Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXXI Thường Niên B

Tin Mừng Mc 12:28-34: Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và người Luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã xác nhận tình yêu là căn bản cho mọi cuộc sống tôn giáo . Vì thế yêu mến Chúa và yêu người là giới răn trọng nhất .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 31 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B

Mc 12, 28b - 34 

 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

TÌNH YÊU LÀ ALPHA VÀ OMÉGA CỦA

CUỘC SỐNG (Mc 12, 28 - 34)


CÂU HỎI GỢI Ý

1. So sánh thái độ và câu hỏi của viên ký lục trong bản văn này với bản văn song song của Mt (22,34-40). Có gì khác biệt?

2. Tại sao Do thái giáo không khám phá ra được "tình yêu" là giới răn trên hết ?

3. Câu trích dẫn Đnl 6,4tt có điểm gì đặc biệt so với các xác quyết tương tự của Cựu ước?

4. Theo bản văn này, đâu là lý do khiến ta phải yêu mến Thiên Chúa không giới hạn?

5. Yêu đồng loại "như chính mình phải chăng là làm cho kẻ khác những gì ta làm cho ta?

6. Theo quan niệm Do thái và quan niệm Chúa Giêsu. Đồng loại (cận nhân) là gì (x. Lc 10,25-37) ?

Trong bối cảnh một cuộc tranh luận biện chứng (Mc 12,28-38 và song song), Chúa Giêsu được một ký lục Biệt phái hỏi ý kiến như sau (Mt 22,35): ''Giới răn thứ nhất trên hết là giới răn nào"? (28). Người đáp lại: tình yêu là quy tắc thứ nhất của mọi cuộc sống tôn giáo (các. 29-31)

1. CÂU HỎI CỦA VIÊN KÝ LỤC

Nơi người Do thái, bè Sađucêô và biệt phái tiêu biểu cho hai luồng tư tướng và cách thế sống đối nghịch nhau (x. Cv 23,8). Một ký lục Biệt phái chuyên viên tỉ mỉ về lề luật – đã theo dõi một cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với bè Sađucêô (Mc 12,18-27ss) và nhận thấy "Người đã đáp lại họ cách chí lý (c. 28). Theo Mt, sau khi nghe biết "Chúa Giêsu đã khóa miệng bè Sađucêô", Biệt phái liền tụ họp và cử ra một kẻ trong nhóm để dùng một câu hỏi bắt bí Người (Mt 22,34-35). Theo Mátcô thì trái ngược: viên Biệt phái giàu có này đến chất vấn Chúa Giêsu không phải ví óc cuồng tín của phe nhóm cho bằng vì lưu tâm đến giáo thuyết người rao giảng (x. B. van Iersel, Dos lignes fondamentalos de no tre vie chrétiennc trong Assemblées du Seigneur loạt 1,71, tr. 29-31). Vả lại, chính với thiện cảm và xác tín mà ông ta sẽ đón nhận câu tuyên phán của Người: "Phải lắm, thưa Thầy, Thầy đã nói rất thật..." (c.32). Vì thế Chúa Giêsu, nhận thấy ông tiếp đón giáo huấn Người với lương tri và tế nhị, sẽ bảo với ông rằng:' "ông không xa Vương Quốc Thiên Chúa đâu" (c.34).

Trong hai thế kỷ đầu, các giáo sĩ, lấy lại cách phân loại của tiền nhân, đã tính ra có tới 613 giới răn trong Lề luật Do thái: 365 giới răn tiêu cực và 248 giới răn tích cực (H.L.Strack P.Billerbeck, Komtnentar zum N.T. sus Talmud und Midrash, t.I tr.900tt). Trong các giới răn này, một số được gọi là "trọng" hay "lớn", số khác thì nhẹ" hay "nhỏ".

Theo Mt 22,35, viên Biệt phái chất vấn: "Giới răn nào lớn nhất trong Lề luật". Nơi Mt 5,19, Chúa Giêsu nói đến sự vi phạm và thực thi những điều luật "nhỏ hèn nhất". Mt thích những cách nói Sêmita: "lớn - nhỏ", "Lề luật" như thế là chuyện thường tình. Không phải ông ngỏ lời với các độc giả được đào tạo theo lối Do thái sao? Nhưng Mátcô, vì viết Tin Mừng cho lương dân trở lại, nên không nói đến Lề luật mà chỉ mặc cho câu hỏi của viên ký lục một tính cách phổ quát hơn : Ông chiếu theo các giới răn thuộc mọi loài và mọi phạm trù. Khi ưu tư xác định đâu là giới răn "thứ nhất" trong mọi giới răn, ông thay thế tiêu chuẩn "lớn lao" bằng tiêu chuẩn "ưu đẳng". Vì thế giới luật tình yêu ở đây sẽ xuất hiện như một cái gì "trên hết".

Dĩ nhiên, pháp học Do thái đã quy định tầm quan trọng lớn nhỏ nhiều ít của các giới lệnh khác nhau trong Lề luật một đoạn sách Talmud (Horayot, ga. Xem Strack-bill sdd, 904) có đặt một câu hỏi tương tự như câu trỏi trong Tin Mừng : "Đâu là giới răn nặng ký hơn mọi giơi răn khác ?" Và nó đáp: "lệnh cấm thờ ngẫu tượng". Văn chương Do thái sẽ còn kể nhiều giới răn khác: cấm đổ máu, cấm xúc phạm danh Thiên Chúa, cấm lỗi ngày hưu lễ v.v...; những hình như việc thờ ngẫu tượng, loạn luân, giết người vẫn được coi là những lỗi nặng nề nhất (Ibid., tr.221tt). Do thái giáo đã không thể thấy sự ưu đẳng của giới luật tình yêu, vì tất cả nền tu đức của nó cũng như cuộc sống của nó bị một quan niệm duy luật tỉ mỉ thái quá ám ảnh. Viên ký lục đến hỏi ý kiến Chúa Giêsu cũng là một nhà luật học.

Tuy nhiên không được quên rằng Do thái giáo cũng đã thành công trong việc phát biểu một cách hay ho giới luật tình yêu, nhất là đối với Thiên Chúa (x. E.Stauflẽr, trong Kittol, T.W.N.T, I, tr.41t). Hai mươi năm trước Chúa Ki-tô, giáo sĩ Hillel đã dạy phải yêu tha nhân bằng những lời này: "Điều gì không làm hài lòng anh, thì đừng làm cho đồng loại anh điều ấy; có là tất cả Lề luật. Mọi cái khác chỉ là giải nghĩa" (x. Stlack-billerbeck, sđd, 460). Hầu như có thể bảo rằng Chúa Giêsu đã sao lại công thức ấy (Mt 7,12). Nhưng nền tu đức Do thái vẫn bị in dấu tì vết bài ngoại chủ nghĩa : "Hãy yêu mến thân nhân và hãy ghét địch thù" (Mt 5,43). "Chúa Giêsu là người đầu tiên đã cho nổ tung những nền móng cũ, để lao mình vào một công trình xây dựng hoàn toàn mới" (E.Stauffer. mục đã dẫn, 43-44).

II. CÂU TRẢ LỜI CỦA ĐỨC GIÊSU.

Chính trong bối cảnh giáo thuyết trên mà Chúa Giêsu, khi được một luật sĩ Do thái hỏi ý kiến, đã thốt lên câu tuyên phán của Người (cc. 29-31). Câu đáp của Người đầy quả quyết và mạnh dạn. Nó phát biểu nguyên tắc cơ bản của giáo thuyết Người, công bố "giới răn mới" (Ga 13,34; 1Ga 2,7t ...). Nhưng Chúa Giê-su biết những lời nói của Người sẽ có uy lực hơn trước mắt một ký lục Biệt phái nếu chúng dựa vào Kinh Thánh là cái quen thuộc với ông. Vì thế Người chỉ trích dẫn Đnl 6,4t và Lv 19,18 là những câu có kiểu nói hoàn toàn thích hợp với ý Người.

1.Hãy yêu mến Thiên Chúa, vì ngài là "Chúa độc nhất".

Nhờ câu tuyên tín "độc thần", bản văn của Đnl 6,4 nổi bật hơn nhiều công thức tương tự mà Cựu ước đùng để khắc ghi vào trí não lòng yêu mến Thiên Chúa. Câu dẫn nhập độc thần này (c.29) được Mc cố ý lấy lại: bằng chứng là viên ký lục sau đấy nêu rõ, bằng cách tán thành, đó là một quả quyết về "độc nhất tính" của Thiên Chúa (c.32).

Trong Cưu ước, thường thấy đề cập đến vấn đề sợ hãi hơn là mến yêu Thiên Chúa (Xh 1,21; Lv 19,14-32; Gs 4,24; Lv 18,12...) ; ngay cả sách Đnl cũng nhiều lần nói như vậy (4,10 ; 6,24; 14,23...). Trong các thánh vịnh, thành ngữ "sợ Thiên Chúa" chỉ kẻ trung thành với Chúa (22.24; 115, 11 .. .).

Nơi khác lại bảo rằng con người phải làm tôi Thiên Chúa, Thiên Chúa xuất hiện như một ông Chủ tuyệt đối, và các tín hữu như những tên nô lệ của Ngài. Do đó con người phải hoàn toàn thủ phận làm tôi" Thiên Chúa. Thái độ này đưa đến việc biểu lộ ra bằng nhiều cử chỉ bắt chước nghi thức
của các tên nô lệ trong triều đình của các bạo chúa cổ xưa (x.H. Rongstorf, trong TWNT II, 269).

Trái lại, Đnl 6,5 nói đến lòng yêu mến Thiên Chúa. Trong toàn bộ Ngũ thư, ý niệm này không thấy ở dâu khác, chỉ có Đệ nhị luật là năng dùng {Đnl 5,10; 6,5.7.9. 10. 12 ; 11,1. 13.22; 13,3; 19,9; 30,6.16.20. Tuy nhiên có một ngoại lệ là Xh 20,6; kiểu nói ở đoạn Xuất hành này giống Đnl 5,10. Nhiều nhà phê bình thấy khó gán nó cho một nguồn cổ điển. Xeln O. Eissfeldt, Einleitung in des A.T: Tubingen 1965, tr 225,229,255tt} ; chung chung ý niệm đó đặc trưng các sách gần hơn của Kinh Thánh. Việc phát biểu cái giới răn "trên hết" như thế đánh dấu một tiến bộ và một sự tinh luyện tâm tình tôn giáo, so với các giới luật liên hệ tới Thiên Chúa của thập điều. Theo Xh 20,1tt và Đnl 5,7tt, các giới luật này có ba: một Thiên Chúa duy nhất, kính trọng danh Ngài, tuân giữ ngày hưu lễ. Ở đây, một công thức duy nhất tóm lược tất cả mọi bổn phận của con người: yêu mến Thiên Chúa không hạn chế.

Tác giả sách Đnl hình như đã lợidụng công trình tinh luyện thần học của các ngôn sứ ; các ông này đã so sánh mối quan hệ của một người phụ nữ với chồng bà : mối quan hệ tình yêu chứ không phải là một nghĩa vụ có tính pháp lý hay tế tự. Thiên Chúa "yêu" dân Ngài, đó là một điều chắc chắn đối với Cựu ước (1V 10 9; 2Sk 2,10; 9,8; Ml. 1,2). "Sở dĩ Giavê đã đem lòng quyến luyến các ngươi và đã chọn các ngươi, không phải vì các ngươi đông hơn các dân khác hết thảy... nhưng vì Ngài yêu các ngươi..." (Đnl 7,7-8). Tình yêu bộc phát này của Thiên Chúa, tình yêu đã kén chọn Israel, là nền tảng tất cả sứ điệp của ngôn sứ Hôsê, kẻ hình như đã là người đầu tiên hiểu theo ngôn ngữ "tình yêu" và "hôn nhân" các mối quan hệ giữa Giavê với dân Ngài. Chủ đề sau đó đã được Giêrêmia, Edêkien, Isaia đệ nhị và Diễm ca khai triển (x. P, Claudel, Dieu époux de son pouple, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,16 : Hs, tr.56-59; Gr, tr. 59-60; Ed, tr. 60-62; Đnl, tr. 62-64; Dc tr. 64-65).

Chúng ta khám phá ra như thế căn nguyên của giới luật mến yêu Thiên Chúa và quán triệt hơn nội dung của "tình yêu" này. Thực vậy, Hôsê đã cảm thức sâu xa rằng không một tình cảm nào lôi cuốn con tim loài người cho bằng tình chồng vợ. Tình yêu này không đòi hỏi sự hỗ tương sao? Vì thế tại sao qua tiếng nói của các ngôn sứ, Thiên Chúa đòi hỏi dân bất trung của Ngài phải đáp trả tình yêu phụ quân của Ngài. Đấy là một luận cứ còn mạnh hơn cả ý niệm phụ tính phổ quát của Ngài nữa.

Vả lại, đó cũng là lý do mà thánh Gioan đã ám chỉ để thúc đẩy chúng ta mến yêu Thiên Chúa: "Tình yêu Thiên Chúa hệ tại ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu mến chúng ta... chúng ta hãy mến yêu, vì Ngài đã yêu chúng ta trước" (1Ga 4,10. 19). Chính tình yêu này, mà Thiên Chúa biểu lộ"trong chúng ta" (4,7.12.1-7), phải làm cho chúng ta yêu mến Thiên Chúa lại. Chính tình yêu này, mà Thiên Chúa đã thi thố đối với thế gian (Ga 3,16) đối với chúng ta "khi chúng ta còn là những tội nhân" (Rm 5,8), đã được Ngài "đổ xuống lòng ta nhờ Thánh Thần Ngài đã ban cho ta" (Rm 5,5). Đây là vật cầm thế quý nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với những kẻ thuộc về Ngài và là của hồi môn vô giá mà "Hôn phu" thần linh ban tặng cho hôn thê: còn hơn là lý đo sau cùng, đây chính là năng lực sinh động con người chúng ta để yêu mến Thiên Chúa và làm cho chúng ta nhận ra Ngài là "Cha" chúng ta (Rm 8, 15). Hôsê cũng như Giêrêmia đã nói cách thích thú hơn: "Hôn phu" chúng ta. Ngoài ra, quan niệm này còn được thánh Gioan theo khi nói về sự cư ngụ của thần tính trong tâm hồn yêu mến Thiên Chúa(Ga 14,23) và về bữa ăn tối mà Chúa Ki-tô chia sẻ với kẻ mở của cho Người (Kh 3,20) Thực ra, chính Thánh Thần hoàn tất lời hứa của ngôn sứ: "Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãi, Ta sẽ đính hôn ngươi trong công chính và lẽ phải trong âu yếm và tình yêu" (Hs 2,21).

Nội dung của "lòng mến yếu" Thiên Chúa và tha nhân phải được hiểu theo các quan điểm ấy, những quan niệm tự chúng đã là rất hùng hồn rồi. Tình yêu không ăn nhập gì với sợ hãi, kính trọng, phụng sự, luật pháp cũng như với một sự bó buộc hay một sự trịch thượng nào. "Qua hạn từ tình yêu, Cựu Ước thật ra muốn chỉ một tâm tình bộc phát, thúc đẩy hiến thân...Tình yêu là một sức mạnh không thể cắt nghĩa của tâm hồn và ở bên trong con người" (G. Quell, trong TWNT I,21). Đnl và nhiều sách khác của Thánh Kinh đã minh giải điều đó khi bảo rằng mến yêu Thiên Chúa rốt cục là "khẳn khít" với Thiên Chúa (Đnl 10,20; 11,22; 13,5; Gs 22,5; 23,8; 2V 5,18). Tác giả thánh vịnh thường diển tả lòng ao ước nồng nàn của ông là được kết hợp với Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể thỏa mãn ông (Tv 63,2-9; 73,25...). "Sự khẳn khít" của con người với Thiên Chúa được biểu thị bởi cùng một danh từ và cùng một ý niệm như sự khẳn khít con tim của hôn phu đối với hôn thê (St 2,24; 34,4; Lv 11,2...). Yêu mến Thiên Chúa, chính là kết hợp với Ngài, thắt chặt mối dây tình cảm đến nỗi chỉ còn làm "một" với Ngài mà thôi (x. Ga 17,21tt).

Bản văn Đnl 6,4 dùng đích danh "Giavê" thay vì tước hiệu loại danh "Chúa" (Mc 12,29 trích chữ "Chúa" theo bản 70): "Giavê là Thiên Chúa chúng ta, Giavê là độc nhất. Ngươi phải yêu mến Giavê Thiên Chúa ngươi hết lòng ngươi Đọc câu đây, người ta có cảm tưởng "độc nhất tính" của Giavê là lý do đòi buộc mến yêu Ngài.

Người ta không tìm đâu được trong Kinh Thánh một lời tuyên xưng độc thần như ở đây. Công thức duy nhất tương tự trong Dcr 14,9 chỉ nói về tương lai xa và không phải là một xác ngôn luật pháp. Trên phương diện ngữ vượng, có hai trường hợp cấu tạo giông giống: nơi Ed 33,24, "một mình trơ trọi" đối nghịch với nhiều; trái lại nơi Dc 6,9, tiếng độc nhất" không loại trừ các hữu thể khác cùng một bản tính, nhưng biểu thị sát tuyệt hảo so với các hữu thể này (x. 2Sm 7.23).

Từ những nhận xét trên, ta thấy công thức của Đnl 6.4, được Mc 12, 19 lấy lại, quả thực là một lại tuyên tín độc thần. Nhưng còn hơn một định thức triết học khô khan, nó tỏ ra là một khẳng định sinh tử, nhắm truyền cho các kẻ tin một động lực thiêng liêng chi phối cuộc đời của họ (x. C.Spicq, 'Agapè dans le N.T, I, Paris, 1958, tr.86t).

Do đó ở đây "độc nhất tính" của Giavê mang một sắc thái hết sức đặc biệt. Dĩ nhiên "Giavê là Thiên Chúa chúng ta", nhưng Ngài không phải chỉ là vị Thiên Chúa của Israel, vị Thiên Chúa độc nhất loại trừ mọi thần khác. Càng không phải là vấn đề xác quyết chỉ có một Giavê, vì điều đó quá tự nhiên, nhưng đúng hơn là xác quyết rằng Giavê là "độc nhất", "đơn độc" trong thần tính giữa hết mọi thần mà người ta có thể tưởng tượng (x. 1Cr 8,5; Tv 82,1). Ngài là vị thần lớn nhất hoàn hảo nhất mà người ta có thể quan niệm: đâu có Thiên Chúa nào khác như Ngài, lạy Chúa, và không có Thiên Chúa nào khác ngoài Ngài" (2Sm 7,22)

Điều này phải làm phát sinh trong con người cái tình yêu bộc phát thúc đẩy con người đi về Thiên Chúa, với lý do duy nhất là Ngài "độc nhất", hay nói cách khác, "Ngài là Đấng hằng hữu" (x. Xh 3,14).

2. Hãy yêu mến đồng loại "như chính mình ngươi".

Về việc yêu mến đồng loại, Chúa Giêsu cũng đã lấy lại một công thức hoàn hảo của Cựu ước: Tv 19,18.34 (x. M.pelfrène, "Tu aimoras ton prochain com me toi-même", trong Assemblées du Seigneur loạt 1,66, tr. 50-57). Tuy nhiên, từ đây không ai bị loại khỏi tình yêu phải thực thi như thế đối với đồng loại chúng ta (x. Mt 5,43).

Giới luật này bao gồm hết mọi giới răn mà Chúa Kitô đã liệt kê trong Mc 10,19 và ss. Nhưng công thức của 12,32 đã giản lược các lề luật đa phức ấy thành một luật duy nhất, nhờ tình yêu là cái đơn giản hóa tất cả. Ngoài ra, công thức cũng nhắm truyền tinh thần và sự sống vào cho một bộ xương luật pháp chỉ chú ý đến chất thể tính của giới luật được hoàn thành.

Phải nhấn mạnh đến ý tưởng "mến yêu" tha nhân, cái sức mạnh khiến chúng ta tậm tâm làm điều thiện cho tha nhân là cho tha nhân được thỏa mãn. Chính đó là tinh hoa của các yêu sách Chúa. Tình yêu là sức mạnh của tâm hồn, sức mạnh "khoan dung, nhân hậu, không ghen tương, không ba hoa, không tự mãn, không khiếm nhã, không ích kỷ, không nóng giận, nhưng hết lòng tha thứ, hết lòng kính tin, hết lòng trông cậy và hết lòng kiên nhẫn" (1Cr 13,4-7).

Vẫn biết Tân ước cũng đòi hỏi tình yêu phải được minh chứng qua những thực hiện cụ thể (Gc 2,15 ; 1Ga 3, 11).

Nhưng Tân ước không chấp nhận rằng những thực hiện này là kết quả của một chủ nghĩa xã hội kinh tế thuần túy, hay là phương tiện thỏa lnãn lòng kiêu ngạo riêng tư Ki-tô giáo mong muốn mọi hoạt động xã hội hay bác ái phải được thúc đẩy bởi sự hiện thân, hy sinh, từ bỏ và phải kèm theo những chú tâm tế nhị đối với những người túng thiếu. Như thế lòng tốt tự nhiên và kinh tế được đảm nhận trên bình diện cao hơn của đức ái đối thần.

Yêu đồng loại "như chính mình ngươi" không có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì người làm cho người, nhưng đúng hơn là phải đối xử kẻ khác với cùng một "tình yêu như ngươi đối xử với ngươi". Điều đó còn có ý nghĩa cao xa hơn nữa, như Thánh Kinh cho chúng ta thấy khi nói về hai người bạn: "Hồn của Gionathan khắn khít với hồn của Đa-vít và Gionathan đã bắt đầu yêu Đa-vít như chính mình ông (theo nguyên tự: như chính hồn ông: 1Sm 18,1). Tình yêu đích thực, vốn không khác chi tình yêu vợ chồng (x. St 2,23-24, 2Sm 1,26) biến đồng loại của tôi thành "một nửa của hồn tôi" (dimidium animao meo, Horace), hội nhập con người của kẻ ấy vào con người của tôi đến độ cả hai hữu thể chúng tội chỉ còn là một đối tượng tình yêu duy nhất và một tâm hồn duy nhất (x. Cv 4,32).

Cũng thế, người Samari nhân lành đã không bị một mối ưu tư xã hội hay pháp lý thúc đẩy khi thấy kẻ xấu số, nhưng là "động lòng thương" (Lc 10,33) [Cũng động từ caplaknisthè đây (nguyên tự: bồi hồi ruột gan) chỉ thái độ của người cha đứa con hoang đàng; x. J. Dupont, L'enfant prodigue, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,29, tr. 63, chú thích 2]. Trái lại, từ chối thực thi bác ái có nghĩa là "đóng lòng mình, (1Ga 3,17) với người anh em mà ta thấy đang cơn quẫn bách, thay vì động lòng trắc ẩn như lẽ tự nhiên nếu ta không bị tính ích kỷ chi phối ["Đóng lòng mình" là hình ảnh đối nghịch lại hình ảnh trước, và diễn tả qua tiếng splakna; x. J. Dupont, Comment aimel mes frères, trong Assemblées du Seigneur loạt 1,55, tr. 28-30]. "Bác ái" không đáng gọi là "bác ái" nếu không phát sinh từ cái tâm tình thâm sâu, nội tạng mà người ta gọi là tình yêu.

Cũng có mối nguy là tự mãn với nhũng công thức tao nhã, bặt thiệp: "Chúng ta đừng yêu bằng lời, bằng miệng lưỡi, nhưng bằng hành động thực sự " (1Ga 3,18). Đây là kết luận của một lối lý luận rất đơn sơ nhưng rất sắc bén của thánh Gio-an: "Nếu kẻ nào, có của đời này, thấy anh em nó lâm phải túng thiếu và đóng lòng dạ lại với anh em, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa lưu lại trong nó được?" (1Ga 3,17; Gc 2,14-17). Một tình yêu chân thật bắt ta đem hết tài năng và của cải ra mà phụng sự kẻ khác.

Tuy nhiên, tình yêu mà Chúa Kitô đòi hỏi chúng ta phải có đối với đồng loại, còn đi xa hơn nữa: "Nơi điều này chúng ta biết được tình yêu : là Đấng ấy (Chúa Kitô) đã thí mạng vì ta. Và ta, ta cũng phải thí mạng sống mình vì anh em" (1Ga 3,16). Đối với chúng ta, đó là một bổn phận, một bắt buộc, một món nợ mắc với Chúa Kitô vì người anh em. Chính trong khung cảnh này mà giới răn mới của Chúa Giêsu nằm vào và được nổi bật: "Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà mỗi người sẽ nhận ra các ngươi là môn đồ Ta: ấy là các ngươi yêu mến lẫn nhau. (Ga 13,34tt). Chỗ khác, Chúa Giêsu còn thêm : "Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu" (Ga 15,12tt). Tựu trung, tình yêu ấy làm cho chúng ta nên giống Chúa Kitô là Đấng "yêu mến các kẻ thuộc về Người cho đến cùng" (Ga 13, 1).

Bây giờ phải giải quyết vấn đề viên ký lục Biệt phái khơi lên, vấn đề mà Luca có ghi lại sau câu Chúa Giêsu tuyên phán về tình yêu Thiên Chúa và đồng loại (bản văn song song với Mc): "Ai là đồng loại (cận nhân) của tôi ? (Lc 10,29). Dụ ngôn người Samari nhân hậu giải đáp câu hỏi đó (10,30-37) (x. F.Dreyfus,"Qui est mon prochain?" trong Assemblées du Seigneur loạt 1,66, tr. 32-49). Sau câu chuyện, Chúa Giêsu hỏi viên ký lục: "Theo ý ông, ai trong ba người ấy: Tư tế, Lêvít, Samari, đã tỏ ra là đồng loại (cận nhân) của kẻ bị rơi vào tay bọn cướp kia ?". Ông thưa : "Người đã xử nhân nghĩa với kẻ ấy". Chỉ qua sự kiện đấy chẳng phải là người đồng hương Do thái, nhưng là người ngoại quốc, chúng ta đã rút ra được một bài học đầu tiên : tình yêu Kitô giáo đạp đổ mọi hàng rào chủng tộc hay màu da, vượt lên trên mọi óc phân biệt quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi thành kiến hay những hiềm khích tổ truyền.

Nhưng điều quan trọng nhất chính là Chúa Giêsu đã xê dịch trung tâm mà từ đó phải lượng giá "sự kề cận" của kẻ khác. Đối với người Do thái, trung tâm là "cái tôi", và những kẻ khác kề cận ít nhiều hay xa cách cái tôi đó, ở bên trong phạm vi Do thái thôi. Chúa Kitô đặt trung tâm trong "người khác" mà chúng ta phải "đến gần", làm cho mình trở nên "kề cận", dù họ ở cách xa trung tâm chúng ta hay ở ngoài vòng chúng ta. Chẳng hạn như người Samari., mà theo não trạng Do thái không thể coi kẻ bất hạnh như đồng loại (cận nhân) với mình, đã trở nên đồng loại (cận nhân) (gegonénai : c.36) vì đã biết đến gần kẻ bất hạnh đó. Thật vậy, sự cận kề của kẻ khác mà Chúa Ki-tô đã tiên liệu để đòi hỏi tình yêu của tôi, không xuất phát từ lợi ích "của tôi" hay từ sự thích hợp với tôi, nhưng từ nhu cầu của kẻ ấy: cái đáng kể là kẻ ấy cần sự trợ giúp, dù tương quan giữa kẻ ấy với tôi thế nào đi nữa. Xét theo phương diện nhân loại, hai người Do thái kia "kề cận" với kẻ bị thương hơn người Samari. Nhưng nếu tôi yêu anh em tôi, tôi không cần bận tâm tìm hiểu xem những kẻ khác có bổn phận giúp đỡ người ấy hơn tôi không; tôi chỉ nhìn đến chính nhu cầu hiện tại của người ấy và điều tôi có thể làm để cứu giúp.

Hãy nêu lên một điểm chót trong bài học bác ái mà người Samari cho chúng ta. Ông thinh lặng làm mọi việc, không phô trương, cũng chẳng chỉ trích lòng ích kỷ của kẻ khác. Tự nhiên, với lương tri, ông chu toàn những sự săn sóc mà hoàn cảnh hiện tại đòi hỏi và dự liệu tương lai cấp thời (cc.34-3.5). Tình yêu đích thực tránh mọi khoe khoang và luôn bình dị, kín đáo.

Tóm lại, khi tôi hỏi "ai là đồng loại của tôi", Chúa Giê-su trả lời: "Cả anh nữa, hãy đi và làm như vậy !" (c.37) để sửa sai chút ít các phạm trù của tôi, vì câu trả lời đó có nghĩa rằng: "Anh hãy trở nên đồng loại (cận nhân) với hết mọi ai mà anh thấy đang có nhu cầu, cần giúp đỡ".

Giáo lý về tình huynh đệ dựa trên nhiều căn bản rất rộng rãi trong Mặc khải Thánh Kinh. Ngôn sứ Malakia đã biện minh tình yêu "đồng loại" trong cộng đoàn Israel bằng luận cứ đẹp đẽ này: "Tất cả chúng ta há chẳng phải có một Cha duy nhất sao"? Không phải một Thiên Chúa duy nhất đã tạo thành chúng ta sao?" (2, 10). Thánh Phao-lô, khi khích lệ các Ki-tô hữu hãy sống trong bình an và "yêu mến" lẫn nhau, đã cho họ thấy tình yêu này dựa trên sự kiện là "chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và là Cha mọi người" (Ep 4,3-6). Đây là cái mặc một chiều kích mới mẻ cho độc nhất tính của Thiên Chúa, tính cách đã được đặt nổi nơi cc.29 và 32 củađoạn văn chúng ta. Ngay từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa đã làm cha hết mọi dân tộc, và một tình huynh đệ phổ quát đã quy tụ họ chung quanh vị Cha chung đó. Thánh Gioan đề ra cho chúng ta một giáo thuyết sâu sắc hơn. Tại sao chúng ta yêu? "Bởi vì tình yêu là Thiên Chúa và ai yêu thì sinh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa" (1Ga 4,7). Khi yêu, chúng ta chứng minh rằng sự tái sinh làm con cái Thiên Chúa của chúng ta là thật và chúng ta cảm nghiệm được ai là Cha chúng ta. Trái lại, "ai không yêu thì đã không nhận biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu (4,8). Chúng ta phải yêu "bởi vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước" (4,10.19). Thánh Gioan thích minh chứng làm sao tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân liên kết chặt chẽ với nhau: "Nếu ai nói: tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em, đó là một kẻ nói dối: vì kẻ không yêu anh em nó thấy đó, thì không thể yêu Thiên Chúa, Đấng nó không trông thấy. Vâng, đó là giời răn mà chúng ta đã lãnh nhận nơi Người: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng hãy yêu mến anh em" (4,20tt). Tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa như từ nguồn của nó: Chính nhờ tình yêu phong phú này mà Thiên Chúa sinh chúng ta trong tư cách làm "con". Tình yêu được thông ban cho Chúa Kitô và nhờ Người mà đến với nhân loại. Nhân loại phải thông truyền tình yêu đó cho nhau, làm sao cho gia đình Thiên Chúa rộng lớn mãi. Cuối cùng, tình yêu ấy phải quay trở về Thiên Chúa như là cùng đích tối hậu của nó, và như vậy phải phát sinh sự "hợp nhất" toàn hảo mà Chúa Ki-tô đã ao ước thực hiện giữa Thiên Chúa, chính ngài và các kẻ tin (Ga 17,21tt).

KẾT LUẬN

Có hai giới luật tình yêu và hai đối tượng khác nhau của tình yêu ấy: Thiên Chúa và đồng loại. Nhưng thực tế, đó luôn luôn là vấn đề yêu. Yêu là sinh hoạt duy nhất đòi buộc con người: ở nơi con người chỉ có một tình yêu duy nhất, phát sinh từ cùng một khả năng. Sự tóm gọn này xuất hiện rõ rệt nơi thánh Gioan, người chuyên môn nói về "yêu" mà không luôn luôn phân biệt đâu là yêu Thiên Chúa và đâu là yêu đồng loại.

Viên ký lục đi tìm kiếm giới răn thứ nhất, và "Thầy tốt lành" (Mc 10,17) đã chỉ cho ông một giới răn duy nhất: "yêu". Ông đã hiểu được rằng thế là Thầy đã đặt nền tảng cho một tôn giáo mới "vượt quá các toàn thiêu và lễ tế thay thảy" (c 33; x. Ga 4,20-23). Về phía Chúa Giêsu, người nhận thấy kẻ đối thoại "không xa Vương Quốc Thiên Chúa" (c.34). Tuy nhiên ông ta vẫn chưa vào, vì hiểu giáo thuyết là một chuyện. Đem ra thực hành giáo thuyết lại là một chuyện khác.

Manuel Miguéns, Assemblées du Seigneul: 62, tr 53-62

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1."Yêu mến Thiên Chúa hết lòng" đó là khiêm tốn mở lòng mình ra với Thiên Chúa, với ánh sáng, lời nói, lòng nhân của Ngài. Ánh sáng, tình yêu chính Ngài ban cho, vì Ngài là Đấng bất khả đạt. Chúng ta đạt tới đó vì Ngài yêu ta trước tiên, vì Chúa Giêsu Kitô đã cho ta đạt tới đó với Người. Lúc đầu, tình ta yêu Thiên Chúa là một sự thán phục đầy biết ơn, một tâm tình tin tướng, phó thác, một sự gắn bó sâu xa. Yêu mến Thiên Chúa, không phải là cố gắng nói với Ngài rằng ta yêu Ngài, cũng chẳng phải là "làm được nhiều chuyện", nhưng trước hết là khiêm tốn đón nhận sự hiện diện của Ngài, liên kết với mầu nhiệm sự thánh thiện và tình yêu là chính Ngài. Một sự liên kết đầy tin tưởng, chăm chú, lắng nghe. Chúng ta phải học cách nhận ra Ngài và hết mực tôn kính sự hiện diện mầu nhiệm của Ngài trong cuộc đời ta, trong lịch sử. Tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa không thể có nếu trong ta không có một ý thức đích thực về Ngài. Nếu không có một ý thức đích thực về Thiên Chúa, thì không phải Thiên Chúa mà chúng ta gắn bó, không phải Ngài mà chúng ta yêu. Nếu không phải Ngài mà chúng ta yêu, thì chúng ta đã yêu những thần giả, những ngẫu tượng. "Chúa là Chúa độc nhất".

2. "Yêu mến đồng loại Thiên Chúa là Đấng độc nhất. Nhưng để Ngài ở trong mình, chính là để cho Ngài biến đổi ta. Bởi vì vinh quang Thiên Chúa chính al2 con người sống, nên người tín hữu biết mở lòng mình ra với Thiên Chúa và cho Ngài cư ngụ, cũng sẽ dần dần chọn lấy các thái độ mà Ngài muốn ta theo; tôn trọng, niềm nở, ngay thẳng, tốt lành.. đối với tất cả những người được Thiên Chúa yêu thương, được làm con Thiên Chúa. Chúng ta cần nhiều "gương mẫu", nhiều chứng nhân đi trước chúng ta và đã sống kinh nghiệm thiêng liêng này. Chúng ta có thể sung sướng quay về Chúa Giê-su Ki-tô và muôn vàn vị thánh nam nữ đã để mình bị sinh động bởi tình yêu Thiên Chúa đối với họ và đã để mình bị hướng dẫn bởi tình yêu của họ đối với Thiên Chúa và tha nhân.

3. Thánh sử Mátcô nhấn mạnh tới hai thái độ xung khắc nhau: một thái độ bám víu, tựa nương vào môi trường, môi trường của những người trí thức Do thái và thái độ cởi mở cõi lòng của một người có bản lĩnh vững, một người trí thức có can đảm hành động không giống những người khác. Nhân đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta hãy nghĩ tới những người Kitô hữu trí thức đang phải chiến đấu cam go để làm chứng tá đức tin. Những Kitô hữu này sống trong một môi trường đang bị một số người phá thối nhân danh ít điều luật khoa học của họ. Điều luật của họ hẹp hòi, tạm bợ bao nhiêu thì đầu óc họ lại càng cố chấp bấy nhiêu. Trong một môi trường như thế mà phải tiếp tục yêu mến hết lòng, hết trí khôn và hết sức lực là một chuyện thực sự có giá trị hơn mọi lễ vật hy sinh.

4. Chúa Giêsu đã rõ ràng tách biệt giới luật mến yêu Thiên Chúa và đồng loại ra khỏi toàn thể các quy định khác có tính cách vật chất hay lễ nghi. Làm thế, Người đã xác nhận rằng tôn giáo không hệ tại việc hợp lệ, sòng phẳng với Thiên Chúa bằng việc tuân giữ cách hình thức một số quy tắc. Nếu thực thi các điều luật quy tắc là một bằng chứng tất yếu của một tình yêu thực sự, thì nó vẫn không làm nên tình yêu đó nhưng giả thiết đã có tình yêu đó.



Noel Quession - Chú Giải

 

Mc 12,28-34


Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi.

Đức Giêsu bị chất vấn. Người được người ta hỏi han ngoài đường. Tôi có biết hỏi Đức Giêsu để xin Người cho ý kiến về những vấn đề quan trọng trong cuộc sống của tôi không ?

Đoạn Tin Mừng Chúa nhật vừa qua cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã ở lại thành Giêrikhô với người mù dễ thương, tên Bác-ti-mê. Sau đó, Đức Giêsu vào thành Giêrusalem một cách về vang (Mc 11,1-11). Hôm sau, theo Máccô kể lại Đức Giêsu vào Đền Thánh để đuổi những kẻ đã làm mất vai trò của Đền thánh là cầu nguyện "cho các quốc gia" (Mc 11,12-19). Hôm sau nữa,'' Đức Giêsu trở lại Giêrusalem và trong dụ ngôn" cây vả bị khô héo, Người đã nói "Con Người" đến tìm quả nhưng không thấy ; Đền Thánh cũng như cây vả, sẽ bị tàn phá (Mc 11,20-25). Chúng ta đang chứng kiến những tuần cuối cùng của Đức Giêsu. Sự đối đầu giữa Người và chính quyền đã lên đến tột đỉnh. Theo Máccô, thì chính trong Đền thánh Giêrusalem giữa quảng đại quần chúng, trên chiếc sân rộng rãi linh thiêng làm thành một quảng trường có những hàng cột vây quanh, nơi những đám đông thường tụ họp, Đức Giêsu đã tranh luận, "bị tấn công", "phản công". Những cuộc tranh cãi dữ dội xảy ra. Giọng nói giữa Đức Giêsu và những nhà lãnh đạo bị khích động mỗi lúc càng lên cao.

Những đề tài nóng bỏng nhất đuợc đề cập :

"Do quyền lực mà ông thi hành những việc ông đang làm" (Mc 11,27-33).

"Chủ vườn nho sẽ làm gì khi người làm vườn nho không xứng đáng với vai trò của mình" (Mc 12,1-12).

- Có phải đóng thuế cho quân đội đang chiếm đóng hay không" (Mc 12,13-17).

- "Số phận của những người chết bên kia thế giới như thế nào ?" (Mc 12,18-27).

Chính trong bối cảnh này mà một kinh sư thuộc nhóm Pharisêu, vì đã thấy giá trị câu trả lời của Đức Giêsu về sự sống lại của những người chết (nhóm Xa-đốc, những kẻ đối nghịch với Đức Giêsu, vừa nhận được một bài học đích đáng !) tiến lại gần Đức Giêsu và tiếp tục hỏi Người.

Chúng ta có khuynh hướng "đóng khung" đời sống tôn giáo của mình trong vòng "riêng tư" trong việc "thờ phụng" không ? Hay như Đức Giêsu, chúng ta có chấp nhận để đời sống tôn giáo của mình soi sáng mọi vấn đề của cuộc sống, phố xá, nghề nghiệp chính trị ?

Điều răn nào đứng hàng đầu ?

Ham mê tha thiết của Ítraen là luật, bộ Thorab. Trong những "trường dạy Đức tin" gọi là Yéshivot người ta thấy trẻ con, thanh niên, người lớn và cả người già đã dành nhiều giờ để "nghiên cứu học hỏi". Kinh thánh, và những lời chú giải trong sách Talmud. Những kinh sư thời Đức Giêsu, ngày nay tự gọi là các giáo trưởng Do Thái, là những chuyên gia về môn này và người ta thường đến hỏi họ về cách giải nghĩa một điều luật, xin một lời khuyên tinh thần, một luật sống rút ra từ lời Chúa, gọi là Thorah. Vì trong những trường Yềshivot, người ta thảo luận, người ta "chia sẻ như ngày nay chúng ta thường nói vậy: Mỗi ngày Sa-bát là một ngày dài cầu nguyện, học hỏi theo nhóm, trong đó người ta cùng nhau say mê tìm hiểu một cách hiểu sâu sắc nhất những "giới răn" của Thiên Chúa, để có thể trung thành tuân giữ các giới răn đó một cách tỉ mỉ hơn. Sống trong môi trường văn hóa của dân tộc mình, Đức Giêsu cũng có niềm ham mê đó đối với Luật. Người đã thuộc lòng Luật. Người đã đọc đi đọc lại Luật cùng với những người khác, từ thuở còn nhỏ. Người đã thảo luận nhiều về Luật. Chúng ta có khao khát đọc Kinh thánh không ? Trong một tuần, chúng ta đã dành bao nhiêu thời giờ để "nghiên cứu" một cách nghiêm chỉnh, và cầu nguyện với Lời Chúa ? Chúng ta có thảo luận về Lời Chúa Với những người khác, đẽ soi sáng lẫn nhau không ?

Câu hỏi mà vị kinh sư đặt ra, là một câu hỏi cổ điển trong trường Yéshivot. Người ta đã trích ra được 613 điều răn của Chúa từ trong Kinh thánh : 365 điều cấm đoán và 248 điều răn tích cực. Chúng ta đừng cười ? Sự trung thành tuân giữ và những chi tiết nhỏ nhất, đó là một bằng chứng của tình yêu. Ai yêu mến sẽ hiểu biết. Những người Do Thái cũng đủ thông minh để nhận thức về tầm quan trọng tương đối của những lời răn khác nhau này. Họ đã tìm thấy trong Kinh thánh những yếu tố để đáp ứng. Đối với vua Đa-vít sách luật Thorah tóm lại 11 qui định chính yếu (Tv 15). Đối với ngôn sứ Isaia là 6 (Is 33,15). Và đối với Kha-ba-cúc là một (Kb 2,4) Rabbi Hillel thì tóm lại tất cả bộ luật trong một câu châm ngôn duy nhất : "Những gì ngươi không thích, chớ làm cho đồng loại của ngươi" Rabbi Akiba hầu như cùng thời với Đức Giêsu, cũng tập trung điều cốt yếu của Luật vào tình yêu thương đồng loại.

Còn Ngài, "hỡi Rabbi Giêsu, Ngài nghĩ sao Điều răn trọng nhất là điều răn nào ?

Đức Giêsu trả lời : "Điều răn đứng hàng đầu là : nghe đây, hởi Ít-ra-en. Đức Chúa, Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất".

"Phải phụng sự Chúa trước hết". Đối với Đức Giêsu, phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa, còn tôi ? Tôi dành ưu tiên cho ai - ? Tôi có đặt Thiên Chúa trên hết trong đời tôi không ?

Phúc thay những kẻ biết lắng nghe Lời Hằng Sống !

"Hỡi Ít-ra-en hãy lắng nghe" Đó là một nguồn sống thiêng liêng của Đức Giêsu. Người sống đúng như dân tộc mình, một dân khát khao Lời Chúa, biết "lắng nghe", và để cho Thiên Chúa giáo huấn.

Điều Chúa trích dẫn trên đây là kinh "Shema" Israel (Đnl 6,4-5).

Đó là kinh cầu nguyện hàng ngày của mọi người Do Thái sùng đạo.

Khẳng định chính yếu của đức tin Do Thái là độc thân từ lâu đã trở nên di sản chung của Ít-ra-en, của các Kitô hữu, của người Hồi giáo.

Rất tiếc là những dịch giả Pháp đã không trung thành với bản văn Hy Lạp của Maccô, và với bản văn Do Thái. Maccô đã không nói : "Thiên Chúa là Chúa duy nhất". Ong nói thật đơn giản nhưng rất mạnh : "Thiên Chúa là một" . Những sách kinh thánh Do Thái thì dịch : "Đấng hằng hữu là một" Sắc thái khác biệt nhau. Chữ "một" có một nghĩa đầy đủ hơn là chữ "duy nhất". Các bạn có cảm thấy sự khác biệt không ? Không có gì khác hơn là Thiên Chúa ! Tất cả những gì khác chỉ hiện hữu nhờ Người. Người hoàn toàn "hợp nhất". Người sở hữu chính bản thể của Người, trong khi bản thể chúng ta luôn "lưu chảy", làm tan biến chúng ta. Đấng vĩnh hằng là một ? Đó là câu trả lời đầu tiên của Đức Giêsu, khi người ta hỏi Người xem điều gì là quan trọng nhất đối với Người. Qua lời nói trên miệng Người, ta thấy Luật cũ đang có một sức sống mới.

Người phải yêu mến Đức Chúa. Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí, hết sức lực Người ?

Thiên Chúa thật vĩ đại ! Không phải bỗng nhiên mà chúng ta lại nghĩ đến việc kính yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa trong triết học và trong các tôn giáo khác, đòi hỏi thái độ tôn thờ, kính sợ Thánh Thiêng, vâng phục nhiều hơn. Còn đối với Israel cũng như đối với Chúa Giêsu, điều mà Thiên Chúa chờ đợi ở chúng ta, đó là tình yêu. Đặc điểm của Thánh kinh, đó là làm cho con người trở nên kẻ chung phần yêu thương trong giao ước tình yêu. Chính Thiên Chúa đã cho con người khả năng đó bằng cách tạo con người. "Giống như Thiên Chúa là tình yêu " ( 1 Ga 4,8).

Tôi có yêu Thiên Chúa không ? Không nên vội trả lời là có Chúng ta hãy khiêm tốn khi xét đoán kẻ khác. Bạn làm gì cho "Đấng mà bạn yêu mến", nếu không phải là yêu mến Người ? Có thật là bạn thương yêu Thiên Chúa "hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức" không ? Sự lặp đi lặp lại trên đây rõ ràng là muốn diễn tả trọn vền cường độ tình yêu đòi phải huy động và đầu tư tất cả khả năng và sinh lợi của chúng ta.

Lạy Chúa, xin cho tình yêu Chúa thiêu đốt con toàn diện từ đầu đến chân, từ tinh thần đến thân xác, từ sáng đến tối, từ lúc trẻ đến lúc già, từ đời sống thầm kín nhất của con đến những trách vụ tập thể bên ngoài.

Điều răn thứ hai là...

Vâng, ở đây chúng ta biết rõ Đức Giêsu hơn, kinh sư chỉ hỏi có một điều răn. Không còn đợi người này hỏi thêm. Đức Giêsu, theo thói quen của Người, đã đi xa hơn. Chúng ta chớ quên nhtlng gì vừa nghe Người nói. Điều người sắp nói đây cũng rất quan trọng, những đứng ở vị trí thứ nhì : Thiên Chúa phải là trước hết.

Ngươi phải thương yêu người thân cận như chính mình.

Cần phải phân biệt rõ hai điều răn này. Người ta thường có khuynh hướng hợp nhất hai điều răn này làm một, như thế "yêu Thiên Chúa" là đủ, hay "thương yêu anh em" cũng đủ. Điều răn thứ hai không thể thay' cho điều răn thứ nhất được. Nếu, ta tục hóa điều răn thứ nhất, thì chúng ta nhạo báng Đức Giêsu, biến Chúa thành một nhà giảng thuyết xã hội, một luân lý gia về tình huynh đệ. Đã có rất nhiều vĩ nhân nói về vấn đề này rồi !

Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.

Đây là một tư tưởng rất tinh tế. Chúng ta hãy để ý chữ "điều răn" trước dùng ở số ít, như là chỉ có một ? Nhưng chữ sau ở số nhiều, vì có hai điều và quan trọng như nhau.

Ông kinh sư nói với Đức Giêsu : Thưa Thầy, phải lắm, Thầy nói rất đúng, Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ta không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình, thì hơn là dâng mọi lễ vật toàn thiêu và hy lễ. Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu.

"Nước Thiên Chúa" đã được chuẩn bị từ lâu qua nhiều thế kỷ trong lịch sử, trong nền văn hóa và trong sinh hoạt đạo đức của dân ít-ra-en, giờ đây đã đến, đó là chính Đức Giêsu.

Người kinh sư Do Thái này sẽ thljtc hiện một bước cuối cùng chăng. "Trong vài ngày nữa, Đức Giêsu chỉ cần thêm hai chữ "như Ta" để cho các điều răn yêu thương có tầm cỡ vương quốc cũ và mới : "Hãy thương yêu như Ta đã yêu thương (Ga. 15,12). Trong lòng Đức Giêsu, luôn chứa chan tình yêu : tình yêu thứ hai là do tình yêu thứ nhất mà ra !



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Đó là giới răn thứ nhất,

còn giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất ..."


BÀI TIN MỪNG : Mc 12, 28b - 34 

I . Ý CHÍNH : 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và người Luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã xác nhận tình yêu là căn bản cho mọi cuộc sống tôn giáo . Vì thế yêu mến Chúa và yêu người là giới răn trọng nhất .

II . SUY NIỆM : 

1 / " Có người trong nhóm Luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu " : 

Nơi người Do thái, bè phái Xa đốc và Biệt phái tiêu biểu cho hai luồng tư tưởng và cách sống đối nghịch nhau ( Cv 23, 8 ) . ở đây có một Luật sĩ trong nhóm Biệt phái đã theo dõi cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và bè Xa đốc về vấn đề kẻ chết sống lại ( Mc 12, 18 - 27 ) thấy Chúa Giêsu làm câm họng bè Xa đốc ( Vì họ không tin có sự sống lại, ngược với niềm tin của Biệt phái ) nên ông này cảm phục giáo thuyết của Người rao giảng và tiến đến hỏi Người .

2 / " Trong các giới răn điều nào trọng nhất " : 

Giới răn ở đây chỉ toàn thể các giới răn trong Cựu ước .

Nguyên luật Do thái có 613 điều luật, chia ra 248 điều tích cực và 365 điều tiêu cực . Xét về sự quan trọng, người ta lại chia các điều luật đó ra nhiều hạng : kinh giới và trọng giới, đại giới và tiểu giới, nhưng các người Biệt phái lại không đồng ý với nhau về giới luật nào trọng nhất . Vì thế người Luật sĩ mới đến để dò xem Chúa cho biết điều luật nào là trọng nhất .

3 / " Giới răn trọng nhất chính là " : 

+ " Hỡi Israel, hãy nghe đây " : kiểu nói này diễn tả việc Chúa Giêsu trả lời không riêng gì cho người Luật sĩ đến hỏi Chúa, nhưng còn cho toàn thể dân Do thái và hết mọi người nữa . Chúa Giêsu đã trích dẫn Thánh Kinh là điều các luật sĩ rất thông thạo và do đó họ dễ chấp nhận để trả lời .

+ " Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất " : Chúa Giêsu trưng ngay điều luật thứ nhất trong thập giới của Thiên Chúa đã ban truyền cho Môisen và được ghi lại trong sách thứ luật ( Tl 6, 5 ) . Chúa muốn xác định lại về " Độc nhất tính " của Thiên Chúa để nói lên lý do và tính cách quan trọng của luật trọng nhất .

+ " Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi " :

* Người Do thái hiểu tiếng " lòng " và " trí " là trí khôn, còn tiếng " Hồn " họ hiểu về các tài năng cảm giác, còn tiếng " hết sức " có ý dậy phải dùng cả đến hành động, để phụng sự Thiên Chúa .

Kiểu nói " Hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn và hết sức " chỉ toàn diện con người : có ý nói con người phải quy hướng tất cả cuộc sống của mình về Thiên Chúa, để phụng sự Người vì Người là Thiên Chúa độc nhất .

4 / " Còn giới răn thứ hai : ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi " : 

Còn giới răn thứ hai : yêu mến tha nhân, Chúa Giêsu đã chưng dẫn trong sách ( Lv 19, 18 - 34 ) .

* Tha nhân : trong Cựu ước chỉ có nghĩa là người gần gũi với người Do thái về huyết thống và chủng tộc . " Nhưng tha nhân " Chúa Giêsu dùng ở đây có ý hiểu về hết mọi người, không phân biệt tôn giáo ( Lc 10, 35 ) chủng tộc ( Mt 8, 5 ) người nghĩa thiết hay kẻ thù ( Mt 5, 44 ) .

* Như chính mình ngươi : không chỉ có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì ngươi làm cho ngươi, nhưng đúng hơn là phải đối sử với kẻ khác " Cùng một tình yêu " như Người đã sử với ngươi . Chứng tỏ rằng yêu mến tha nhân là muốn hội nhập tha nhân vào con người của mình đến mức cả hai người chỉ còn là một đối tượng tình yêu duy nhất và một tâm hồn duy nhất ( Cv 4, 32 ) . Đó là một nét độc đáo của tình yêu Kitô giáo, thứ tình yêu đạp đổ mọi hàng rào ngăn cách chủng tộc, mầu da, vượt lên trên óc phân biệt Quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi hiềm khích hay những thành kiến cá nhân hoặc cổ truyền .

5 / " Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó " : 

Tất cả các giới răn trong Cựu ước được tóm kết vào hai giới răn đó . Chứng tỏ khi trả lời, Chúa Giêsu chưa đưa thêm điều gì mới . Nhưng sau này Chúa đã ban thêm một điều răn mới là " Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu mến các con " ( Ga 13, 34 ) .

* Cần lưu ý rằng người Do thái đã biết hai giới luật mến Chúa và yêu người . Nhưng hai giới luật này nằm cách xa nhau trong các sách Cựu ước ( Đnl 6, 5 và Lv 19, 18 - 34 ) và đã không được nổi bật lên . Nay Chúa Giêsu liên kết hai giới luật đó lại và đặt chúng lên một vị trí quan trọng, là vị trí gồm tóm tất cả giới luật, Chúa Giêsu đã vừa trả lời đâu là giới răn trọng nhất, đồng thời Người cũng trả lời rằng các giới luật khác đều chứa đựng trong hai giới luật đó .

6 / " Thưa Thầy, đúng lắm, Thầy dạy phải lẽ ..." : 

Diễn tả tâm tình thiện cảm và xác tín của người Luật sĩ đối với tuyên phán của Chúa Giêsu về giới răn trọng nhất .

" Hơn mọi lễ vật toàn thiêu là lễ vật hy sinh " :

Việc mến Chúa yêu người có giá trị làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn những của lễ hiến dâng có tính cách lễ nghi và vật chất .

7 / " Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan " : 

Qua ý kiến khôn ngoan trên đây, Chúa Giêsu đã nhận thấy người Luật sĩ đã tiếp đón giáo huấn của Người với thiện chí và tế nhị, nên Chúa đã khen ông .

+ Biết và thực hành hai điều quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người thì sẽ được vào Nước Trời . Người Luật sĩ đã nhận ra và hiểu hai giới luật này thì được kể là " không còn xa " nhưng còn phải đem ra thực hành nữa, thì mới đủ điều kiện để vào nước Thiên Chúa ( Lc 10, 28 ) .

III . ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu muốn xác định lại nét độc đáo của đạo Công giáo chúng ta là đạo bác ái : Mến Chúa và yêu người . Là người Kitô hữu chúng ta yêu mến Chúa thì cũng phải thương yêu tha nhân . Nếu có ai nói rằng mình yêu Chúa mà lại không yêu tha nhân thì người đó là công giáo giả hiệu .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a / Xem việc Người làm : 


+ Chúa Giêsu đã cảm hóa được người Luật sĩ với thái độ dịu hiền và khôn ngoan của một người hướng dẫn đường lành, dù là người có tội, khô khan, hay người lành mà muốn thanh tẩy hay thăng tiến đời sống, chúng ta hãy mau mắn chạy đến với Chúa trong những giờ cầu nguyện hoặc đến với Giáo Hội để nghe giáo huấn và chỉ dẫn . Noi gương Chúa, chúng ta cần có thái độ dịu dàng và khôn ngoan để cảm hoá tha nhân, dù tha nhân đó là ai đi nữa : thân hay thù nghịch với mình .

+ Chúa Giêsu đã khích lệ người Luật sĩ khi nhận thấy người này có ý kiến khôn ngoan, Chúa thường tăng ơn giúp sức khi ta biết sử dụng ơn Chúa hiệu quả cho phần rỗi, vì ai có, Chúa lại cho thêm . Chúng ta đừng quên khích lệ bằng cách này hay cách khác khi thấy tha nhân có điều hay điều tốt để thăng tiến họ .

b / Nghe lời Chúa nói : 

+ Chúa Giêsu trưng dẫn điều luật thứ nhất trong Thập giới về độc nhất tính của Thiên Chúa để đòi hỏi chúng ta chỉ được thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi . Vì thế khi chúng ta tin dị đoan, xem bói, gieo quẻ, rút xăm hoặc tin tưởng vào quyền lực nào bên ngoài Chúa là chúng ta lỗi điều răn thứ nhất về tội thờ phượng Thiên Chúa .

+ Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn và hết sức ngươi, Chúa đòi hỏi chúng ta phải yêu mến Chúa với toàn diện con người, nghĩa là phải biết dùng tất cả cuộc sống mình quy hướng về Chúa để phụng sự Người trong việc làm vinh danh Chúa và mưu ích phần rỗi cho mọi người .

+ Hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi . Chúng ta thực hành điều luật nàu bằng cách :

* Mười điều phải tránh :

- Không nói xấu .

- Không nghĩ sự trái cho ai .

- Không gây xích mích với ai và chia rẽ ai .

- Không xâm phạm quyền lợi của ai .

- Không muốn sự dữ cho ai .

- Không mắng nhiếc sỉ nhục ai .

- Không hờn giận ai .

- Không để lòng thù oán ai .

- Không ghen ghét ai .

- Không tranh dành quá quyền lợi của mình .

* Mười điều nên làm :

- Nói tốt cho tha nhân .

- Nghĩ điều tốt về tha nhân .

- Ước muốn sự lành cho tha nhân .

- Vui vẻ nhã nhặn với mọi người trong ngôn ngữ, cử chỉ và diện mạo .

- Cố gắng làm vui lòng tha nhân trong những điều hợp lệ .

- Tôn trọng quyền lợi của tha nhân .

- Sẵn sàng hy sinh một phần hay tất cả quyền lợi của mình cho tha nhân .

- Giúp đờ tha nhân phần hồn phần xác như trong kinh " Thương người có 14 mối " .

- Cố gắng duy trì tình huynh đệ và hợp nhất với tha nhân .

- Phục vụ tha nhân hơn là đòi tha nhân phục vụ mình .

* Năm điều thương kẻ thù :

- Tha thứ cho kẻ thù .

- Làm hoà với kẻ thù .

- Nguyện cầu cho kẻ thù .

- Làm ơn cho kẻ thù .

- Chúc lành cho kẻ thù .

2 / Nhìn vào người Luật sĩ : 

a / Cảm phục giáo huấn của Chúa Giêsu qua việc chứng kiến cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và bè Sa đốc, người Luật sĩ đã đến hỏi Chúa Giêsu để học thêm về điều mà mình đang thắc mắc . Chúng ta có rất nhiều khúc mắc trong cuộc sống, nếu chúng ta đã cảm phục Chúa vì niềm tin tưởng, cậy trông và mến Chúa thực tình thì chúng ta không còn e ngại hay do dự đến học hỏi với Chúa qua những giờ cầu nguyện, suy niệm hoặc nghe sự hướng dẫn của Giáo Hội là đại diện hữu hình của Chúa để được hướng dẫn và giải đáp cho ta .

b / Người Luật sĩ có thiện chí đón nhận giáo huấn của Chúa và Chúa đã khen ông không còn xa nước Thiên Chúa bao nhiêu . Chúng ta được diễm phúc đón nhận Chúa qua đức tin, bây giờ chỉ cần thực hành theo điều mình tin là sẽ đón nhận được Nước Trời .

c / Đặt mình vào vai trò của người Luật sĩ, chúng ta sẽ được soi sáng để nhận biết tình yêu là sức mạnh của tâm hồn . Nếu chúng ta có tinh thần yêu mến tha nhân thực tình, thì tình yêu đó sẽ hướng dẫn chúng ta sử thế với tha nhân trong khoan dung nhân hậu không ghen tương, không ba hoa, không tự mãn, không khiếm nhã, không ích kỷ, không nóng giận, nhưng hết lòng tha thứ, hết lòng kính tin, hết lòng trông cậy và hết lòng kiên nhẫn . ( Cr 13, 2 - 7 ) .

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn