhưng họ không được kiêu căng, tự phụ, hám hư danh. Vì họ làm các công việc đó nhân danh Chúa Kitô (Gc 3,1. 1Cr 12,29. Đnl 1,10-11).

Những chữ Cha, Thầy, Sư dùng trong trật tự xã hội như gia đình học đường hay tôn giáo đều có nghĩa như một sự thông phần vào chức Cha, Thầy, sư đích thực là Chúa Giêsu và Thiên Chúa. những người làm những chức vụ ấy cần ý thức mình thi hành chức vụ đó như đại diện của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu. Chỉ những người coi quyền đó như của riêng mình, không bioết gì tới Chúa và luật lệ của Ngài mới đáng chê trách.

5/ "Trong các ngươi ai quyền thế hơn..."

Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ phải khiêm nhường, tự hạ và biết tôn trọng người khác. Cộng đồng Vatican II và tiếp sau đó là Giáo luật mới đã nêu cao tính cách phục vụ của quyền bính trong Giáo Hội (GH số 27,36,40...).

6/ "Hễ ai tự nhắc mình lên..."

Chúa Giêsu muốn nhắc đến thái độ phục vụ. Người nào muốn phục vụ tha nhân, cần phải hạ mình xuống và như vậy càng phục vụ càng có nhiều công phúc trước mặt Chúa và sẽ được Chúa nâng lên.

Kiểu nói " sẽ bị hạ xuống, sẽ được nâng lên" là những thể thụ động, diễn tả việc thưởng phạt của Thiên Chúa.

III.ÁP DỤNG:

A) Ap dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta cần phải tránh lối sống đạo vụ hình thức, chỉ biết ham danh trục lợi, nhưng phải biết sống khiêm nhường, và phục vụ vì danh Chúa.

B)Ap dụng thực hành:

1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:

a) Người làm lớn nhất nhưng đồng thời cũng phục vụ nhiều nhất là Chúa Giêsu.

b) Nghe lời Chúa nói:

- Vì họ nói mà không làm: Chúa dạy ta khi nói đúng, suy nghĩ đúng, cũng chưa đúng, mà còn phải làm đúng nữa mới đúng thật.

- đừng muốn được người ta gọi là thầy Chúa nhắc nhủ ta khi giữ nhiệm vụ dạy dỗ, rao giảng phải hết sức khiêm hạ nhận mình là người thừa hành của Chúa, chứ đừng tạo cao tự đạiđể rồi tự coi quyền đó như của riêng mình.

- Ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các người: Chúa nhắc nhở rằng quyền bính trong Giáo Hội là để phục vụ chứ không để hưởng thụ. Vì thế càng có trách nhiệm càng phải làm việc nhiều hơn, chứ đừng hữu danh vô thực.

Hễ ai nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống khi tự cho mình là cao, là hơn người khác để rồi không giúp đỡ gì cho ai thì ta chẳng có công trạng gì trước mặt Thiên Chúa, nên sẽ bị trừng phạt trong ngày phán xét.

Ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên: càng tỏ mình phục vụ càng nhiều công phúc, nên sẽ được Chúa thưởng công.

2/ nhìn vào cá luật sĩ và biệt phái:

Giữ tiến gtốt cho bản thân là điều tốt nhưng quá lo lắng về danh giá lại là điều xấu.

Mỗi người trong chúng ta cũng có họ hàng với biệt phái: nói mà không làm hoặc làm bên ngoài cho người ta thấy.

Khi sử dụng quyền bính hoặc thi hành trách nhiệm, người ta dễ có khuynh hướng cho mình là quan trọng muốn lấn áp người khác./.


 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Hãy Sống Trong Sự Thật.



Bài đọc: Mt 1, 4b-2, 2b. 8-10; 1Tx 2, 7b-9. 13; Mt 23, 1-12

Đêm kia tại một làng đánh cá bên Ấn Độ, một ngư phủ nghèo lẻn vào trong hồ cá của một người nhà giàu để thả lưới. Nhưng chưa kịp kéo lưới lên thì bị người giàu phát hiện. Người này cho gia nhân bủa đi khắp nơi quanh cái hồ mênh mông của mình để bắt cho bằng được tên trộm.

Đám gia nhân đốt đuốc đi tìm khắp nơi mà không thấy bóng dáng tên trộm đâu cả.Trong khi đó thì anh ngư phủ nghèo lấy tro rắc lên đầy mình và đến ngồi dưới một gốc cây gân đó y hệt một nhà hiền triết hay một đạo sĩ.

Sau nhiều giờ tìm kiếm, đám gia nhân không thấy kẻ trộm mà chỉ thấy một đạo sĩ ngồi dưới gốc cây đang đắm mình trong suy tư và cầu nguyện. Chỉ một ngày hôm sau tiếng đồn đã vang đi khăp nơi rằng có một đạo sĩ đang tu luyện dưới gốc cây bên bờ hồ của nhà phú hộ.

Thế là thiện nam tín nữ từ các ngã đường đổ xô đến gốc cây ấy để chiêm ngưỡng vị tu hành. Người thì mang hoa quả, kẻ thì mang tiền bạc. Không mấy chốc mà quà cáp đã tuôn đổ tràn lan quanh nhà tu hành bất đắc dĩ.

Nhà tu hành mới nhủ thầm trong bụng: Thà đánh lừa bà con để sống còn hơn là đánh cá suốt ngày mà chẳng được gì. Nghĩ như thế rồi, ông ta tiếp tục đóng vai tu hành, ngày đêm tụng niệm và chờ đợi sự tiếp tế của dân làng.

Anh chị em thân mến,

"Chiếc áo không làm nên thầy tu". Người đánh cá bất đắc dĩ phải trở thành vị tu hành trên đây có thể là một hình ảnh không xa lạ bao nhiêu đối với chúng ta. Một cách nào đó, có khi chúng ta cũng sơn vẽ cho mình một nước áo đạo đức để đánh lừa bà con và đánh lừa chính mình như những người Luật Sĩ và Pharisiêu giả hình mà hôm nay Chúa Giêsu kịch liệt chống đối. Họ thường phô trương, tự phụ, tranh giành địa vị, tìm kiếm danh vọng. Họ chép những câu Kinh Thánh đeo lên trán, buộc vào cổ ta, để chứng tỏ họ ghi nhớ và tuân giữ luật hơn bất cứ ai khác. Khi đi dự tiệc, họ phải ngồi vào chỗ danh dự. Ở Hội đường, họ phải ngồi chỗ nhất và ở nơi công cộng, họ đòi được chào kính, xưng hô là Thầy. Họ muốn tôn mình lên cao hơn mọi người.

Ngược lại với thái độ đạo đức giả và kiêu căng tự phụ của những Luật Sĩ và Pharisiêu. Chúa GiêSu đưa ra cho các môn đệ và cũng là cho cộng đoàn Kitô hữu chúng ta, một thái độ sống chân thật: đó là phong cách thể hiện tình huynh đệ, sự bình đẳng và tinh thần phục vụ. "Anh em chỉ có một Thầy, một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. Anh em chỉ có một Cha, là Cha trên trời. Còn tất cả anh em đều là anh em với nhau".Vì thế, "trong anh em, người làm lớn hơn cả phải làm đầy tớ anh em".

Thưa anh chị em,

Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay, tất cả Giáo Hội của Chúa Kitô, từ Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu sĩ đến giáo dân phải bình tâm suy nghĩ. Những lời Chúa nói trước các Luật sĩ và Pharisêu ngày xưa phải có tiếng vọng đến chúng ta ngày nay. Pharisêu không còn, nhưng não trạng pharisêu chưa chết, vẫn còn sống mãi. Giáo Hôi qua các thời đại phải nhìn nhận rằng những phô trương lòe loẹt, chủ nghĩa hiếu thắng trần tục (triomphalisme) đã đi vào trong hàng ngũ Giáo Hội. Những chúc tước, áo mũ cân đai, cờ quạt, kiệu rước… đã làm hoen ố đi hình ảnh một Giáo Hội chân thật, một "Giáo Hội nghèo của người nghèo". Công Đồng Vatican II đã bỏ đi nhiều những điều phù phiếm đó và muốn cho Giáo Hội mang khuôn mặt đích thực của Chúa Kitô khiêm tốn, phục vụ.

Đức Cha Bernard Topel (1903-1986) Giám Mục giáo phận Spokane, Wa.Hoa kỳ, đã viết trên báo của Giáo phận: "Trong thời kỳ họp Công Đồng các Giám Mục thường hay nói về Giáo Hội như Giáo Hội của người nghèo, tôi nghe mà sinh bối rối, vì tôi chưa thấy chúng ta là Giáo Hội của người nghèo chút nào cả!" Từ cái bối rối này, Đức Cha Topel đã thực thi Công Đồng cách quyết liệt gần như Thánh Phanxicô Assisi thực thi Tin Mừng: Đức Cha đã bán Tòa Giám Mục, nhẫn vàng, thánh giá, giây đeo và gậy cẩn ngọc thạch để lấy tiền giúp người nghèo. Với bốn ngàn đô, Ngài mua một căn nhà ở ngõ cụt để làm tư dinh. Sau giờ làm việc, Ngài về làm vườn, trồng rau, xin đầu cá nấu ăn. Nhiều người không tán đồng, họ nói: " Vua thì phải sống cho ra Vua, Chúa thì phải sống cho ra Chúa, Giám mục thì phải sống cho Giám mục ". Nguyên là thạc sĩ toán học, Đức Cha trả lời: "Không phải những kết toán làm thành bài toán. Bài toán chúng ta là phải trừ, chia và nhân: phải bớt tiêu xài xa hoa, để chia sẻ với những người nghèo khó và nhân thêm niềm hy vọng sống xứng đáng cho họ".

"Trong anh em, ai lớn hơn cả phải là người tôi tớ phục vụ ". Trong nước trời, không ai có quyền thống trị kẻ khác, tất cả chúng ta đều là anh em. Ngay cả việc hành xử quyền bính, cho dù thuộc phạm vi dân sự hay Tôn Giáo, cũng chỉ là một hình thức phục vụ: "Cán bộ lal đầy tớ của nhân dân", Ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng tự nhận là "Tôi tớ của các tôi tớ" (Servus servorum). Người cha, người mẹ trong gia đình, sỡ dĩ được các con cái quí mến là vì biết tận tụy phục vụ, hy sinh cho con cái. Càng cho đi, càng được nhận lại, càng cho đi nhiều, càng được nhận lại nhiều hơn. Chúa Giêsu đã dạy và đã làm:Là Chúa, là Thầy, Ngài đã hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài đã tự hạ, vâng phục cho đến chết trên thập giá vì yêu thương loài người chúng ta. Chính vì thế, Ngài đã được siêu tôn là Đức Chúa: " Ai tự hạ mình xuống, sẽ được tôn lên. Ai tự tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống".

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu tỏ ra thông cảm và khoan dung đối với mọi người tội lỗi, mọi hèn yếu của con người, nhưng Ngài lại có thái độ khe khắt đối với thói giả hình của những người Pharisêu. Ngài không ngừng kêu gọi các môn đệ của Ngài cẩn thận giữ mình kẻo vướng lây phải thói tật đáng ghét này. Chúng ta giữ đạo, nhưng có lẽ chưa sống đạo. Có khi chúng ta mang lớp sơn đạo đức bên ngoài mà thiếu thực chất của một lòng đạo đức chân thật bên trong. Hãy sống trong sự thật trước mặt Chúa và anh chị em. Nhờ khiêm tốn và phục vụ, chúng ta sẽ sống theo đúng đường lối của Chúa và dễ dàng sống với anh em như đòi hỏi của đức ái: mến Chúa – yêu người.

 


Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

GIÁO SĨ, PHẨM CHẤT VÀ SỨ MẠNG


Giáo huấn của các bài đọc Kinh thánh trong Chúa nhật XXXI hôm nay nhắc nhớ đến trách nhiệm, phẩm giá và đời sống của hàng tư tế, giáo sĩ từ thời Cựu ước, đến thời Chúa Giêsu và Giáo hội hôm nay. Ngày nay, đời sống của hàng giáo sĩ đang được từ giáo dân cho đến mọi thành phần trong xã hội quan tâm. Quan tâm để yêu thương, chăm sóc, nâng đỡ cộng tác để xây dựng Giáo hội, nhưng cũng không hiếm những quan tâm để soi mói, chỉ trích. Lời Chúa nhắc nhở hàng giáo sĩ phải sống trung thực với sứ vụ, những cũng mời gọi mọi người biết vâng phục các vị chủ chăn trong tinh thần yêu mến Chúa và Giáo hội.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Ml 1,14-2,2.8-10

Lời lên án nặng nề hàng tư tế bất trung

Tiên tri Malakhi trách mắng nghiêm khắc những tư tế Do Thái làm việc cẩu thả, biếng nhác và giả dối trong khi thi hành tác vụ của mình.

a. Sau khi đi lưu đày về, đền thờ đã được tái thiết, nền phụng tự đã được thiết lập lại, nhưng sự nhiệt thành của những ngày đầu tiên đã bị biến mất: Đó là thời kỳ của lạnh nhạt, thờ ơ và thiếu sự quan tâm đến đời sống tôn giáo.

b. Nhiều tư tế không còn lưu tâm đến trách nhiệm của mình, bỏ bê công việc tôn vinh danh Chúa, làm gương mù gương xấu khiến cho nhiều người đi sai đường lối Chúa và hủy bỏ giao ước. Hậu quả nạng nề khủng khiếp Thiên Chúa sẽ giáng xuống trên họ.

c. Các tư tế không chu toàn trách nhiệm của mình không chỉ xúc phạm đến Chúa mà còn xúc phạm đến anh em, vì tất cả cùng được Thiên Chúa tạo dựng, cùng là anh em với nhau, cùng ký chung một giao ước với Chúa. Cho nên, hủy bỏ giao ước cũng là hủy bỏ tình thân với anh chị em.

2. Bài đọc II: 1Tx 2, 7-9.13

Tình cảm âu yếm của Phaolô dành cho giáo đoàn Thessalonica

Thánh Phaolô nhắc lại với giáo đoàn Thessalonica tình yêu vô vị lợi, tình yêu dâng hiến mà ngài đã ân cần dành cho họ, như một người mẹ dành cho con cái mình. Ngài đã giảng dạy lời Chúa cho họ; họ đã đền đáp ngài cũng tràn đầy tình yêu.

a. Từ tình yêu dâng hiến vô vị lợi, Thánh Phaolô đã trở nên nghĩa thiết với các Kitô hữu của giáo đoàn này. Ngài đã không ngần ngại và vui mừng được trao ban cho họ chính cả mạng sống của mình.

b. Điều làm cho Thánh Phaolô vui mừng chính là lời Thiên Chúa được họ đón nhận đúng là lời Chúa. Và lời Chúa đã phát huy tác dụng nơi cộng đoàn này, đã sinh hoa trái tốt đẹp nơi cuộc sống của mỗi người.

c. Trong Giáo hội hôm nay, các giám mục, các linh mục rất được quí mến, tôn trọng không phải bởi quyền cao chức trọng mà chính bởi đời sống dám dấn thân hy sinh vì tình yêu dành cho cộng đoàn dân Chúa được trao phó; bởi lòng nhiệt thành rao giảng Tin mừng. Đối với đa số các vị, sự ngưỡng mộ và yêu mến mà các tất cả mong muốn được giáo dân thể hiện không phải là chăm lo cho các ngài về phương diện vật chất, nhưng chính là giáo dân biết yêu mến đón nhận và sống Lời Chúa.

3. Tin mừng: Mt 23,1-12

Cảnh giác trước não trạng giả hình biệt phái

Óc tham vọng, tính háo danh nói lên tinh thần thống trị của những người luật sĩ và biệt phái thời Chúa Giêsu. Họ đã chiếm đoạt những quyền lợi chỉ thuộc về Thiên Chúa. Khi vạch trần tính xấu của họ Chúa Giêsu cũng đồng thời cảnh giác Giáo hội của Người trước những nguy cơ lây nhiễm căn bệnh của họ. Thói giả hình, tinh thần giáo sĩ trị luôn là những cám dỗ lớn cho Giáo hội, cho hàng giáo sĩ.

a. Bản văn được tuyên đọc này thuộc về phần đầu của một đoạn được Matthêu ráp nối nhiều lời giáo huấn của Chúa Giêsu, đoạn ráp nối này chiếm trọn chương 23 và được gọi là "Diễn từ chống biệt phái".

b. Đoạn văn này được chia làm hai phần đối xứng nhau: Phần đầu từ câu 2-7: " Họ …" nêu lên đời sống và thái độ giả hình của nhóm biệt phái và luật sĩ. Phần hai từ câu 8-12: " Còn các ngươi…" là giáo huấn Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và dân chúng phải có nếp sống khác với những người biệt phái được biểu hiện bằng tình huynh đệ của trong cộng đoàn.

c. "Đừng để ai gọi mình… cũng đừng gọi ai…" Những danh xưng Chúa Giêsu nêu lên ở đây nhằm minh định cho mọi người thấy rõ chỉ có Thiên Chúa, có Người mới xứng đáng với những danh xưng ấy. Tuy nhiên, chắc chắn Người cũng không phủ nhận những cách thế xưng hô của xã hội chẳng hạn giữa cha và con cái; giữa thầy và trò. Người chỉ muốn nhấn nạnh đến thái độ tôn trọng nhau trong cộng đoàn không có sự phân chia cao thấp; trên dưới để rồi thống trị nhau, ức hiếp nhau. Đồng thời cảnh giác trứơc nguy cơ có thể làm dụng các danh xưng, các lối xưng hô để tạo nên thói cao ngạo, kiêu căng tôn vinh cá nhân mà quên đi đời sống khiêm nhường làm tôn vinh Danh Chúa.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Một lời cảnh tỉnh hàng giáo sĩ:

Khi nói đến cách sống giả hình của nhóm biệt phái và luật sĩ, Chúa Giêsu một mặt lên án họ, nhưng mặt khác cũng khuyến cáo các môn đệ của Người phải cảnh giác trước nguy cơ có thể có lối sống như họ trong cách thi hành sứ mạng và hành xử quyền bính của mình trong Giáo hội. Môn đệ đích thực của Chúa Giêsu luôn phải ghi nhớ lời Thầy Chí Thánh của mình để nhận ra bản thân mình rất yếu đuối và dễ buông thả theo danh vọng, đam mê xác thịt, luôn có nguy cơ trở thành những biệt phái. Chức vụ càng cao trách nhiệm càng nặng nề, vinh quang càng lớn thì càng phải khiêm tốn phục vụ. Lòng kiêu hãnh, tự hào về những gì tốt đẹp mình làm được là chuyện tự nhiên, đôi khi cũng cần thiết, nhưng nếu đề cao nó và sống vì nó thì sẽ trở nên con dao quay lại hại mình, cắt đứt mình với cộng đoàn, với anh em mà mình được mời gọi chung sống. Làm cho sự phục vụ của mình trong khiêm tốn trở nên một thứ ban ơn cho tha nhân cho cộng đoàn. Làm cho bản thân trở nên người thi ân giáng phúc thay vì là dụng cụ của Chúa.

Lời Chúa cảnh tỉnh hàng giáo sĩ nhưng cũng mời gọi mỗi người Kitô hữu biết cảm thông, cầu nguyện cho các vị chủ chăn của mình. Ngày nay không hiếm những trào lưu bài giáo sĩ chỉ vì sai lầm của một vài cá nhân nào đó, chỉ vì quyền lợi cá nhân không được thỏa mãn. Thay vì tìm kiếm chỉ trích những lỗi lầm thì trong tinh thần huynh đệ nên thẳng thắn góp ý, cầu nguyện và cộng tác để giúp nhau nên tốt hơn, nhờ đó, Giáo hội ngày càng hiệp nhất và phát triển hơn.

2. Một lời kêu gọi sự vâng phục Giáo quyền:

Khi đề cập đến các khuyết điểm của những luật sĩ và biệt phái, Chúa Giêsu lên án và khuyên mọi người đừng bắt chước theo cách sống của họ. Tuy nhiên, Chúa vẫn căn dặn mọi người phải biết vâng theo những lời dạy của họ trên tòa Môisen. Một Kitô hữu thực sự sẽ không bao giờ dựa vào nhân cách của một cá nhân giáo sĩ nào để phủ nhận chân lý họ rao truyền, nhất là Tin mừng mà họ rao giảng. Tự thân những giá trị Tin mừng, những chân lý Phúc âm có giá trị tuyệt đối của nó. Những chân lý và giá trị ấy không bị thay đổi bởi tính xấu của người quảng bá. Tất nhiên, cách nào đó nếu người dạy không sống đúng với những gì mình dạy thì sức thuyết phục của lời họ rao giảng không có. Khi ấy lỗi lầm thuộc về chính cá nhân người dạy, chứ không thuộc về người nghe.

Trong Giáo hội, Chúa Giêsu đã ủy thác kho tàng Tin mừng cho các Tông đồ và những người kế vị các ngài là các vị chủ chăn. Các ngài có trách nhiệm phải gìn giữ và truyền dạy cách tinh tuyền kho tàng Lời Chúa. Cho nên, để sống đúng Lời Chúa đòi hỏi Kitô hữu phải biết vâng Lời giáo huấn của Giáo hội. Khi giảng dạy huấn quyền, Hội thánh thực thi theo năng quyền đã được chính Chúa Giêsu ủy thác. Vâng lời huấn quyền là vâng lời chính Chúa.

3. Một lời nhắc bảo về đời sống huynh đệ:

Khi dạy các môn đệ và dân chúng đừng gọi ai và cũng đừng để ai gọi là Cha, Thầy, là Đức Kitô, Chúa Giêsu chắc hẳn không có ý phủ nhận những cách xứng hô thể hiện mối tương quan chính đáng trong xã hội con người như Cha – con; thầy - trò… Nhưng ở đây Chúa chỉ muốn nhấn mạnh đến yếu tố đời sống huynh đệ trong cộng đoàn. Tất cả là anh em của nhau vì cùng là con của một Cha trên trời; là đồng môn của nhau vì cùng là môn đệ của Chúa; là bạn hữu với nhau vì đều được Đức Kitô hướng dẫn. Thế thì không có ai có quyền tự cho mình là hơn người khác trong Giáo hội để rồi áp đặt uy quyền của mình thống trị người khác, sai bảo người khác. Mọi quyền bình trong Giáo hội của Chúa đều nhằm mục đích phục vụ ơn cứu dộ của anh chị em mình. Trong các con ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ. Các danh xưng vốn có trong Giáo hội như gọi các giám mục, linh mục, tu sĩ là cha, thầy chỉ mang tính tương đối và nhắm đến sứ mạng mà những người ấy đảm trách. Gọi linh mục là cha vì linh mục phải sống và thể hiện dung mạo Thiên Chúa là Cha cho con người được đón nhận tình yêu của Cha trên trời. Gọi linh mục là thầy vì linh mục được tham dự vào sứ mạng giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô.

Như vậy, lời chúa hôm nay là lời nhắc bảo mọi ngừơi sống tình hiệp thông huynh đệ trong cộng đoàn. Tất cả mọi phần vụ nhằm mục đích phục vụ ơn cứu độ và giúp nhau nên thánh.

v Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:

Chúa Giêsu hiến mình nơi thập giá và trên bàn thờ là mẫu gương cho mọi người noi theo trong tinh thần khiêm tốn dấn thân phục vụ anh chị em mình. Người là Chúa, là Thầy mà đã khiêm tốn hạ mình vì nhân loại. Khi đón nhận Người nơi Bí tích Thánh thể thì mọi thành phần trong Giáo hội từ giáo sĩ đến giáo dân cũng phải biết khiêm tốn phục vụ tha nhân trong cuộc đời như Người đã sống.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Tin tưởng vào lời đoan hứa của Thiên Chúa: "Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử đẹp lòng Ta" (Gr 3,15), chúng ta hãy đến với Ngài và dâng lên Ngài những ước nguyện của cộng đoàn.

1. "Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Ga 10,11). Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện cho các vị mục tử trong Giáo hội luôn học biết tinh thần mục tử của Chúa Giêsu là biết sống hết tình vì đàn chiên Chúa đã trao phó cho các ngài.

2. "Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em" (Mt 20,26). Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện các nhà cầm quyền, quý phụ huynh, các thầy cô giáo và từng mỗi Kitô hữu... luôn ý thức sứ vụ phục vụ mà chính Chúa đã trao phó.

3. "Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu" (Mt 8, 17). Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện cho các ứng sinh lên chức linh mục trong giáo phận để họ luôn biết dành thời gian cần thiết cho việc tu luyện bản thân hầu có thể trở thành những mục tử như lòng Chúa mong ước.

Lời kết: Lạy Chúa, Chúa đã hứa ban tặng cho Giáo hội những mục tử đẹp lòng Chúa, luôn biết yêu thương phục vụ và dám hy sinh mạng sống mình theo gương mẫu của Đức Giêsu mục tử. Xin Chúa giúp mỗi người chúng con luôn biết cộng tác với ân sủng Chúa để lời Chúa hứa được thể hiện mãi trong Giáo hội.


Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn