Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXXII Thường Niên B

Tin mừng Mc 12:38-44: Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói : "Thầy bảo thật anh em, bà góa nghèo này đã bỏ tiền vào thủng nhiều hơn ai hết".

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN B



Tin Mừng Mc 12:38-44


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
THÓI ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ LÒNG QUẢNG

ĐẠI THỰC (Mc 12, 38 - 44)

CÂU HỎI GỢI Ý

1.Hai đoạn văn này (cc.38-40 và 41-44) được liên kết với nhau ra sao trên hình thức?

2. Ở đây Chúa Giêsu quở trách các ký lục về mấy điểm?

3. Đâu là ý nghĩa xét riêng của trình thuật bà góa?

4. Tại sao Mc ghi chú nơi c.43: Chúa Giêsu gọi các môn đồ và giải thích cho họ về cảnh tượng?

5. Lấy ý niệm nào để tổng hợp cả hai đoạn văn?

Hai đoạn văn của Mc về thói quen của các ký lục và về đồng tiền của bà góa ít nhất được liên kết với nhau bằng một tiếng móc, phương pháp đặc biệt của "thể văn nói từ "những bà góa" mà các ký lục bóc lột hết nhà cửa. người ta đi sang "bà góa" bỏ hai trinh vào Hòm tiền. Ngoài ra hai giai thoại đều được định vị tại Giêrusalem và rõ rệt hơn trong Đền thờ; nơi Chúa Giêsu được coi như không rời khỏi từ Mc .11,27 trở đi (x. 12,35 và Lc 20, 1). Phải chăng không có một ý tưởng ngầm nào liên kết hai bản văn ấy ?

Hai cảnh cũng gặp lại trong Luca (20,45-21,4) với những từ ngữ khá như nhau và một thứ tự in hệt; Lc 20,46 còn gần với Mc 12,38b-39 hơn là chính bản văn của ông nữa (11, 43), bản văn nằm chen trong trình thuật du hành" (9,51-18,14). Chắc chắn là Lc 20,45-21,4 đã theo Mc hoặc một nguồn chung cho cả hai (bản Mt Aram được dịch?) hoặc theo Mc lẫn nguồn chung đó. Những thay đổi nhẹ nhàng mà Lc hình như đã làm đối với bản văn của Mc hoặc nguồn chung, chỉ nằm trên phương diện bút pháp ; nhưng nội dung chung của bản văn làm nổi bật những chủ đề quen thuộc với ông hơn là với Mc.

I.THÓI GIẢ HÌNH CỦA CÁC KÝ LỤC (12 , 37b - 40)

Lời kết án các ký lục, theo đoạn này của Mc và theo đoạn song song Lc 20,45tt, có nhiều điểm giống lời kết án Biệt phái cùng luật sĩ trong Lc 11,37-54; đặc biệt Lc 11,43 song song với Lc 20,46. Các dữ kiện của hai đoạn văn Lc đều được nhập lại và khai triển trong chương 23 của Mt, với ít nhiều dị biệt trong những câu song song. Theo một phương pháp thông thường, Mt đã tổng hợp lại các lời Chúa Giêsu quở trách ký lục và biệt phái, trong lúc Lc để riêng ra các đóng góp của hai nguồn chính của ông, mà một có lẽ là Mc hay (vài tác giả nói "và") một nguồn chung cho cả ba thánh sử. Ở đây không có gì cho phép giải quyết ngay "vấn đề Nhất lãm" được. Nhưng các câu song song của Lc và Mt đặt ra một câu hỏi kép: các địch thủ thật sự của Chúa Giêsu trong dịp này là ai; người đã nói những lời đó khi nào ?

1. Các địch thủ của Chúa Giêsu.

Một khi lưu ý đến các hoàn cảnh lịch sử, ta sẽ thấy các ' lời quở trách ký lục ở Mc 12 (Lc 20 ; Mt 23) nằm đúng chỗ hơn là trong Lc 11, nơi mà chúng ta tìm thấy phần lên chất liệu được sưu tập bởi Mt 23. Các lời quở trách đó được đặt trong khung cảnh tuần lễ sau cùng, ở điểm đoạn tuyệt giữa Chúa Giêsu với các địch thủ, những kẻ đã chúng tỏ dứt khoát dã tâm của họ và đã âm mưu giết người (Mc 11,18; Lc 19,47, Mt 21 ,46). Thành ra không phải là vô lý mà Mc và Lc chỉ giữ lại ở đây những lời cáo trách tương đối nhỏ, để biến đoạn này thành phần bổ túc và kết luận cho loạt đấu khẩu trước đó (Mc 11, 27-12,37a và ss) {"Y như đã tấn công giáo huấn của các ký lục nơi 12,35-37a, ở đây người ta lên án các thói quen của họ. Mục đích thích đáng này giải thích tại sao chỉ có những lời cáo trách vừa nói trên được ghi lại. Mc hoặc một tiền nhân đã muốn cho thấy sự đoạn tuyệt giữa Chúa Giêsu với các giáo sĩ nên trọn vẹn ở điểm nào", V.Taylor, The Gospel according to St Mark, Londres, 1957, tr.493t. Ngoài ra, bản văn này còn làm nên một dẫn nhập hay ho cho diễn từ về sự điêu tàn của Giêrusalem, mà nguyên nhân là sự cứng lòng của các thủ lãnh dân Do thái.

Các thủ lãnh nào vậy ? Mc cũng như Lc 20,46 ở đây chỉ nói là các ký lục, trong lúc nơi đoạn song song Lc 11,43, các lời quở trách nhắm đến Biệt phái. Mt liên kết cả hai: "các ký lục và Biệt phái" (23,2). Điều đó vẫn không cho phép ta lẫn lộn họ. Lc đã phòng xa việc lẫn lộn này bằng cách để riêng một diễn từ lên án các Biệt phái (11,39-44) và một diễn từ lên án các ký lục (11,40-52). Tuy nhiên, chính vì phỏng ước, nếu không muốn nói là do lầm lẫn" (J. Jeremies, Jérusalem aux tomps de Jésus; hán dịch Pháp ngữ. Paris,1967, tr.340, chú thích 56) mà cũng đoạn Lc này (11,43) đã cho nhắm vào Biệt phái lời quở trách ham tìm chỗ nhất: đúng ra lời quở trách áp dụng vào các ký lục, như bản văn Mc của chúng ta đây (c.39) và Lc 20,46 xác nhận. Sở dĩ truyền thống Tín Mừng có nhưng lộn xộn đó là do ở chỗ các ký lục, chuyên viên giải thích lề luật phần lớn thuộc phiệt phái, và do ở chỗ các Biệt phái quèn, đoàn viên các công hội mà thủ lãnh và các ký lục, "thường tổ chức đời sống theo những nguyên tắc và quy luật của các ký lục Biệt phái" (A. Michel và J. le Moyne, Dictionnaire de la Bible (supplément) mục pharisiens, 1965, cột 1071).

2. Cử tọa của Chúa Giêsu (cc. 37b-38a)

"Và dân chúng đông đảo vui thích nghe Người. Và trong khi giảng dạy, Người nói...". Chúng tôi liên kết c.37b vào câu sau hơn là vào câu trước, theo đoạn song song trong Lc 20,45: "Trong khi toàn dân nghe Người thì Người nói với môn đồ như sau :

Mc không đề cập tới các môn-đồ, xem tra họ vắng mặt, lát nữa Chúa Giêsu sẽ phải gọi họ (12,43). Mt, vốn ưa lối dồn tụ, đã liên kết "đám đông và các môn đồ" (23,1) cũng như liên kết trong câu tiếp theo "các ký lục và Biệt phái" : ta có thể vẽ lại quang cảnh với nhiều khuôn mặt đặc biệt chăm chú giữa đám đông. Trên bức tranh được cảm hứng từ trình thuật Lc, dân chúng đóng vai trò làm nền, cón Chúa Giê-su thì nói với các môn đồ đang quy tụ trước mặt Người, riêng một nhóm. Khi hạn chế đám thính giả trực tiếp như vậy, có lẽ Lc muốn làm nổi bật tính cách hiện thực của lời Chúa Giêsu cảnh giác đối với các môn đồ thời ông. Kitô hữu không được coi những cảnh giác của Thầy là lỗi thời; họ chẳng tránh được những thói xấu tương tự như các ký lục đâu.

Còn Mátcô, ông không quá bận tâm áp dụng các giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu vào đời sống Kitô hữu thường nhật. Tuy nhiên, "đã không ai hơn Mc trong việc liên kết Chúa Giê-su với các môn đồ" (B. Rigaux, l'émoignage de l'evangile Marc, Bruges, 1965, tr. 157, xem (và so sánh vai các đoạn song song) Mc 1,21.23.36; 3,7; 5,37; 6,1; 8,34; 10,23.40; 11,11.27; 12,43; 14,26.32), Ông đã trình bày các môn đồ dấn thân với Chúa Ciêsu trong việc rao giảng Tin Mừng và chia sẻ thập giá. Sở dĩ ông không đề cập đến các vị ở đây, là vì chỉ muốn nhấn mạnh cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng giữa Chúa Giêsu với các tư tế cùng các nhà thần học, cuộc tranh chấp mà ở điểm này của trình thuật, sắp đưa đến thảm kịch Canvê (x. 11,18 và 14,1 : "các thượng tế và các ký lục" ). Trong những điều kiện ấy, việc đề cập tới dân chúng (ochlos, dân chúng theo nghĩa trần tục, không phải laos, toàn dân, như trong Lc 20,5) mặc một màu sắc hơi đáng quan ngại. Nơi Mc, dân chúng khá thiện cảm với Chúa Giêsu cho đến ngày xảy ra vụ án ; tuy nhiên đôi khi ông mô tả họ như những kẻ chờ thời, dễ xấu hổ vì Con Người (8,38), cứng tin (9,19). Ông sẽ cho họ xuất hiện lần nữa ở 15,11-14, nơi người ta thấy các thượng tế xúi dục họ xin giết Chúa Giêsu (c.14), sau khi đã hội nghị với hàng niên trưởng và ký lục. Phải chăng thánh sử đã nghĩ đến quang cảnh này rồi khi nhắc lại việc Chúa Giêsu, lúc kết thúc sứ vụ ở Giêrusalem, đã kêu xin dân chúng đề phòng các ký lục nhưng vô ích)? Niềm vui lắng nghe Chúa Giêsu chẳng bén rễ sâu trong họ (Mc 4,16tt), và chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà trong toàn bộ các Tin Mừng, từ ngữ "thích thú lắng nghe" chỉ xuất hiện ở đây và ở mặc 6,20 là đoạn nói Hêrôđê, dù cảm phục sự thánh thiện và lời giảng huấn của Gioan Tẩy Giả, nhưng rồi vẫn không chống cưỡng lại được giản kế của Hêrôđiađê.

3. Thói chuộng hư vinh của các ký lục (cc. 38t-39)

Những lời Chúa Giêsu quở trách các ký lục được trình bày theo một thứ tự đi lên: từ những lối ham chuộng hư vinh (khoe áo khoe quần, thích được chào kính và ngồi chỗ danh dự), người ta đi sang việc bóc lột các bà góa, rồi đến thói giả đạo đức đúng nghĩa, thói đạo đức mà tính cách xấu xa được nhấn mạnh trong câu cuối cùng của đoạn văn. Ở đây chúng ta không cần hỏi các ký lục có hoàn toàn xứng đáng bị tố cáo như thế không: nhiều sử gia nhất là Do thái, đã phủ nhận điều đó; nhưng chính cuốn Talmud (sách chú giải lề luật Do thái) đã công nhận những lời ấy đúng với một số người trong họ và giọng điệu ngôn sứ của các lời cảnh giác hay đúng hơn "các lời nguyền rủa" này cho thấy có một sự ứng quát hóa hơi hơi. Vả lại, toàn thể các Tin mừng có đưa nhiều điểm khiến ta phải điều hòa đôi chút, như Lc đôi khi ghi chú rằng chỉ "một vài ký lục hay Biệt phái" có liên hệ (ví dụ 6,2; 11,15, so sánh với các bản văn song song); Mátcô thì cho thấy (12,28-34) Chúa Giêsu đã có lầu khen một ký lục đầy khôn ngoan; thỉnh thoảng ta gặp vài người phiệt phải "tốt" Nicôđêlnô, Giuse ...) và theo Mt (13,52; 23,34; 8, 19), Chúa Giê-su tán dương lý tưởng của người ký lục Kitô giáo.

Trước tiên các ký lục thấy mình bị khiển trách là ưa "dạo quanh, áo quần xúng xính". Đây chắc là áo talith, một loại áo choàng các giáo sĩ đặc biệt sử dụng. Ví nó phải mang phết đất và vì đoạn song song Mt 23.5 quở trách các ký lục nối dài tua của nó ra (x. Ds 15,37; Đnl 22, 12), nên người ta đã nghĩ rằng lời quở trách ở đây cũng vậy? dạo quanh áo quần xúng xít, nghĩa là nối dài tua áo Talith để tỏ ra là kẻ giữ luật đàng choàng và lôi kéo sự tôn kính. Tuy nhiên, công thức tổng quát hơn của Mc và Lc có thể cũng nói đến độ rộng bắt buộc của áo choàng và phẩm chất của vải. Dầu sao, đây vẫn là sự khoe khoang quần áo: một thói xấu rất phổ thông, xưa cũng như nay, nhưng đặc biệt gây khó chịu và bực mình nơi những người chuyên lo việc thánh bởi vì họ khai thác một uy tín tôn giáo để tìm kiếm vinh dự.

Thói ưa được bái chào nơi công trường là một xấu cùng loại. Trên các công trường xưa ở Đông phương, đầy những kẻ bán hàng và người đi dạo cà ròng, các luật sĩ có nhiều thì giờ để ngây ngất với những cử chỉ tôn kính sâu sắc mà dân chúng coi như một bổn phận phải làm đối với họ. Khai thác uy tín các chức vụ thánh ban cho với một mục đích ích kỷ cùng tầm phào như thế làm cho thói chuộng hư vinh đó tăng thêm sự xấu xa.

Cũng phải nói như vậy về hình thức phô trương thứ ba : " ưa chỗ nhất trong hội đườug và ghế nhất nơi bàn tiệc". Theo lời chứng của các giáo sĩ về sau thì các ký lục, thừa kế quyền giải thích luật trên "tòa Môisen" (Mt 23,2), thường chiếm trong hội đường những chỗ đặc biệt, quay mặt về phía dân chúng. Nên chẳng-lạ gì khi nhiều ngtlời đã chiều theo cám dỗ lợi dụng những dấu kính tôn mà họ được hưởng. Và vì sự tôn kính này theo họ khắp nơi nên họ không những tự đắc khoe khoang trong các hội đường, mà còn trong các buổi họp mặt thông thường như yến tiệc. Ở những nơi này thứ tự chỗ ngồi được thu xếp tùy theo danh giá, nên sự tìm kiếm hay mối ưu tư thứ vị có thề mặc sức tung hoành.

Đoạn văn chúng ta đây không phải là chứng từ duy nhất về những lời Chúa Giêsu phê bình một thái độ như vậy. Trong một lời cảnh giác phỏng theo Cn 25,6t Ngươi có nói: kẻ được mời dự tiệc coi chừng bị đổi chỗ và bẽ mặt nếu bò lên chỗ nhất; tốt hơn hãy chọn chỗ chót và gia chủ sẽ làm cho mình được vinh dự khi đưa mình lên chỗ cao hơn. (Lc 14,7-11) [Cũng có một lời cảnh giác trương tự nơi giáo sĩ Shimon Ben Azzai (khoảng 100 năm sau (Chúa Ki-tô): "Hãy tụt xuống dưới chỗ của ngươi hai hoặc ba hàng và ngồi đó; vì thà người ta nói với ngươi: mời ông lên, hơn là: xin ông xuống" (Aboth của Rabbi Nathan 25, được trích dẫn trong DBS, mục đã dẫn, cột 1080]. Nói vậy, Chúa Giêsu chắc không có ý tán thành thời chuộng hư vinh của con người và những tính toán của thói đó, vì đây chỉ là một dụ ngôn (mashal) (c.7) có hình thức nghịch lý mà trong đó cái đáng kể là bài học khiêng tốn cuối cùng, cái bài học nguyên thủy ở đây: "Ai nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên" (c. 11). Vả lại Lc đã tạo ra quang cảnh gây nên trình thuật như sau: đang khi dùng bữa tại nhà một người Biệt phái, Chúa Giêsu đã nhận xét thấy làm sao các thực khách háo hức chọn lựa chỗ nhất. Một khung cảnh lịch sử như vậy chắc là khó có thể xảy ra, nhưng lời Chúa Giêsu kết án hình thức của hư vinh ấy của Biệt phái và thái độ quỵ ngã ẩn tàng bên trong đã được c.39 của mặc xác nhận rõ. Ai dám bảo lời quở trách này không còn hợp thời, nhất là đối với những người của Giáo Hội ? Mt ở đây nhắc lại cách thích thời cho các Kitô hữu một huấn lệnh mà chắc Chúa Giêsu đã nói vào những dịp khác: "Kẻ lớn nhất trong các ngươi sẽ là tôi tớ của các ngươi" (23,11).

4. Bóc lột các bà góa và giả bộ đạo đức (c.40).

Những lời công kích trên đây ít nhất nhắm đến giai cấp đầu tiên trong 7 giai cấp Biệt phái mà sách Talmud có nói rõ: "các Biệt phái vai", những kẻ mang trên vai các công việc của mình, nghĩa là phô trương để được khen ngợi. Những lời đó tương ứng với câu nói tổng quát hóa cách khắt khe của Mt : "Họ làm mọi việc để được người ta chú ý"(23,5). Tuy nhiên, sau đây còn nhiều lời quở trách nặng hơn.

a. Bóc lột các bà góa.

Trước tiên các ký lục ngốn cả nhà cửa của các bà góa". Thân phận mà lề luật dành cho các bà góa chẳng đáng ao ước bao nhiêu, vì họ không có quyền hưởng gia sản của chồng (x. Ds 27,9-11 ; Lv 17,8-15; 2V 4,1-7). Nhưng ở đây Chúa Giêsu không đổ lỗi cho chính lề luật, Người chỉ lên án các lạm dụng thôi. Người ta đã nghĩ rằng các ký lục, nhờ quá am tường các lý sự vụn luật pháp, đã thành công trong việc tránh né pháp chế hiện hành, gây thiệt hại cho những bà góa đã ký thác tài sản cho họ (x. Mt 15.3-9 và ss); hoặc vì được những bà tận tâm giúp đỡ vật chất cho như Chúa Giê-su (Lc 8,3), họ đã đâm ra lợi dụng lòng quảng lại của các bà ấy. J Jérémias có nói là "nhiều ký lục ăn chực chất lên khai thác lòng hiếu khách của những người nghèo khổ" (J.. Jérémias. sdd, tr.166). Dù sao, khai thác nguồn lợi của các bà góa, hạng người dễ bị tổn thương nhất, là một tội đặc biệt ghê tởm trước mắt nhà làm luật và các ngôn sứ Cựu ước (Xh 22,21tt; Đnl 27, 19; Ds 1,23-10,2; Gr 7,6; 22,3; Tv 94,6) trong khi theo gương Thiên Chúa nâng đỡ cô nhi quả phụ (Đnl 10, 18tt; Tv 68; 146,9; Hc 35,14tt) là một việc thiện đứng hàng đầu (Đnl 14,28tt; 24, 17-22; 26, 12tt; G 29, 1 3; 31,16; Gc 1.27).

Tiếp theo những bài giáo lý Ki-tô giáo đầu tiên có ghi lại lời cảnh giác của Chúa Giê-su, chúng ta có thể áp dụng lời đó cho chính thái độ của chúng ta đối với hết thảy những người yếu đuối, nghèo khổ trong xã hội, và cho mọi bất công mà chúng ta đã có thể khôn khéo biện minh.

b. Giả bộ đạo đức.

Lời quở trách sau cùng của Chúa Giêsu cũng là lời nặng nhất: "Họ làm bộ cầu nguyện lâu dài". Là những kẻ đạo đức giả chính hiệu, một số các ký lục che dấu thói chuộng hư vinh và tội bóc lột dưới một mặt nạ đạo đức ; hay ít nhất làm mất ý nghĩa của việc cầu nguyện bằng sự ham muốn được để ý. Lời trách cứ gần giống với Mt 6,5: khi các người cầu nguyện, thì chớ bắt chước bọn giả hình; chúng ưa đứng cầu nguyện trong hội đường và các ngã tư hầu được người ta thấy"' Chúa Giêsu không quở trách các ký lục cầu nguyện công khai (chắc Người cũng đã từng làm vậy, ít nhất tại Đền thờ, mặc dầu Tin Mừng không bao giờ nói), hay cầu nguyện lâu giờ, nhưng là đóng kịch đạo đức, hay ít nhất biến hành vi cầu nguyện ra xấu, bằng cách muốn dung hợp với thói phô trương phù phiếm của họ hết thảy những ai có đến thờ phượng chu đáo nhưng vụ hình thức và thiếu nội tâm, đều dễ tìm kiếm sự dung hợp bất khả này và do đó lừa gạt chính mình cũng như lừa gạt kẻ khác.

Lời đe dọa phạt nặng (vào lúc Chung thẩm) ở cuối đoạn văn xem ra áp dụng cho hai câu quở tl:ách sau cùng. Khi lòng ưa chuộng hư vinh chưa đến thói giả đạo đức, và khi thói giả đạo đức này che đậy một tính tham lam muốn tấn công các bà góa hay những kẻ không người bảo vệ, thì các tội nhân đã đạt đến tột đỉnh xấu xa nhất. Đó là chưa nói đến thái độ của họ đối với Chúa Giê-su.

II. ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA (12,41-44)

1.Ý nghĩa xét riêng của trình thuật.

Đầu bài khảo cứu hôm nay, chúng ta đã thấy là người ta đi từ tràng chửi rủa ký lục sang giai thoại kế tiếp nhờ tiếng móc "bà góa" và nhờ sự trùng hợp địa điểm. Theo Alberz và Vincent Taylor, chính Mátcô – được Lc noi theo - đã đem câu chuyện bà góa thêm vào một loạt câu chuyện đi trước (=Mc 11, 15-17 + 11 ,27-33 + 12,13-40). Nhưng nhiều kẻ khác nghĩ rằng loạt câu chuyện từ Mc 1 1,27 đến 12,44 dã có trước Mátcô.

Đây là một trình thuật ngắn về đời sống Chúa Giê-su xoay quanh câu tuyên phán đáng ghi nhớ nằn sau cùng "ap()pthtegme biographique"). Trình thuật được rút gọn xuống mức tối thiểu và còn bị giản lược hơn nơi Lc. Theo Luca. Chúa Giêsu thấy nhiều người giàu có bỏ tiền cúng vào Hòm tiền, rồi thấy một bà góa nghèo khổ đến bỏ và đó hai trinh. Nghĩa là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất. Mc thì nói rõ: Chúa Giê-su ngồi đối diện với Hòm tiền, quan sát dân chúng và có lắm người giàu có nhiều đồng bạc; ông cũng cho biết giá trị tương đương theo bạc Rôma của số tiền bà góa cúng (1/4 xu, nghĩa là 8 lần nhỏ hơn khẩu phần bánh phát mỗi ngày cho người nghèo). Tất cả những điều ấy phù hợp với môi trường Palestin, và chúng ta không thấy làm sao một vài tương tự của trình thuật chúng ta với một bản văn Phật giáo lại có thể hủy đi lịch sử tính của nó.

Tuy nhiên, trong cả hai Tin Mừng, người ta không biết phải đặt quang cảnh ở đâu cho đúng: phải chăng là nơi 13 cây cột mà sách Mishna nói là nằm trong tiền đường phụ nữ, hay nơi chính Hòm tiền ? Trong trường hợp sau, có thể nghĩ là những người dân cúng đã nói lớn cho tư tế biết mục đích bà và tổng số tiền dâng cúng của họ (điều giải thích được việc Chúa Giê-su biết bà goá đã dâng bao nhiêu) ; nhưng các chi tiết này đã biến mất khỏi trình thuật Tin Mừng (Strack- Bill, Kommentar zum N.T. aus Talmud und Midrash, Munich, 1924, t.H, tr.37 đến 45). Nếu giả thiết như thế, thì một số người dâng cúng đã có thể làm mất giá trị cử chỉ của họ vì thói khoe khoang; tuy nhiên, bản văn không có ý nói đến tật xấu này.

Một lần nữa, tất cả đều hướng về câu sau cùng, và không có vấn đề mắng nhiếc những người giàu có vì của cải biết đâu bất chính hay nguy biếm của họ, hoặc vì thói phô trương biết đâu có trong thái độ rộng rãi của họ. Du tổng số tiền dâng cúng rõ liệt nhỏ nhoi, bà góa đã "bỏ nhiều hơn hết": tỷ lệ giữa số tiền bố thí và tài nguyên của bà đã làm bà vượt lên trên những người đã bỏ nhiều hơn và cho thấy lòng bà sốt sắng hơn họ, vì bà đã dâng tất cả những gì bà có để sống. Không một bài học luân lý nào được minh nhiên suy diễn từ nhận xét này; nhưng những môn đồ quen với lối giảng dạy của Tôn sư có thể rút ra nhiều bài học. Phải coi chừng đừng đoán xét tha nhân và hành vi của họ qua những vẻ bên ngoài (điều mà lời cảnh cáo trước đã ngụ ý: Mc 12,40; x. Mc 23,27tt); Những kẻ quảng đại nhất cũng như những người đạo đức nhất không hẳn là nhtĩng ai lộ ra bên ngoài như thế; chỉ mình Thiên Chúa mới thấy rõ bí mật (Mt 6,4.6.18) và thấu hiểu mọi tâm hồn (Lc 16,15; x. Cv 1,24; 15,8). Vì thật ra chính ý hưởng của tâm hồn", của nội tâm" mỗi định giá các hành vi con người thực hiện (Mt 15, 19ss) chứ không phải vẻ bên ngoài của chúng. Mà trong số các hành vi con người thực hiện với ý ngay lành, thì việc bố thí, hành vi bác ái là từ bỏ, là một trong những điều đẹp lòng Thiên Chúa hơn hết (Mc 9,41 ss. Mt 6,3tt; 25,31-46; Mc 10,21 ss v.v...).

2. Viễn tượng của Mátcô và Luca

a. Cộng đoàn liên khởi và Mátcô.

Có lẽ Giáo Hội sơ khai đã đề ra thái độ của bà góa đặc biệt quảng đại này theo gương nhiều bà goá Ki-tô giáo, như là những bà đã ghi danh vào nhóm góa phụ, sau khi đã "chuyên cần vào mọi thứ việc lành" (1Tm 5,10) và đã cam kết giữ mãi thói quen đó.

Nhưng chính toàn thể cộng đoàn Ki-tô hữu phải cảm thấy liên hệ với trình thuật này và với bài học có thể từ đó rút ra. Mc có lẽ nhấn mạnh điều ấy khi ghi chú rằng (c.43) Chúa Giêsu, Sau kết đã nói với dân chúng, thì gọi lại các môn đồ, cái nhân của Giáo Hội tương lai, để mặc khải cho họ thấy giá trị cử chỉ của người đàn bà nghèo khó.

Mátcô cũng là người duy nhất nói đến việc dân chúng đi đi lại lại; chính là với họ (chứ không chỉ với những kẻ giàu như Lc) mà Chúa Giê-su đặt đối chọi bà góa: phải chăng ông không muốn ngụ ý là phải coi bà này như gương mẫu của một lòng đạo bên trong, lòng đạo của một tâm hồn biết giữ mình (hơn dân chúng) khỏi ảnh hưởng của các ký lục có lòng đạo vụ hình thức sao? Nếu thế thì mối dây liên kết giai thoại chúng ta với lời tố cáo các ký lục trước, lời tố cáo kết thúc loạt tranh luận, không phải chỉ có tính cách ngôn từ, nhưng còn là sự chuyển tiếp tinh vi, trên bình diện ý tưởng, giữa lời loan báo án phạt trên các tiến sĩ luật (c.40) và lời loan báo ngày tàn của Đền thờ.

b. Luca

Về phần Luca, vì nhấn mạnh nhiều đến việc bố thí (6,30; 11,41; 12,33; 16,9; 19,8; 21,1-4; Cv 9,36; 10,2; 11,29). Và sự từ bỏ của cải, nên có lẽ đã lưu tâm đến câu chuyện bà góa một cách khác: nếu rộng tay bố thí để một cách nào đó tránh tai họa đe dọa kẻ giàu (Lc 6,24) là một điều tốt đẹp, thì còn đáng ca ngợi hơn biết bao việc bố thí của người đàn bà, mà như góa phụ thành Sarepta (1V17,9-15 ; Lc 4 ,2tt) đã biết hy sinh hoàn toàn cái ít ỏi mình còn lại.

Ngược lại, "cái dư thừa" của những người dân cúng (Lc 21,4) không khiến ta nghĩ tới cái dư thừa của kẻ giàu khờ dại mà câu chuyện được dẫn nhập bằng lời huấn dụ sau đây sao: "Hãy lo giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải ai được sung túc là đời sống kẻ ấy được chắc chắn nhờ của cải" (Lc 12,15)? Người đàn bà nghèo khó hiến dâng cả sự bần cùng của mình là đối ảnh chính xác của ông phú hộ "chỉ biết thu tích cho bản thân" (12,21) và của kẻ giàu có (Biệt phái?) không nghĩ tới ngay cả chuyện để cho người nghèo Ladarô lượm những vụn bánh từ bàn ăn của mình (16,21).

KẾT LUẬN 

Đấng "dò thấu can trường lòng dạ" (Kh 2,23; x. Tv 1,10; Gr 11,20; 17,10) và không để bị gạt bởi cái bên ngoài cũng mời gọi môn đồ mình đừng để bị gạt bởi một cái vỏ đạo đức che dấu thói chuộng hư vinh, ham hố giả hình, cũng như bởi sự vô nghĩa bên ngoài của những hành vi bác ái phát xuất từ nhiều kẻ nghèo hèn, vô học. Họ hãy đề phòng những ông thầy lợi dụng, chuyên che dấu thói phô trương, sự bất công của mình dưới mặt nạ đạo đức nghiêm cách: không cần trở thành những Biệt phái chống lại Biệt phái, nhưng dựa vào ân sủng của Thiên Chúa và khiêm tốn ý thức sự yếu đuối của mình (Lc 18, 13), họ hãy cố gắng "đừng bắt chước" (Mt 6,5) và "đừng làm theo hành vi" của hạng người đó (Mt 23,3). Nhưng ngược lại hãy biết khám phá, trong của dâng cúng rất khiêm tốn của một bà góa nghèo, sức nặng của một tình yêu anh dũng dấu ẩn bên trong và hãy noi gương đó để cũng biết từ bỏ những "sở hữu" của họ.

Paul Ternant, Assemblées du Seigneur 63. tr. 53-63.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Nếu phải tránh lối mị dân dễ dãi, cho rằng những người có thân phận khiêm tốn đương nhiên sẵn sàng đối với Vương Quốc Thiên Chúa, thì cũng không nên quả quyết rằng bao người giàu có là bấy nhiêu công dân của vương quốc ma quy. Có những kẻ nghèo nàn nhưng lòng đầy ham hố, tham lam keo kiệt, cũng như có lắm kẻ giàu sang nhưng rộng rãi, biết thi ân và lòng chẳng dính bén. Sự "nghèo khó Tin mừng" không tất nhiên nằm nơi chỗ thiếu thốn của cải, nhưng nằm nơi thái độ từ bỏ, không xem của cải làm cùng đích để lao lực lao tâm, nhưng coi như là phương tiện để phụng sự Thiên Chúa và kẻ khác, và sẵn sàng chịu mất khi cần. Tuy nhiên, sự từ bỏ nơi kẻ giàu vẫn khó hơn nơi người ít của. Hãy cám ơn Chúa vì đã cho xảy đến bao nhiêu hoàn cảnh khiến của cải chúng ta ít đi để ta dễ hướng tâm về của đích thật, sự bảo đảm đích thật là Người.

2. Đoạn Tin Mừng nói về việc bà góa dâng hiến tất cả tài sản của bà tuy ngắn gọn nhưng rất thâm thúy, thật đáng chúng ta lưu tâm. Qua cử chỉ này, như người ta thường nói, bà đã đặt mình vào tình trạng hoàn toàn khó nghèo trước mặt Thiên Chúa. Bà hết mình phó thác cho Thiên Chúa. Những người giàu có cho một phần gia sản của họ; còn bà góa này, bà cho tất cả gia sản của bà và từ đó bà đặt mình dưới sự quan phòng của Chúa. Điều đó có nghĩa là bà đặt tất cả trong niềm hy vọng vào Chúa, cơm ăn cũng như cuộc sống của bà.

3. Thâm sâu hơn nữa, cử chỉ của bà nói rằng bà đi tới Thiên Chúa như tới một kẻ mà bà hết lòng yêu mến và bà tin chắc Ngài có dư khả năng lo lắng cho bà. Bà không chỉ đi thi hành bổn phận tầm thường là đóng góp vào quỹ Đền thờ. Bà không chỉ muốn thi hành một nhiệm vụ. Bà đi quá cả phạm vi bổn phận, phạm vi chu toàn Lề luật. Bà không nghĩ tới vấn đề chu toàn Lề luật, nhưng nghĩ rằng Thiên Chúa rất xứng để bà dâng cho Ngài tất cả và đồng thời chờ đợi nơi Ngài tất cả.



Noel Quession - Chú Giải

 
Mc 12,38-44

Đức Giêsu nói rằng : "Anh em phải coi chừng mấy ông Kinh Sư ".

"Kinh Sư" là những nhà chuyên môn và những người giải đáp chính thức Kinh Thánh. Sau một thời gian dài học tập vào khoảng 40 tuổi, họ được công nhận thi hành chức vụ của họ và trở nên những người cố vấn chính thức trong những quyết định tư pháp. Đức Giêsu và các tông đồ đã không được đào tạo như thế.

Ngay từ đầu, các "Kinh Sư" luôn tỏ ra chống đối Đức Giêsu. Chỉ trong Tin Mừng Máccô, chúng ta đã thấy nhiều cuộc xung đột (Mc 2,6 - 3,22 - 7,1 -11,18). Ở đây, Đức Giêsu nghiêm chỉnh cảnh giác chúng ta. Đây là lần cuối cùng Người nói trước công chúng, khoảng vài tuần lễ trước khi Người bước vào cuộc thương khó và bị kết án bởi Thượng Hội đồng mà các Kinh sư thường chủ trì xét xử.

Mát-thêu đã quy tụ lại thành một diễn từ của Đức Giêsu về đề tài này : "Khốn cho các Kinh sư" (Mt 23). Sự hiểu biết không nhất thiết mang lại cho ta Đức hạnh... và than ôi, kể cả sự hiểu biết tôn giáo cũng thế.

Họ ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ngoài đường ngoài phố. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc.

Vẫn còn những Kitô hữu bực tức vì Giáo Hội đồng thời đang cố gắng gột bỏ mọi về huy hoàng Tuy vậy, chúng ta phải nhìn nhận rằng sự cố gắng đó dù chưa hoàn tất, nhưng hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của Đức Giêsu. Giáo Hội trong mọi thời đại; có nguy cơ rơi vào cám dỗ khủng khiếp của uy thế, đặc quyền những "về bề ngoài sang trọng" những tước vị và những chỗ ngồi danh dự. Lạy Chúa, xin cho chúng con càng ngày càng làm quen với một Giáo Hội, biết gột bỏ những danh dự, chấp nhận nghèo khó. Với các linh mục, biết sống như mọi người, không dành đặc quyền đặc lợi nào cả.

Tính cách Pharisêu mà Đức Giêsu lên án, đó là việc sử dụng những "dấu hiệu bề ngoài" để làm cho người khác nể trọng mình và được hưởng những đặc quyền. Ngày nay, có một phong trào tân Pharisêu cũng giả dối như thế, cốt làm tăng giá trị của mình bằng cách làm ra về "thông thạo thời sự", "giữ đúng thời trang" bằng cách theo nhưng "quan điểm tiến bộ nhất", dù là những quan điểm rỗng tuếch.

Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ.

Điều mà Đức Giêsu quở trách kinh sư thời ấy, đó là thái độ "khoa trương", lòng "tham lam", nếp sống "giả hình" của họ. Có lẽ họ đã đòi hỏi những khoản thù lao rất cao đối với những người đến hỏi ý kiến họ, và điều này rất nghiêm trọng vì họ được coi như những người đạo đức, cầu nguyện lâu giờ. Kẻ nào muốn loan truyền những đòi hỏi của Lời Chúa, cũng phải tỏ ra rất khắt khe với chính mình. Khi các Kitô hữu, hay phẩm trật Giáo Hội phạm những bất công xã hội thì đó là điều đặc biệt nghiêm trọng. Thiên Chúa nghe thấy tiếng kêu của những người nghèo khổ bất hạnh, Người ban "công lý" cho kẻ bị áp bức, nâng đỡ góa phụ và cô nhi (Tv 1,45).

Kẻ nào muốn thuộc phe Chúa, thì nhờ cầu nguyện, phải đặc biệt trở nên liêm khiết và công bằng.

Họ sẽ bị kết án nghiêm khác hơn.

Cộng đoàn của Đức Kitô là Giáo Hội phải nghe lời cảnh cáo này : "Người ta sẽ càng khắt khe hơn với chúng ta, khi chúng ta càng được nhận lãnh nhiều. Chúng ta không thể lừa dối Thiên Chúa ! Người thấy tận đáy các sự việc và những sự giả dối của chúng ta sẽ bị lột trần trước mắt Người.

Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền thờ. Người quan sát xem dân chúng bỏ tiền vào đó ra sao.

Mác-cô là một nhà quay phim tài tình. Chúng ta hãy thưởng thức sự chính xác của thiên phóng sự này. Đức Giêsu đã chọn một điểm quan sát tốt, ngồi trên các bậc thềm, đối diện với các hòm tiền. Người nhìn xem. Đám đông những người hành hương diễn qua trước mặt Người. Chúng ta hãy ghi nhận lòng nhân ái của Đức Giêsu : Người chú ý đến những đám đông, chú ý đến không gì xảy ra chung quanh Người. Chúng ta có biết chú ý không ? Chúng ta có biết ngắm nhìn không ?

Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền.

Vào thời Đức Giêsu cũng như ngày nay các tầng lớp xã hội luôn có những mức lợi tức rất chênh lệch. Điền chủ, thương gia, luật gia, giới tư tế thường là giàu có và là sở hữu chủ tại Giêrusalem những dinh thự với tất cả tiện nghi và xa hoa : Nhiều gian phòng, hồ tắm, sân vườn, cột nhà cẩm thạch... Trong khu ở riêng của các người quyền quý một khu đẹp và sang trọng ! Còn những người nghèo thì chạy sống từng ngày và ở trong "khu vực thấp hèn" tại Giêrusalem.

Nếu lưu ý đến bản văn của Máccô, chúng ta sẽ thấy ông đã viết "một' số" người giàu... "nhiều người giàu, đã cống hiến "những số tiền lớn" như vậy, họ cũng thiết thân làm nghĩa vụ đối với Đền thánh.

Ở đây Mác-cô không chú thích gì cả, nhưng ông vẫn không thể không so sánh :

Cũng có một bà góa nghèo đến.

Bây giờ nhà quay phim cống hiến cho ta một cận cảnh :

"Người đàn bà nghèo khó bước tới gương mặt khiêm tốn giữa các khuôn mặt khác. Không có một chỗ danh dự, không danh tiếng gì. Một người không quen biết". Đó là một người đàn bà, trong thế giới mà người đàn ông thống trị, một góa phụ trương thế giới mà chỉ có người đàn ông mới có quyền được luật pháp công nhận. Một người đàn bà nghèo, không lợi tức. Đức Giêsu đong đưa mắt nhìn bà.

Bà này bỏ vào đó hai đồng tiền nhỏ.

Thật là trái ngược với "số tiền lớn" của những kẻ khác !

Tôi muốn nhìn ngắm hai đồng tiền nhỏ này, hai đồng xu đút giấu kín trong lòng bàn tay bà.

Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói : "Thầy bảo thật anh em, bà góa nghèo này đã bỏ tiền vào thủng nhiều hơn ai hết".

Cách tính tiền thật là kỳ cục ? Bà này đã cho "nhiều hơn" tất cả mọi người Đức Giêsu đã nói thế : Người làm đảo lộn mọi hệ thống xã hội của chúng ta. Người coi thường hệ thống phân loại, những giai cấp xã hội của chúng ta, với những bậc thang phân biệt rõ ràng mà người ta phải leo lên để "thăng tiến". Ở bậc thang xã hội "cao", thì giàu có được người khác trọng nể ; "mặc y phục lộng lẫy, được người ta chào hỏi công cộng, có chỗ ngồi danh dự trong những bữa tiệc", tất cả những điều này không làm Chúa Giêsu quan tâm đến. Còn chúng ta thì sao ?

Phản ứng của chúng ta trước trang Tin Mừng này như thế nào ? Hay nó vẫn làm chúng ta thản nhiên, không chút bận tâm ?

Trong một xã hội dồi dào của cải mà chúng ta đang sống chúng ta có thái độ nào đối với một số nghề nghiệp dành" cho người nghèo "? Có những người nào mà tôi khinh khi vì chủng tộc, vì môi trường xã hội, nghề nghiệp hay sự nghèo khó của họ không ?

Mọi người khác có tiền dư bạc thừa mới đem bỏ vào đó ; chứ bà này tuy thật túng thiếu, đã bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà ta có để nuôi sống mình. 

Người ta không thể đánh lừa Chúa được. Người thấy tận đáy lòng chúng ta. Bà này đã cho "nhiều hơn", vì bà đã cho "tất cả". Muốn biết giá trị của một quà tặng, ta không nên chỉ nhìn vào đồ vật đó, mà còn, phải để ý đến người ban cho. Thiên Chúa đã nhìn như thế. Người nhìn thấy những gì còn lại trong két sắt hay trong trương mục ngân hàng.

Chúng ta cần suy niệm hai từ mà Đức Giêsu đã dùng. Đó là hai ý niệm đơn giản : "Sụ túng nghèo" là tình trạng của người không có đủ yếu tố cần thiết để sống.. "Điều cần thiết" là những gì tương xứng cho đời sống bình thường. . của cải thừa" là những gì chúng ta có nhiều hơn cái cần thiết.
Chắc chắn đó không phải là những giá trị toán học cố định. Vì ta có thể thắc mắc : "Sự cần thiết sẽ dừng lại ở mức nào ?". "Sự dư thừa" bắt đầu từ đâu ? Nhưng thực tế khiến chúng ta phải nhìn nhận rằng có quá nhiều khác biệt giữa điều kiện sống của con người trong cùng một xứ sở nhất là giữa quốc gia này với quốc gia khác. Với những đồ vứt bỏ trong thùng rác ở New York, người ta cũng có thể cứu sống cho một thành phố với số dân tương đương thuộc thế giới thứ ba. Những phí phạm của chúng ta kêu lên tới Thiên Chúa, và trước mặt người nghèo. Vào thời đó, Đức Giêsu đã dám tố cáo một số người sống quá "đừ thừa" còn ngày nay Người sẽ phải nói sao đây ?

Tất cả những gì bà ta có là để nuôi sống mình.

Đức Giêsu không nhìn sự việc như chúng ta. Chính người cũng là một kẻ nghèo.

Người đã nhìn ngắm và thấy tâm hồn cho đi tất cả.

Chúa để mắt trên người nghèo. Họ đang làm vui lòng Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã ca ngợi người đàn bà góa nghèo, cống hiến hai đồng tiền nhỏ. Lạy Chúa, Chúa nghĩ gì về lòng quảng đại của con ? Tôi có "cho đi" không ? Bao nhiêu ? Như thế nào ? Ngày nay ta có thể cho rằng người đàn bà này có lý do chính đáng để giữ lại số tiền đó và để cho kẻ khác "cống hiến" thôi ! Nhưng Thánh Vinh Sơn đã nói : May thay cho những người nghèo, vì vẫn còn có những người nghèo "biết cho".

Trước khi khởi sự ,bước vào cuộc thụ khổ, Đức Giêsu cho chúng ta biết bí mật cái chết của Người sắp đến gần : Người đàn bà này là "hình tượng" của Thiên Chúa, Đấng trao ban tất cả, tất cả những gì Người có để sống ! "Thiên Chúa dù giàu có, đã trở' nên khó nghèo để làm giàu cho chúng ta". Thánh Phaolô đã dám nói như vậy (2 Cr 8,9). Tình yêu không biết tính toán. Chúa là tình yêu. Người đã không tính toán, Người đã cho đi tất cả. Nếu Giáo Hội nguyên thủy đã ghi lại đoạn này bề ngoài xem ra không quan trọng ngay trước cuộc thương khó, là vì Giáo Hội đã tự nhủ : Vâng, Đức Giêsu đã tự nhận ra chính Người, nơi người đàn bà này, vì bà đã "cho đi tất cả".


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
" Bà goá đã bỏ nhiều hơn hết "

BÀI TIN MỪNG : Mc 12, 38 - 44 

I. Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu khiển trách những thói xấu của những luật sĩ và khen ngợi lòng tốt của người đàn bà goá nghèo khổ để nói lên sự tương phản giữa sự đạo đức giả và đạo đức đích thật .

II. SUY NIỆM : 

1 / " Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy " : 

" Dân chúng " : Là những người đã được nghe giáo huấn của Chúa Giêsu khi chứng kiến cuộc tranh luận giữa Người với nhóm Biệt phái về vấn đề nộp thuế ( Mc 12, 13 - 17 ), và với bè Sađốc về vấn đề kẻ chết sống lại ( Mc 12, 18 - 27 ), cũng như việc Người trả lời cho người Luật sĩ về giới răn trọng nhất ( Mc 12, 28- 34 ) nên họ tỏ ra thiện cảm và thích thú nghe Người giảng .

Những thính giả nghe Chúa Giêsu giảng dạy gồm có các môn đệ, các Luật sĩ, các Biệt phái và dân chúng . Nhưng Mt muốn nhấn mạnh đến dân chúng để cảnh giác họ trước các thói xấu của Luật sĩ là những người có ảnh hưởng trực tiếp đối với họ .

2 / " Các ngươi hãy coi chừng bọn Luật sĩ " : 

Chúa Giêsu cảnh giác dân chúng phải coi chừng những thói xấu của nhóm Luật sĩ :

+ " Họ thích đi lại trong bộ áo thụng " :

Áo thụng là loại áo choàng dài phết đất, các giáo sĩ thường sử dụng . Chúa Giêsu có ý nói các Luật sĩ thích mang loại áo này, để tỏ ra đạo đức và để lôi kéo sự tôn kính của người khác . Đây là thói xấu thích khoe khoang .

+ " Ưa được bái chào ngoài công trường " :

Các Luật sĩ thường được người ta bái chào, nên các ông thích đi lại nơi công trường là nơi có đông người để được người ta tôn kính bái chào . Đây là thói xấu chuộng hư danh .

+ " Chiếm những chỗ nhất trong hội trường và trong các đám tiệc " .

Người Do thái có thói quen xếp chỗ ngồi theo thứ tự tuổi tác, chức phận và sự khôn ngoan tài trí . Các Luật sĩ vối tự phụ cho mình là khôn ngoan tài trí hơn người . Vì thế, đi đâu họ cũng đòi hỏi được ngồi ở chỗ cao, ghế nhất . Đây là thói xấu tham chức phận quyền cao .

+ " Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt tài sản của các bà goá " : Các bà goá thường là những người dốt nát, đơn sơ, nhẹ dạ . Vì vậy các Luật sĩ thường lợi dụng chức phận của mình để moi tiền của các bà, bằng cách chỉ vẽ luật, dạy giáo lý và hứa đọc kinh dài, điều bà các bà ưa thích . Các bà thường dâng cúng tiền của trong những việc công đức .

+ " Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn " : Những thói xấu trên đây đã đưa các Luật sĩ đến tột đỉnh sự xấu xa . Vì thế đây là lời cảnh cáo sẽ phạt nặng trong ngày cánh chung .

3 / " Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền và quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm " :

Thường nhật và nhất là trong các ngày đại lễ, người Do thái có thói quen dâng cúng tiền vào Đền thờ . Tại chỗ đặt các hòm tiền thường có các thầy Tư tế ngồi để chỉ định số tiền người ta phải dâng trong mỗi một lần xin khấn và để kiếm tiền thêm . Ai dâng cúng nhiều ít, người chung quang đều biết rõ .

Giảng xong, Chúa Giêsu ngồi nghỉ nơi đối diện với hòm tiền quan sát người ta dâng cúng tiền . Người thấy có nhiều người giàu có dâng cúng nhiều tiền .

4 / " Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu " : 

+ " Bà goá nghèo " : Ám chỉ thân phận đáng thương vì cô đơn, về tinh thần không nơi nương tựa và vì nghèo túng cả về vật chất .

+ " Hai đồng tiền là một phần tư xu " : Thứ tiền nhỏ nhất mà người ta sử dụng . Ám chỉ sự nghèo khó, thiếu thốn, cùng cực, thế mà cũng dâng cúng vào Đền thờ . Ở đây muốn nói lên sự tương phản giữa người giàu có và người nghèo khổ trong việc dâng cúng tiền vào đền thờ .

5 / " Thầy nói thật với các con " : 

Lời này có ý diễn tả rằng điều nhận xét của Chúa Giêsu sau đây là xác thực vì Người nhìn thấy không phải chỉ ở bên ngoài nhưng còn thấu suốt từ bên trong tâm hồn người ta nữa .

+ " Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn " : Dù tổng số tiền dâng cúng nhỏ nhất, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết là vì tỉ lệ giữa số tiền dâng cúng và tài sản của bà đã làm bà vượt lên trên những người đã bỏ nhiều tiền hơn và điều đó cho thấy lòng bà sốt sắng hơn họ : Vì bà đã dâng tất cả những gì bà có để sống .

+ " Vì tất cả những người kia bỏ của dư thừa " : Cái gì dư thừa thì không quan trọng, nên kém giá trị . Những người giàu có dâng cúng tuy nhiều tiền nhưng là số tiền dư thừa nên ít giá trị . Của nhiều mà lòng ít . Ở đây nói sự dâng cúng người giầu có thiếu sự hy sinh và tinh thần bên trong .

+ " Còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống " : Của ít lòng nhiều . Bà goá này tuy dâng ít tiền nhưng hy sinh rất nhiều, và hy sinh quí giá nhất là hy sinh chính mạng sống mình vì bà đã dâng " tất cả những gì mình có để nuôi sống " .

III. ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội một đàng muốn cảnh giác chúng ta phải tránh những thứ đạo đức giả theo kiểu thói xấu của các Luật sĩ, đàng khác muốn chúng ta noi gương thứ đạo đức đích thật của bà goá nghèo dâng cúng tiền vào Đền thờ .

B / Áp dụng theo Tin Mừng : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a ) Xem việc Người làm : 


+ Chúa Giêsu đã khiển trách gương xấu của bọn Luật sĩ để cảnh giác dân chúng . Điều xấu không nên nói, nhưng đôi khi vì tinh thần giáo dục, chúng ta cũng cần dựa vào những gương xấu để cảnh giác và hướng dẫn người khác biết tránh xa vết xe cũ .

+ Chúa Giêsu quan sát dân chúng dâng cúng tiền và đánh giá những người bỏ tiền vào hòm . Phải coi chừng đừng đoán xét tha nhân và hành vi của họ qua những vẻ bên ngoài ( Mc 12, 40 ) . Những kẻ quảng đại nhất cũng như những người đạo đức, chỉ mình Thiên Chúa mới thấy rõ bí mật ( Mt 6,4 ; 6, 18 ) và thấu hiểu mọi tâm hồn ( Lời Chúa 16, 15 ; Cv 1, 24 ; 15, 8 ) . Vì thực ra chính ý hướng của tâm hồn, của nội tâm mới định giá các hành vi con người thực hiện ( Mt 15, 19 ... ) chứ không phải vẻ bên ngoài của chúng . Trong số các hành vi con người thực hiện với ý ngay lành, thì việc bố thí, hành vi bác ái và từ bỏ, là một trong những điều đẹp lòng Thiên Chúa hơn hết ( Mc 9, 41 ; Mt 6, 1 - 24 ) .

b) Nghe lời Người nói : 

+ Các ngươi hãy coi chừng các Luật sĩ : Chúa cũng cảnh giác chúng ta trước những gương xấu của người chung quanh kể cả những người mô phạm giả hình nữa .

+ Thầy nói thật với các con : Chỉ có Chúa là người có quyền xét đoán và xét đoán đúng vì Người thấu suốt cả bên trong lẫn bên ngoài . Chúa muôn chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải có ý hướng ngay lành của tâm hồn, vì Chúa thấu suốt mọi tâm can .

2 / Nhìn vào dân chúng : 

Chúa lấy gương xấu của các Luật sĩ để cảnh giác và lấy gương lành của bà goá để làm cho dân chúng . Thông thường Chúa cũng dùng những gương xấu để cảnh giác ta và những gương tốt của tha nhân để nêu gương cho ta . Chúng ta phải biết nhận ra thánh ý Chúa qua những gương xấu để tránh và qua những gương tốt để thực hành trong đời sống .

3 / Nhìn vào các Luật sĩ : 

Chúa khiển trách thứ đạo đức giả về tội lợi dụng những hình thức đạo đức để khoe khoang, để mưu cầu hư danh, để ham hố chức quyền và trục lợi vật chất . Chúng ta nhìn vào thói xấu của bọn Luật sĩ để rút kinh nghiệm cho bản thân mình .

4 / Nhìn vào bà goá nghèo : 

Chúng ta noi gương :

- Bà dâng tất cả những gì mình có để nuôi sống chứng tỏ rằng bà đã đặt mình vào tình trạng hoàn toàn khó nghèo trước mặt Thiên Chúa, tức là bà đặt tất cả niềm hy vọng vì tín thác vào Thiên Chúa, cơm ăn cũng như cuộc sống của bà .

- Bà dâng cúng tiền vào Đền thờ, bà đã không nghĩ đến vấn đề chu toàn lề luật, nhưng nghĩ rằng Thiên Chúa rất xứng để bà dâng cho Người tất cả đồng thời chờ đợi nơi Người tất cả .

- Sự tương phản hành vi dâng cúng của người giàu và bà goá này nói lên sự phán xét trong ngày cánh chung sẽ đảo lộn trận tự của loài người .


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn