Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXXIII Thường Niên B

Tin Mừng Mc 13:24-32: Bài Tin Mừng hôm nay là một phần trích trong bài diễn từ của Chúa Giêsu về ngày cánh chung ( Mc 13, 1 - 37 ) . Bài này thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu loan báo về biến cố Người sẽ tái giáng trong uy quyền và vinh quang để phán xét nhân loại .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 33 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B

Mc 13: 24 - 32 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

CUỘC QUANG LÂM CỦA CON NGƯỜI (Mc 13: 24-32)


CÂU HỎI GỢI Ý

1.Xét trên hình thức, phải chăng đây là bản lược tóm một trần thuật của Chúa Giêsu ? Thử tìm văn mạch của nó?

2. Phải hiểu ra sao cái cảnh tượng được mô tả ở cc.24-25 ? Cảnh tượng muốn nói lên điều gì?

3. Hình ảnh Con người với các hình ảnh đi theo được vay mượn từ đâu ?

4. Dụ ngôn cây vả muốn trả lời cho câu hỏi nào trước đó?

5. Trong ba lời tuyên phán (cc.3ó-32), chữ "thế hệ này" chỉ ai? Tại sao Chúa Con cũng chẳng biết ngày giờ Cùng tận ?

6. Bản văn này là giáo huấn của Chúa Giê-su hay của thánh sử ?

7. Phải chăng Mc đã lầm lẫn, vì Cùng tận chưa đến như ông đã dự đoán ?

Khi chú giải chương 13 của Mát-cô, nhà chú giải công giáo J.Schmid có viết: "Cái mà người ta gọi là "Diễn từ về Quang lâm" hay "Khải huyền Nhất lãm" là một trong những đoạn khó hiểu nhất của Tân ước, và vì thế là một trong những đoạn bị tranh luận nhiều nhất của truyền thống, Nhất lãm". Các bản văn nói về sự ghê tởm hoang tàn và việc con Người đến trong mây xem ra chất chứa một nội dung khó hiểu. Điều đó không chỉ do sự kiện Ki-tô hữu thời nay cảm thấy xa lạ với thế giới các ý tưởng mà những bản văn này sử dụng, nhưng còn do chỗ khó đặt vào trong vũ trụ tâm trí của ta hình ảnh Con Người được một triều đình thiên thần bao quanh hay hình ảnh những hiện tượng vũ trụ và thiên giải đi theo cuộc quang lâm của Người.

Vì thế, các nhà chú giải chuyên môn về Tân ước do dự trong cách hiểu các bản văn ấy. Vì nhiều lý do. Trước tiên ngôn ngữ Khải huyền luôn luôn khó quán triệt. Rồi người ta đôi lúc cũng thấy là không chắc hòa hợp được Mc 13 với phần còn lại của giáo huấn Chúa Giê-su ; thro nhiều nhà chú giải (mà một số là công giáo), Chúa Giêsu đã chẳng thốt lên diễn từ này, nhưng là Mátcô đã phóng tác một bản văn Khải huyền nào đó của Do thái để đặt trên miệng của Thầy, đồng thời bổ túc bằng một vài lời của chính Chúa Giê-su. Dù sao, toàn chương mang nhiều dấu vết rõ rệt cho thấy nhiều học giả của Giáo Hội sơ khai đã lưu tâm đến đề tài. Điều này cũng lộ ra nơi cách thức Mt và Lc sử dụng các chất liệu. Các thánh sử này cũng như nhiều học giả khác, hình như đã nghĩ rằng những truyền thống của Chúa khá phong phú, còn có thể tiết lộ thêm nhiều kho tàng dấu ẩn, và đặc biệt là có thể giải quyết những vấn đề riêug của họ. Các ý tưởng này đã để lại khá nhiều dấu vết trong chi tiết của các bản văn, nên cho phép chúng ta đoán rằng truyền thống đã được thích nghi với hoàn cảnh lúc ấy.

Hình thức bản văn

Theo hình thúc hiện nay của nó, bản văn không phải là toát yếu của một trần thuật của Chúa Giêsu. Đa số các nhà thần học Thánh Kinh đồng ý như vậy, dù họ có nhiều ý kiến rất khác nhau về nguồn gốc các yếu tố của bản văn. Chúng tôi thiết nghĩ người ta có lý để công nhận rằng bản văn căn cứ trên giáo huấn về cánh chung của chính Chúa Giêsu, một giáo huấn muốn cảnh giác các môn đồ về những nguy hiểm sẽ xảy đến trong những ngày sau hết (Xin xem tiểu luận của chúng tôi: Prophecy interproted (The formation of so me Jewish Apocalyptic Lexts and of the Eschatologica Discourse Mark 13. par. Conjectanea Biblica, NT series 1, Lund 1966): Tuy nhiên, dù "nền tảng" của bản văn phải được tìm trong một huấn lệnh của Chúa Giê-su, thì Mc 13, dưới hình thức hiện thời, vẫn phản ảnh hoàn cảnh của Giáo Hội sơ khai, với những vấn đề mà Giáo Hội đã đặt ra cho truyền thống của Chúa Giê-su vàđã giải quyết bằng cách giải thích và tái giải thích truyền thống này.

Như bao học giả Do thái khác đương thời. Chúa Giê-su xem ra đi từ Cựu ước để triển khai giáo huấn của Người cùng tận. Thật thế, các đoạn của Đanien về cánh chung chiếm một chỗ đứng trung tâm trong chương 13 của chúng ta. Chúng ta cũng thấy trong chương này nhiều âm hưởng của nhiều bản văn Cựu ước khác mà nội dung cũng là về cánh chung.

Người ta đã chứng minh rằng vào thời đó, khi trích dẫn các câu Cựu ước, người ta đã hiểu ngầm luôn toàn thể văn mạch của chúng, và nhờ liên tưởng, người ta đi từ một bản văn sang một bản văn khác có cùng một nội dung. Các văn mạch và các đoạn được liên kết này, cùng với những lời giải thích về chúng, đã làm giàu ý nghĩa cho các bản văn được đặt trong tương quan với Cựu ước như thế. Thành thử khi tìm cách quán triệt ý nghĩa này, chúng ta phải cố tái dựng lại các dây liên kết nói trên.

Văn mạch.

Bài Tin Mừng hôm nay là thành phần của Diễn từ cánh chung. Diễn từ này bắt đầu từ c.5, nhưng được liên kết trực tiếp với một lời tuyên phán về sự phá hủy Đền thờ. Trong cách kết cấu của thánh sử, diễn từ làm lành lời Chúa Giê-su giải đáp cho vấn nạn ở c.4 : "Xin nói cho chúng tôi biết boa giờ điều ấy (sự phá hủy) sẽ xảy ra và sự gì sẽ là điềm báo mọi điều ấy sắp hoàn tất". Mối liên lạc giữa câu hỏi này với Diễn từ đã được một tác giả xưa chú giải như sau: "Họ hỏi một điều và người đáp lại một điều khác".

Các câu 5-13 bàn đến các nguy hiểm khác nhau: kẻ rao giảng có khả năng mê hoặc, chiến tranh và thảm họa trong toàn thế giới, ngược đãi và phân ly trong gia đình. Chúng kết thúc bằng một lời khích lệ: "Ai kiên nhẫn tới cùng (hoặc: cho đến tận cùng) kẻ ấy sẽ được cứu".

Các câu 14-23 mô tả một thử thách tột đỉnh của các kẻ tin. Câu 19 nói lên ý nghĩa cuộc thử thách này: những ngày ấy sẽ là một sự khốn quẫn như chưa từng thấy xảy ra và sẽ không hề xảy ra nữa. Đây là nỗi khổ mà Đanien 12,1 đã tiên báo sẽ xảy ra trong thời gian đi trước cùng tận. Nỗi khốn quẫn này sẽ tỏ hiện không chợt qua sự "ghê tởm hoang tàn" mà người ta phải chạy trốn cho mau, nhưng còn qua sự xuất hiện của nhiều Kitô giả và ngôn sứ giả . Các quyền lực của Satan sẽ tấn công tín hữu một cách hung tợn đến nỗi Thiên Chúa phải can thiệp kẻo tất cả gục ngã trong cuộc thử thách này.

Trên cái nền u tối đó, nổi bật lên đoạn văn của chúng ta, đoạn văn diễn tả cuộc chiến thắng cuối cùng và trở lại câu hỏi đã đặt ở c.4: khi nào điều đó sẽ xảy ra?". Cách đáp câu hỏi này tự nhiên khiến thánh sử kết thúc đoạn văn bằng những lời khích lệ được lặp lại: "Coi chừng, hãy tỉnh thức" (cc.33-36). Một chủ đề đã có mặt trong tất cả phần nhất của những từ (cc 5 .6.9.21 .23).

I.CUỘC QUANG LÂM (13,24-27)

Tiếp theo sau những biến động khủng khiếp của các câu trước, bài Tin Mừng chúng ta mô tả biến cố vượt lên trên tất cả chương. Bức tranh này vay mượn màu sắc của Cựu ước mà nó cắt nghĩa theo một cách thức rất là Kitô giáo. Thật vậy, chính từ Đanien mà người ta rút ra câu trích dẫn trung tâm của đoạn văn. Thế mà lời tiên tri của ông về các nỗi ưu phiền trực tiếp nhảy qua vấn đề tôn vinh các tín hữu, ở 12,1-2 cũng như ở 7,8tt, nơi "Con người" được đồng hóa với "các thánh của Đấng tối cao đang chiếm hữu vương quốc" (7,8.22.27). Ngược lại, đối với Mc, Con người không ai khác hơn là chính Chúa Giêsu sẽ đến. Hơn nữa, ông diễn tả việc mặc khải Chúa Kitô con Người, với nhiều nét mà trong Cựu ước vẫn thường đặc trưng mặc khải thần linh về "Ngày của Giavê". Đây là một bằng chứng mới cho thấy có lối giải thích Kitô giáo.

1. Cảnh tượng (cc.24-25)

Thành thử trong các câu này, người ta khai mở một diễn ảnh phổ quát, bằng cách dùng những hình ảnh của các bản văn Cựu ước nói về Ngày Giavê (Is 13,10; 3-4 ; Ge 2, 10; 15). Trước uy nghiêm của Chúa Giêsu, cũng chính là uy nghiêm của Gia-vê, vũ trụ rung chuyển, cuộc sáng tạo xưa (x. St 2,1) và các thời đại cũ bị tiêu diệt, Vương quốc của Thiên Chúa tỏ hiện trong tất cả vẻ vinh quang. Chắc chắn trình bày "tinh tú từ trời sa xuống" giả thiết quan niệm cổ điển về vũ trụ ; trong ngôn ngữ thánh kinh, "các quyền năng tầng trời" xem ra chỉ những thiên thể (x. St 1 ,17tt).

Có lẽ như một số nhà chú giải đã nghĩ chúng ta cũng phải nhớ tới sự kiện là trong các cuộc Khải huyền theo Do thái và Kitô giáo, khởi nguyên tương ứng với tận cùng. Thành thử toàn văn này đua chúng ta về lại bóng tối và cảnh hỗn mang đã từng thống trị trước khi sáng tạo, cảnh hỗn mang mà lần này sẽ đi trước cuộc sáng tạo mới (x. Kh 21,1).

Ngoài ra, cảnh tượng cũng được đặt trong tương quan nơi sự khốn quẫn tột cùng của các tín hữu, sự khốn quẫn đã được diễn từ nói đến trong phần trước. Về vấn đề này, xem ra đọạn văn vừa nói "đúng" vừa nói "không". "Đúng" cho câu nói "Thời gian khốn quẫn đó phải chăng có nghĩa là Cùng tận gần kề?". Nhưng những ai cứ hỏi: ngày mà chúng tôi chịu cảnh khốn quẫn đó, chúng tôi có thể ngóng đợi Tận cùng lập tức không?" thì sẽ được trả lời là "Không, còn lâu nữa". Có lẽ tiếng "đúng" và tiếng "không này ngỏ cho Giáo Hội sơ khai vốn đã cảm thấy sự khốn quẫn và đã tự hỏi bao giờ Chúa lại đến. Cũng có thể là Mc đã phối hợp nỗi khốn quẫn này với các biến cố liên hệ đến việc phá hủy Giêrusalem năm 70. Các nhận xét này gây nên nhiều vấn đề quan trọng. Phải nghĩ thế nào về tương quan giữa giáo huấn của Thầy và cách thức Giáo Hội sơ khởi giải thích giáo huấn dù bản văn đây còn có giá trị đối với chúng ta không? Chúng ta sẽ trở lại với những vấn nạn này khi bàn đến các câu 30-31

2. Con Người (c.26)

Trên bối cảnh một vũ trụ rung chuyển như thế, nổi lên khuôn mặt Con Người, được mô tả với những hạn từ Đn 7.13tt. Những đám "mây" không chỉ một phương tiện di chuyển cho bằng chỉ sự hiện diện thần linh giữa loài người, như Kinh Thánh vẫn thường biểu thị (ví dụ Xh 13,21 ; 19,9; 2Sk 5, 13; 17,5): Khi Chúa Giê-su tỏ hiện sức mạnh và vinh quang của Người thì tất cả thế gian sẽ trông thây. Việc Người đến một cách hiển nhiên tương phản với nhúng tiếng đồn sai lạc được nói ở 13,22 (x. Mt 24,27tt).

Hình ảnh Con Người , với các hình ảnh đi theo vay mượn từ Đn và nhiều đoạn khác của Cựu ước, xem ra gói ghém hai dữ kiện nền tảng đối với Kitô học. Trước tiên, khi những đường nét của các trình thuật trước về Ngày Giavê được áp dụng để mô tả việc Con Người đến, thì điều đó những muốn nói rằng Thiên Chúa chẳng còn hiện diện trong bức tranh về Cùng tận, nhưng đúng hơn có nghĩa là việc Chúa Kitô đến nói lên chính sự can thiệp của Thiên Chúa trong Ngày Giavê. Chính Vương Quốc Thiên Chúa xuất hiện, quyền lực Thiên Chúa tỏ ra và công cuộc cứu rỗi của Thiên Chúa được thực hiện bởi Con Người. Thiên Chúa tậht bởi Thiên Chúa thật.

Mặt khác trong Đn 7, Con Người tượng trưng cho dân thánh. Trái lại, theo Chúa Giêsu giải thích, thì Con người đúng là một cá nhân (chính Chúa Giêsu). Nhưng Người thí mạng sống làm giá chuộc nhiều kẻ (Mt 10,45) và tự đồng hóa với những kẻ bé mọn nhất trong anh em Người (Mt 25,40.45). Thành ra quan niệm này về Con Người phù hợp với các kiểu diễn tả của Gio-an "hãy ở lại trong Ta như Ta trong các ngươi" (Ga 15,4) và "Con trong chúng" (Ga 17,23) cũng như với thành ngữ của Phaolô "trong Chúa Ki-tô" . Vị Thiên Chúa mà không gì dưới trần gian có thể chống lại được, sẽ chẳng phải là một Thiên Chúa trừu tượng, một Thiên Chúa tự tại, nhưng là Đấng hưởng về chúng ta như Ngài đã tự mặc khải trong Con người, Chúa Giêsu Nadarét" (E.Schweiser "Trong Người", cây cầu đã được bắc qua vực thẳm phân cách nhân loại với Thiên Chúa. Người xuất hiện như là nhân vật chính của cảnh này.

3. Thâu họp những kẻ được chọn (c.27)

Theo ý kiến chúng tôi, chính để tôn trọng chiều hướng và mục đích của diễn từ cánh chung mà Mátcô ở đây không nói đến việc hủy diệt sự ác và cuộc phán xét thế gian, mặc dầu những đoạn Cựu ước được dùng trong cc.24-25 để mô tả cảnh Quang lâm đều nói đến cuộc phán xét của Thiên Chúa. Giọng điệu đầy khuyến khích và an ủi đặc trưng giáo huấn này cũng cho thấy việc thâu họp những kẻ được chọn như là chính mục đích của cuộc Quang lâm.

Trong Cựu ước, chính Thiên Chúa thâu họp họ (Đnl 30,3t; Dcr 2,10; Is 27,12; 43,5tt) và điều khiển các thiên thần Tv 18, 11 ; 104,4; đến 7, 10). Nhưng trong khi theo sự mong chờ của người Do thái, Thiên Chúa sẽ thu họp tại thánh địa mọi người Do thái tha hương, thì ở đây chính các Ki-tô hữu phần tử của Israel mới, thấy mình được thu họp từ muôn nơi để đi vào sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Và chính Chúa của họ là Con Người, hoàn thành điều đã hứa với họ: "Ta sẽ đến lại mà đem các ngươi theo Ta, để Ta ở đâu, các ngươi cũng ở đó (Ga 14,3).

4. Một ngôn ngữ bóng bẩy

Chúng ta đã bảo rằng khi đọc một bản văn như đây, Kitô hữu ngày nay cảm thấy rất lúng lúng. Các tinh tú sẽ rơi rụng thế nào? Con người có thực sự đến với chúng ta trên mây chăng? Phải chăng người sẽ quy tụ các tín hữu từ khắp nơi và từ mọi thời đại?

Tưởng nên nhắc lại rằng vào thời Tân ước, các chủ đề và bản văn Cựu ước, thuộc loại mà đoạn văn của chúng ta trích dẫn, không được giải thích theo bản nghĩa cho bằng theo nghĩa "thần học" và thiêng liêng của chúng. Vì vậy rất có thể là Mátcô và các độc giả đầu tiên của ông đã không hiểu các chi tiết này theo mặt chữ. Thành ra vấn đề thực sự là chọc thủng ý nghĩa biểu tượng của những hình ảnh đó. nhưng chúng ta đừng hy vọng phá ra những ý nghĩa hoàn toàn dứt khoát và rõ ràng; trái lại ta thì có, vì đây là một lãnh vực thuộc trực giác hơn là thuộc ý niệm.

Với tính cách chỉ dẫn, chúng ta đã cố gắng diễn tả trên kia những biến động của vũ trụ trong ngôn ngữ của việc mặc khải Vương Quốc Thiên Chúa và tân sáng tạo: Quang lâm là biểu lộ quyền lực và vinh quang thần linh của Chúa Kitô cho loài người và là sự tháp nhập trong Người" nhũng ai được cứu ; việc thâu họp các kẻ được chọn là sự hiệp thông tràn đầy là vĩnh cứu với Thiên Chúa "trong Chúa Ki-tô".

II.KHI NÀO ? (13,28-32)

Trong câu hỏi của bốn môn đồ dẫn nhập cho diễn từ này: "Xin nói cho chúng tôi biết bao giờ điều ấy sẽ xảy ra và sẽ là điềm báo tất cả các điều ấy sắp hoàn tất". (c.4), tiếng "tất cả các điều ấy" trước tiên chỉ ngày tàn của Đền thờ là Chúa Giêsu đã loan báo (c.2), nhưng cũng quy về Thế mạt là cuộc Quang lâm, như chính nội dung của diễn từ và âm vang của Đn 12,65 trong câu hỏi biểu lộ. Trong kết cấu của Mátcô rõ ràng là cc.28-32 tương ứng với câu hỏi đầu tiên ấy. Nhưng chúng ta chỉ nên chú ý đến cách chọn lựa các từ ngữ, đặc biệt nơi c.30 ("cho đến khi mọi điều ấy xảy tới").
Chúng ta sẽ khảo sát một cách riêng rẽ dụ ngôn cây vả (cc 28-29) và ba lời tuyên phán tiếp theo sau (cc.30.31.32). Tuy nhiên, hãy lưu ý kỹ sự liên kết trong toàn bộ nhỏ bé này. Câu 30 được nối kết với c.29 bằng thành ngữ "điều ấy xảy đến" là tiếng được dùng trong cả hai câu. Cũng vậy, c.31 lấy lại hai lần động từ "qua đi" của c.30. Cái kiểu lặp lại những hạn từ như thế cho thấy nội dung của các câu đó không phải là không tưởng quan với nhau. Thành thử không nên gán nhiều ý nghĩa quá khác nhau cho tiếng "tất cả điều đó" của c.30 là "điều đó, của c.29 (x. câu 4).

1. Dụ ngôn cây vả (cc.28-29)

Việc lựa chọn hình ảnh dùng trong dụ ngôn nhỏ bé này không phải là chuyện ngẫu nhiên. Ngay từ Cựu ước, các hình ảnh mùa hè và mùa gặt đã được liên kết với lời loan báo sự tận cùng, sự giải thoát chung cục và sự phán xét (vd Ge 4,17; Am 8,1; Is 28,4; Gr 8,20). Cái xảy đến nơi cây vả từ mùa xuân được so sánh vai những dấu chỉ liệt kê trong phần dầu của diễn từ. Khi các tín hữu thấy xuất hiện những ngôn sứ giả, nạn đói sự ghê tởm hoang tàn v.v... thì họ phải biết rằng Tận cùng gần bên.

Câu 29 không nói là biến cố nhưng là Con người đang ở bên. Thật vậy, bản văn phải được dịch sát chữ như thế này "Hãy biết rằng Người đã kề bên cửa". Hình ảnh Chúa đứng bên cửa như thế cũng gặp lại trong Ge 5,9 và Kh 3,20, chỗ bàn về cuộc Quang lâm.

Như đã nói, có thể tin rằng bản văn chúng ta đã được chính thánh sử biên soạn. Thành thử chính ông giải thích ở ở đây truyền thống ông đã nhận lãnh, chính ông liên kết định mệnh của Giêrusalem (cc. 1 .2. 14tt) với Tận cùng, chính ông đặt trên miệng các sứ đồ câu hỏi "khi nào" và trên miệng Chúa Giêsu lời giải đáp. Nhưng để làm thế, ông đã sử dụng các chất liệu do truyền thống cung cấp cho. Ông đã muốn nói với các Kitô hữu thời ông rằng: hãy phòng bị, vì ngay từ bây giờ chúng ta đã cảm nhận được các dấu chỉ cho thấy Chúa đang kề bên". Do đấy, chúng ta đương nhiên phải tự hỏi mình một lần nữa: Vậy đâu là tương quan giữa Thầy và thánh sử ? Chúa Giêsu đã muốn nói gì ? Chúng ta sẽ trở lại những vấn đề này xa hơn.

2. Ba lời tuyên phán về vấn đề "Khi nào" (cc.30-32)

a. Lời tuyên phán về "thế hệ này" (c.30). Câu này đã gây nên nhiều cuộc tranh luận gây cấn và phức tạp giữa các nhà chú giải. Người ta đã bàn cãi về nguồn gốc của nó: Nó phát xuất từ thánh sử, từ cộng đoàn sơ khai hay từ Chúa Giêsu? Nếu là từ Chúa Giêsu thì đâu là bối cảnh nguyên thủy của nó ? Theo ý kiến chúng tôi, chính thánh sử đã soạn thảo câu này trong hoàn cảnh ông đang trước tác, nhưng bằng cách dùng nhiều truyền thống mà nguồn gốc lên đến Chúa Giêsu (x Mc 9, 1 ; Mt 23,36).

Tuy nhiên, người ta đã đặc biệt tranh luận về nội dung của câu nói. Tiếng "tất cả điều ấy" có nghĩa là gì ? và chữ "thế hệ này" phải giải thích ra sao ? chúng tôi thâý hình như phải chấp nhận rằng tiếng "'tất cả điều ấy": chỉ sự kiện Đền thờ bị phá hủy và những tai họa sẽ đi trước đó, cũng như chỉ cùng tận, nếu người ta lưu ý đến câu dẫn nhập của diễn từ (cc.2-4) và chính diễn từ. Thánh sử công bố: trong "thế hệ này", tất cả điều ấy sẽ xảy ra.

Một vài nhà chú giải đã bênh vực ý kiến cho rằng từ ngữ "thế hệ này" chỉ mang một ý nghĩa thuần túy định hình ("thế hệ xấu xa và bất trung": Mt 12,38.45; 17,17; Mc 8,38; Lc 9,41 ; Cv.2,40; Pl 2, 15). Nhưng nếu "thế hệ này" hàm chứa một nghĩa xấu xét như vì gồm những người Do thái không tin vào Chúa Kitô hay vào sứ điệp của Người, thì xem ra ở đây cần phải cho nó một ý nghĩa thời gian hơn: chính là thế hệ đương thời với thánh sử.

Khi đọc chương Mc đây, các Kitô hữu của Giáo Hội sơ khai có thể cảm thấy mình đương thời với "thế hệ này" và như thế cảm thấy được kiên vững trong sự chờ mong Chúa đến. Nhưng cùng lúc, bản văn dừng lại ở hạn từ khá mơ hồ "thế hệ", một ý niệm được liên kết với Do thái giáo mà người ta nghĩ là bị phán xét trong việc Đền thờ bị phá hủy. Như thế, câu 30 vừa cổ vũ nỗi mong chờ cánh chung, nhưng đồng thời cũng kềm giữ nỗi mong chờ đó, vì ngăn cấm mọi toan tính xác định rõ rệt ngày giờ Cùng tận. Chúng ta sẽ gặp lại cùng nhị tính này nơi câu 32.

b. Sự chắc chắn của những lời Chúa Giêsu (c.31). Để nhấn mạnh tầm quan trọng của toàn thể bản văn, thánh sử chèn vào đây một lời tuyên phán lấy lại từ truyền thống, theo đó Chúa Giêsu mặc cho những lời nói của Ngài cùng một uy tín như uy tín mà Cựu ước đã mặc cho các lời của Giavê (Is 40,8; 51,6; Gr 33,25t; x. Kh 22,6; Mt 5,18).

Thiên Chúa đã dùng lời Ngài để tạo dựng trời đất, nghĩa là toàn thể vũ trụ (St 1; Tv 33,6; Ga 1,3...) và nhờ chính lời đó mà mang và nâng đỡ vũ trụ. Đối với các tác giả Thánh Kinh, trong thế gian này không có gì vững chắc hơn các nền móng của trái đất (Tv 93,1; 104,5). Nếu có một vài kẻ trong số họ tiên báo sự rung chuyển và tan biến của chúng (Tv 102,27; Is 24, l8tt), thì họ cũng xác quyết rằng lời Thiên Chúa luôn vững bền qua tất cả. Cũng vậy, bản văn chúng ta loan báo sự tan biến của vũ trụ (cc.24-25) nhưng các lời của Chúa tỏ ra càng vững bền hơn (c.31); vì chúng đặt nền tảng trên uy quyền không hề lay chuyển của Thiên Chúa.

Qua sự xếp đặt bản văn của ông, thánh sử nhấn mạnh rằng sự chắc chắn ấy gắn chặt với giáo huấn của Chúa Giêsu về Cùng tận, với lời Người tuyên bố Cùng tận này gần bên (c 30) và với lời tuyên phán của c.32, lời bảo rằng chính Chúa Con cũng không biết ngày giờ chính xác của Cùng tận.

c. "Chẳng ai biết được... trừ phi là Cha" (c.32). Trong kết cấu của Mátcô, câu này đóng một vai trò rõ rệt. Vì một trong những vấn đề mà diễn từ chúng ta khơi lên là câu hỏi "khi nào". Khi nào Cùng tận sẽ đến? Khi nào sự giải thoát sẽ hiện ra? Bao giờ Chúa sẽ trở lại Những ai muốn tìm biết chính xác hơn giờ giấc của những chuyện này thì sẽ không được thỏa mãn, vì ở đây từ chối mọi xác định về vấn đề đó. Mách bảo với họ: chính Chúa Giê-su cũng không biết cả ngày lẫn giờ, thế mà anh em lại muốn tính toán trước sao.

Cần lưu ý một vài chi tiết trong câu này. các thành ngữ "giờ" và "ngày ấy" song song với nhau, nghĩa là ước chừng có cùng một ý nghĩa (x. Mt 24, 50 ; 25, 13). "Ngày ấy" là tiếng chuyển vị của hạn từ "Ngày Giavê" (vd Dcr 14,6; Is 2,1 1-17), mà nay trở nên "Ngày của Con Người" (x . 2Tx 1 , 10). Giờ giấc của Ngày này, các thiên thần cũng không biết. Chắc hẳn người ta vẫn công nhận rằng các vị này làm nên hội đồng của Đấng Tối Cao, và như danh nghĩa đó mà được hưởng một nhận thức đặc biệt về các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng Do thái giáo và các tác giả Kitô giáo đương thời nghĩ rằng dẫu sao Thiên Chúa cũng dành riêng cho Ngài một vài bí mật quan trọng (x. Ep 3,10; 1Pr 1,12). Theo bản văn chúng la, ngày giờ của Cùng tận thuộc về loại bí ẩn đó.

Tuy nhiên câu 32 này đã tỏ ra là một crux intèrpretum thật sự, vì nó bảo Con của Thiên Chúa cũng không hay biết ngày giờ Cùng tận : ngày giờ này vẫn là bí mật của Chúa Cha. Mâu thuẫn xem ra hiển nhiên giữa bản văn chúng ta với Mt 11,27 trong đó Chúa Giêsu xác quyết rằng: "Mọi sự đều đã được Cha Ta trao phó cho Ta... không ai biết được Cha trừ phi có Con". Vậy thì Cha đã không trao phó cho Người tất cả sao ? người ta thường giải quyết khó khăn Kitô học này cách như sau: Mt 11 nói đến sứ mệnh mặc khải của Chúa Giêsu nhằm cứu độ thế gian : trong mục đích này, Người đã nhận nơi Thiên Chúa trọn vẹn uy quyền và toàn thể mặc khải cần thiết. "Nhưng Người đã có thể vô tri một vài điểm trong chương trình hậu lai của Thiên Chúa, như Người quả quyết ở đây một cách rõ rệt" (P. Benoi). Sự vô tận này phải dược hiểu trong bối cảnh Nhập thể, mầu nhiệm mà vì đó Chúa Giêsu đã khước từ nhiều đặc quyền thần linh của Người (x. 2Cr 8, 9 ; Pl 2, 6tt) hầu chia sẻ phận con người một cách sâu xa hơn.

3. Giáo huấn của Chúa Giêsu hay của thánh sử ?

Chúng ta đã hơn một lần phân biệt truyền thống của Chúa Giêsu và bản soạn thảo mới của thánh sử. Tựu trung chúng ta nên tự hỏi: đâu là tương quan giữa giáo huấn Chúa Giêsu và lời giải thích của thánh sử phải chăng thánh sử đã bóp méo sứ điệp của Chúa Giêsu?

Trước tiên hãy lưu ý rằng các nhà chú giải thường gặp rất nhiều khó khăn khi muốn xác quyết chắc chắn về lịch sử tính của những lời Chúa Giêsu nói: các chất liệu, trong hình thức thấu đến chúng ta, không cho phép đưa ra nhiều các quyết vững chãi.

Như đã nói, theo thiển ý chúng tôi, diễn từ cánh chung đặt nền tảng trên một giáo huấn của Chúa Giêsu mà các học giả của Giáo Hội sơ khai và Mátcô đã giải thích, sửa chữa cùng thích ứng với các nhu cầu của Giáo Hội (Nhưng nhiều nhà chú giải, trong đó có cả công giáo, nghĩ rằng phần lớn diễn từ không hề phát xuất từ Chúa Giêsu). Nền tảng này của diễn từ, bắt nguồn từ Chúa Giêsu, gồm có nhiều lời tiên tri về các mối ưu phiền và bách hại, về chuyện phạm thánh cũng như về Quang lâm. Giáo huấn này mỗi lần cũng bao gồm nhiều lời cảnh giác và khuyến khích nhằm chuẩn bị tín hữu đối đầu với những nguy hiểm sẽ đe dọa họ trong trận chiến cuối cùng và để củng cố họ cho cái lúc nhà các mãnh lực Satan tấn công Vương Quốc Thiên Chúa một cách dữ đội hơn bao giờ hết.

Thành ra cái "nền tảng" này đã được các học giả của Giáo Hội, và nhất là Mátcô sửa đổi (chúng tôi nghĩ rằng Phao- lô cũng đã dùng các truyền thống này trong 1Tx 4,13-5,4 và 2Tx 2,1-17). Chúng ta có thể quan niệm các lối tái giải thích và thích ứng truyền thống này như sau. Trong Giáo Hội sơ khai, người ta đã tin rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng Mặc khải thần linh và chung quyết, đến nỗi giáo huấn của Người
và nhtĩng truyền thống của Người đầy sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Chính vì vậy mà một số người, được ban Thần khí khôn ngoan, cũng có thể tìm ra trong đó nhiều ý nghĩa mới áp dụng được cho nhiều vấn đề hiệu tại.

Chúng tôi thấy một lối giải thích như thế đã hướng dẫn bản văn chúng ta đến chỗ phối hợp hai yếu tố: sự hủy diệt của Đền thờ Giêrusalem và cánh chung. Chắc chắn Chúa Giêsu đã tiên báo sự hủy diệt này, và đã giải thích nó như là một sự phán xét của Thiên Chúa. Nhưng dường như việc phối hợp minh nhiên với cánh chung là công trình của thánh sử (hay có thể là của một truyền thống từ trước). Ông đã muốn áp dụng giáo huấn của Chúa Giêsu cho những người đương thời để khuyến cáo và chuẩn bị họ theo cách của Chúa Giêsu. Ông đã thấy hai mối nguy hiểm. Thật vậy, một đàng ông xem ra ngỏ lời với những hạng người, vì nản lòng mong đợi, không còn sống trong viễn cảnh cánh chung nữa và có lẽ quá chìu theo thế gian. Đàng khác, ông chống đối những kẻ xem ra tưởng rằng Cùng tận-đã đến. Đối với hạng thứ nhất, ông bảo: "Hãy tỉnh thức, hãy coi chừng! Vì các biến cố và các thái độ đương thời cho thấy là các biến chuyển cánh chung đang xảy tới". Nhưng ông cũng bảo hạng người thứ hai: "Chưa đến Cùng tận đâu Chính Chúa Con cũng không biết ngày giờ của nó".

Thành thử ta dám bảo rằng bài Tin Mừng của chúng ta minh họa rất đúng cách thức mà Mc đã dùng để giải thích giáo huấn của Chúa Giêsu "theo hoàn cảnh của các Giáo Hội''

(Vat. II, Verbum Dei, số 19).

4. phải chăng Mc đã lầm lẫn

Trên đây chúng ta đã giả thiết là thánh sử đã đưa về cùng tận nhiều thái độ và nhiều biến cố đương thời. Thế mà Giêrusalem đã bị chiếm năm 70 và trong thực tế, cùng tận vẫn chưa xảy đến? Vậy phải chăng nên bản rằng Mc đã thực sự lầm lẫn? hình như là thế, vì qua lời giải thích và lối trình bày của ông, ông đã xác quyết là Cùng tận của thế gian đã gần kề rồi.

Tuy nhiên sự việc không đơn giản như mới thoạt nhìn đâu. chúng ta đã nhận xét rằng chương này dùng một ngôn ngữ bóng bẩy mà ý nghĩa thường ít chính xác. Vì thế Mc 13. Cũng như nhiều bản văn Khải huyền khác củal thời Tân ước có thể mặc nhiều ý nghĩa.

Ngôn ngữ biểu tượng này lưu ý đến tính chất của một thời đại hơn là sự kéo đài của thời đại đó. Mátcô đã muốn đặc trưng thời ông sống như là thời cánh chung: Đền thờ Giêrusalem bị phá hủy là một dấu chỉ, các cuộc bách hại là một dấu chỉ khác của thời này. Vào thời đó, ông nghĩ là nên khuyến khích các cá nhân: "Anh em đang sống ở biên giới của vĩnh cửu. Đừng quên điều này, mặc dầu đang bị áp bức hay bị cám dỗ đồng hóa với thế gian. Hãy biết rằng anh em chẳng có an ninh ở trần thế và cũng chẳng chắc chắn được về ngày giờ mà anh em sẽ đối chất dứt khoát với vĩuh cửu". Những lời khuyến khích này, vốn ngỏ cho Ki-tô hữu xưa, vẫn luôn thích thời trong Giáo Hội.

Nhưng sứ điệp của bài Tin Mừng chúng ta không chỉ liên hệ tới cánh chung cá nhân đâu; nó cũng nhắm đến các đặc tính chung của lịch sử nhân loại. Có thể nói lịch sử này luôn mở ra vĩnh cửu, mở ra Thiên Chúa, Chúa của lịch sử. Thiên Chúa hằng lưu tâm đến nó. Tuy nhiên, lịch sử không phải là vĩnh cửu, và so sánh với cùng đích của nó, nó chỉ mang một tầm quan trọng tương đối thôi. Ngày mà nó đạt tới chung cuộc, đích điểm của nó, lịch sử này sẽ gặp gỡ cách dứt khoát con người, Đấng hiện đã sống trong nó.
Lars Hartman, Assemblées du Seigneur 64, tr.47~57.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Kitô đã không bóp méo những vấn đề đích thực. Người biết rằng các nỗi bận tâm nhân loại về định mệnh riêng của chúng ta cũng như định mệnh của thế giới, trước hết và trên hết nhắm vào chuyện (khi nào?" và "ra sao?". Người không khinh bỉ các câu hỏi này, nhưng kêu mời chúng ta hãy chú tâm vào điển cốt yếu. Khi đề cập đến cái chết cá nhân, Người sẽ nói ở chỗ khác: "đối với kẻ sẵn sàng, thì đó luôn luôn là giây phút thuận tiện". Cái chết, xét như biến cố. Được kẻ này người nọ sống cách khác nhau, những "người tôi tớ tốt lành, trung thực và khôn ngoan không sợ sự trở về của Chủ…"

2. Khi nói về tận cùng của thế giới vũ trụ, Chúa Ki-tô đề cập đến vấn đề trong tất cả chiều sâu của nó? đâu là ý nghĩa của tất cả những cái chúng ta làm? Những cái này dẫn chúng ta tới đâu ? Đâu là mục đích, cứu cánh của thế giới "Cùng đích" của thế giới là việc quy tụ tất cả nhân loại làm một. Trong mức độ có tình yêu giữa mọi người, thì nỗi sợ hãi bị xua đuổi, và đó luôn luôn là giây phút tận thế !

3. Chúng ta đang ở trong cái "đã" và "chưa". Chúa Ki-tô đã đến quy tụ mọi người. Giáo Hội là dấu chỉ của sự tập hợp đó Vương Quốc đang xây dựng. Người sẽ trở lại để đưa công cuộc đã khởi sự đến chỗ hoàn tất. Người đã ban cho chúng ta sự sống và, như sự sống lại của Người, ban cho chúng ta, trong hy vọng, một sự sống triển nở hoàn toàn mà trong đó mọi giới hạn sau cùng sẽ bị hủy bỏ.

4. người đã quy tụ nhân loại. Người để cho chúng ta thoáng thấy cuộc tập họp vĩ đại mà trong đó sự duy nhất, rất khó xây dựng, sau cùng sẽ được thực hiện hoàn toàn. Khi chúng ta yêu trong sự thật, thì vương Quốc đã phần nào có đó "Nó" đang ở gần ý nghĩa sau cùng của cuộc đời tôi, ý nghĩa cuối cùng của vũ trụ, nằm trong niềm tin vào Chúa Kitô Người nói chỗ khác: "Ta là sự thật và là sự sống, ai tin vào Ta sẽ Sống". Ở đây người nhấn mạnh: "Tất cả sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ chẳng qua đi".

5. Chúng ta có chấp nhận tin tưởng vào Người không Chúng ta có chấp nhận theo Người cho đến cùng, nghĩa là đến chỗ tự hiến hoàn toàn và cách quảng đại không ? Đoạn Tin Mừng này, ngỏ cho các môn đồ, không xa đoạn nói về việc bắt giết Chúa Giêsu mấy. Nó có mục đích khơi lại đức tin các ông nhưng cũng là để chất vấn các ông.

6. Và nó cũng chất vấn chúng ta hôm nay nữa. Nhìn các dấu chỉ thời đại, không phải là nhận ra trong vũ trụ, trong lịch sử loài người các lời kêu gọi hướng về vĩnh cửu ư. Người ta có thể nhìn các tai họa và đọc chúng như là những lời tiên báo một thế giới có thể bị hủy diệt. Nhưng đó chẳng phải là một tôn giáo của sợ hãi ư ? Tại sao không nhìn chúng như là cái chết cần thiết để đưa vào một sự sống viên mãn ?


Noel Quession - Chú Giải

 

Mc 13,24-32


Chúng ta sắp kết thúc năm Phụng vụ. Từng Chúa nhật một ta đã đi theo Đức Giêsu, dựa theo Tin Mừng Thánh Máccô. Chúa đã nói qua dụ ngôn, đã chữa lành nhiều người bệnh, giải thoát những người bị quy ám, trả lời những kinh sư, huấn luyện các môn đệ. Chúng ta có thể có cảm thông biết rõ người. Nhưng chỉ hôm nay, Người mới mạc khải cho ta biết tất cả tầm vóc con người của Chúa. Chỉ còn vài ngày nữa là Người sẽ chết. Người ra khỏi Đền Thánh Giêrusalem, để không bao giờ trở lại đó nữa. Một trong các môn đệ của Người đã lưu ý Người về vẻ đẹp của tòa nhà này, "Thưa Thầy, xin Thầy nhìn xem, những phiến đá đẹp làm sao ! Kiến trúc lộng lẫy biết bao" (Mc 13, 1). Để trả lời Chúa chỉ nói ; Tất cả sẽ bị phá hủy sẽ không còn viên đá nào trên viên đá nào ". Lúc bấy giờ Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê hỏi Người khi nào thì chuyện ấy sẽ xảy đến. Để trả lời câu hỏi đó, Đức Giêsu, đã công bố một diễn từ cuối cùng rất quan trọng thường gọi là diễn từ cánh chung" hay là diễn từ về thời gian cuối cùng"

Bài đọc hôm nay là phần giữa của diễn từ đó.

Trong những ngày ấy, sau một cơn khốn quẫn.

Phải đọc phần trước để hiểu chữ "tai họa". Trước khi Đền Thánh bị phá hủy, Đức Giêsu đã tiên báo ba tai họa như những điềm báo trước.

1. Những ngôn sứ giả, những Mêsia giả sẽ phỉnh gạt nhiều người (Mc 13,5-6).

2 . Những tai ương, chiến tranh động đất, đói kém (Mc 13,7-8).

3. Những cuộc bách hại chống lại các môn đệ của Đức Giêsu (Mc 13,9-13). Lúc bấy giờ sẽ xảy ra tai họa ghê gớm là sự tàn phá Đền Thánh, nỗi đau buồn kinh khủng (Mc 13,14) đã được các ngôn sứ báo trước (Đn 9,27). Theo lịch sử chúng ta biết rằng Đền Thánh đã bị tục hóa và phá hủy, bởi những đoàn quân ngoại đạo của Titus, vào năm 70. Chúng ta đừng quên rằng Máccô đã viết trình thuật này gần thời gian đó, lúc mà mọi sự đều có vẻ sụp đổ. Sự bách hại của Hoàng đế Nêron suýt làm tan biến Giáo Hội phôi thai : Vị giáo hoàng đầu tiên, tông đồ Phêrô đã bị đóng đinh đầu ngược xuống đất... Phao lô cũng bị chặt đầu... Các Kitô hữu ở Rôma đã bị thiêu sống trong vườn Vatican. Và cũng chính đế quốc La Mã phá hủy nơi linh thiêng Thiên Chúa luôn hiện diện, đó là Đền Thánh Giêrusalem. Sự lo âu của các tín hữu lên đến tột độ : Đức tin của chúng ta không phải là vô ích sao ? Những lời hứa của Thiên Chúa phải chăng chỉ là một giấc mộng đẹp những không hiện thực ? Có phải đó là nước Thiên Chúa không ?

Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng các ngôi sao từ trời sa xuống và các tinh tứ bầu trời bị lay chuyển.

Đức Giêsu dùng kiểu nói "khải huyền" theo truyền thống, những hình ảnh phóng đại được khuôn đúc sắn, kiểu nói biểu tượng rất thông dụng trong Kinh thánh (Is 13,10 - 34,4 ; Ge 2,10 - 4,15 ; Ed 32,1- v.v...).

Trong những khải huyền của thời đó, những hình ảnh còn mạnh bạo hơn : "Mặt trời sẽ chiếu sáng ban đêm, mặt trăng chiếu sáng ban ngày, máu sẽ từ cây cối chảy ra và những hòn đá sẽ kêu la" (Esdras 5,4).

Ta không nên hiểu những miêu tả trên theo nghĩa vật chất, chúng chỉ muốn nói lên một thực trạng không thể tả được. Đó là sự trở về với tình trạng "hỗn mang" nguyên thủy : Sẽ có một sáng' tạo mới, một khai sinh mới, một thế giới mới. "Thế giới cũ đã qua đi, và một thế giới mới đã được hình thành". Thánh Phaolô đã nói thế (2 Cr 5, 17).

Quả thực, những hình ảnh trên rất ý nghĩa. Con người luôn có khuynh hướng "tự biến mình thành thượng đế", và thích dùng những từ vĩ đại : "xây dựng thế giới", "thống trị vũ trụ chinh phục không gian"... nhưng một ngày nào đó tất cả những gì chúng ta cho là vững chắc sẽ trở nên vô nghĩa. Trước những sự xáo trộn của vũ trụ hay các nền văn minh, chúng ta mới khám phá ra rằng chúng ta là những cá nhân nhỏ tí. Nên chúng ta ngước cao hơn chân trời trái đất chúng ta một chút, chúng ta sẽ trở lại đúng chiều kích của mình. Chúng ta là gì với mặt trời và các tinh tú ? Với một vài câu nói, Đức Giêsu đã mở rộng chân trời của chúng ta. Có biết bao điều không tùy thuộc chúng ta, ở ngoài tầm tay chúng ta. Có hàng tỷ mặt trời trên kia, mà ở đó chúng ta đâu có chút quyền lực nào, đang nói cho ta biết sự nhỏ bé của mình. Chỉ có Chúa mới có thể lay chuyển vũ trụ tinh tú !
Các bạn cứ thử xem !

Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến.

Chưa bao giờ, từ lúc Người sinh ra một cách nghèo nàn trong chuồng bò ở Bê lem cho đến hôm nay, Đức Giêsu đã nói về Người như thế. Bỗng nhiên, Người trở nên cao cả vĩ đại, vinh hiển, từ trên cõi trời ! Người tự nói Người là thẩm phán ngày cánh chung, mà vai trò này chỉ dành cho Thiên Chúa. Rõ ràng là thế, Người sẽ lặp lại điều này trước Thượng Hội đồng, vài ngày nứa (Mc 14,62).

Cho đến đây, Người đã làm chúng ta quen dần với tước vị Con Người nhưng luôn luôn trong bối cảnh loan báo cái chết của Người (Mc 8,31 - 9,31 - 10,33-35). Qua tước vị này, Đức Giêsu ứng dụng cho mình lời sấm nổi tiếng của Đanien (7,13-14). Đây là tác phẩm của một người "kháng chiến" dưới thời bách hại của Vua Antiochus 4 Ephiphane sách này khẳng định sự chiến thắng của Thiên Chúa, nhờ một "con người từ trên mây trời xuống". Vâng những lực lượng của sự ác, những kẻ áp bức người nghèo, những kẻ dữ sẽ không thể chiến thắng được trong lịch sử.

Tất cả ngôn ngữ khải huyền mà chúng ta vừa nghe chỉ được dùng để làm nổi bật tiếng kêu hy vọng này : Đức Giêsu đến. . . Như một Đấng chiến thắng, những giáo phái đủ loại những kẻ "cuồng tưởng" trong những thời kỳ có khủng hoảng lớn, cứ lảm nhảm bên tai chúng ta những lời ngăm đe", những "lời sấm giáng họa" và những "câu lên án" của họ. Đối với Đức Giêsu, sự phá hủy Đền Thánh biểu tượng cho sự phá hủy thế giới , là một "Tin mừng" nghịch lý như trong bài tụng ca ngày nay.

Bầu trời đối với chúng con đã tối sầm lại, không còn một ngôi sao nào trong đêm nhưng chúng con biết rằng ngày đã đến nó rất gần.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy đến Maranatha ! Xin hãy đến !"

Những Kitô hữu đầu tiên đã mong ước mãnh liệt ngày "trở lại của Chúa" tiếng Hý Lạp là "parousie". Trong Tân ước người ta gặp nhiều lần từ huyền nhiệm này . Maranatha (I Cr 16,22 ; Kh 22,20). Đó là một kiểu nói Aramên, tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu, đã được đưa vào phụng vụ ban đầu, và có nghĩa là "Lạy Chúa, xin hãy đến". Từ Công đồng Vatican II, mỗi Thánh lễ của chúng ta đã lặp lại lời cầu xin, mong đợi trên, trong câu tung hô sau phần truyền phép : "Chúng con mong đợi ngày Chúa lại đến trong vinh quang. Chúng con mong đợi Chúa đến ."

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy đến ! Tại sao chúng ta lại không hát với những Kitô hữu đầu tiên trong cùng một âm tiếng của Đức Giêsu "Maranatha !"

Người sẽ sai các thiên sứ tập hợp những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn từ bốn phương về từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.

Có một vài tác giả hiện nay muốn giảm thiểu Đức Giêsu Na-za-rét chỉ còn là một người Na-za-rét bình thường mà thôi ! Chúa có những "thiên thần" những kẻ thuộc về người, sẵn sàng phục vụ Người. Người muốn tập hợp tất cả mọi người trên toàn trái đất lại. Thế mà nhân vật nhỏ bé này lại chưa hề rời khỏi đất nước Palettin. Trong những khải huyền cổ truyền mà Đức Giêsu đã dùng lại những hình ảnh thì những xáo trộn vũ trụ báo trước cho sự trừng phạt vĩ đại của Thiên Chúa giáng trên những kẻ phản đạo. Nhưng ở đây, không có những lời như thế trên môi miệng Đức Giêsu. Người chỉ nói đến việc tập họp những người được tuyển chọn. Việc tái lâm của Chúa Giêsu trong vinh quang, vào ngày thế mạt, đó là để tập họp những người thuộc về Chúa từ bốn phương trời, đó sẽ là một đại lễ thế giới, toàn vũ. Đức Giêsu nhìn thấy Người thật cao cả vĩ đại, thần thánh, thế mà Người sẽ phải chịu chết trong vài hôm nữa.

Ở cùng với Đức Giêsu.

Đó là tận thế, những chiến tranh tai ương, bách hại, diệt chủng, sự tàn phá ghê gớm, sự phá hủy đền thánh, sự phạm thường những nơi thánh bởi bọn phản đạo vô luân . . . tất cả những điều đó chỉ chuẩn bị cho việc tập hợp kể trên. Đây là tiếng kêu hy vọng kỳ diệu nhất mà con người có thể nghe được, ngay cả khi mọi sự sụp đổ quanh mình, ngay cả khi cái chết đến gần kề và có vẻ chiến thắng.

Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. Khi nó đâm chồi nảy lộc thì anh- em biết là gần đến mùa hè. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần.

Người ta thực sự không hiểu gì về tư tưởng của Đức Giêsu, khi người ta tỏ ra mình là "ngôn sứ báo động tai họa". Rõ ràng, Đức Giêsu muốn mở ra cho nhân loại niềm trông cậy vào một thế giới mới.

Đó là mùa hè đang đến. Đó là "mùa tươi đẹp" tới gần khi cây cỏ xanh tươi trở lại. ÔI, đó là một dụ ngôn thật đẹp dụ ngôn cuối cùng trước khi Người chết.

Trong cơn nguy nan và sợ hãi, vâng, tất cả mọi sự đều qua đi và chết hết. Nhưng chúng con biết mùa hè sắp đến, trên những cành lá xanh tươi của cây vả.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến ! Maranatha !

Thầy bảo thật anh em ; thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.

Chân dung Đức Giêsu thật là vĩ đại ! Đây là một cao vọng quá cỡ đối với một người hay chết như chúng ta. Chúng ta chớ quên, vài ngày nữa Người sẽ chết. "Tất cả đều qua đi" Người đã nói thế... Chúng Ta vẫn tồn tại, Ta hiện hữu ; và các ngươi sẽ ở với Ta. Bên kia cái chết của Người, sự Phục sinh đang ló dạng, như bình mình sau đêm mù tối.

Còn về ngày hay giờ đó, thì dù các thiên sứ trên trời, hay cả người Con đi nữa, cũng không ai biết được trừ một mình Chúa Cha mà thôi.

Người vẫn là một "con người". Người không biết bí mật của Chúa Cha, Đấng vượt lên trên tất cả. Đáng kinh ngạc thay ! Thế mà cũng con người đó quả quyết sẽ đến từ mây trời để "tập hợp tất cả những người được tuyển chọn". Đây là một nhân vật phi thường, ngoài quan niệm thường tình của chúng ta.



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Người sẽ sai các thiên thần đi qui tụ

những kẻ được tuyển chọn từ khắp bốn phương"


BÀI TIN MỪNG : Mc 13, 24 - 32 

I. Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay là một phần trích trong bài diễn từ của Chúa Giêsu về ngày cánh chung ( Mc 13, 1 - 37 ) . Bài này thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu loan báo về biến cố Người sẽ tái giáng trong uy quyền và vinh quang để phán xét nhân loại .

II. SUY NIỆM : 

1 / " Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ " : 

Nhân câu chuyện trao đổi về ngày tàn phá Giêrusalem ( Mc 13, 1 - 4 ), Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ các biến cố sẽ xảy ra trong ngày cánh chung .

2 / " Trong những ngày ấy, sau cảnh khốn cực " : 

+ Trong những ngày ấy : Ở đây không có ý nói đến thời gian cho bằng nói đến những biến cố xảy ra trong thời kỳ trước khi Chúa tái giáng .

+ Những cảnh khốn cực : Trong thời kỳ này, sau những cảnh khốn cực như : chiến tranh, loạn lạc, ngược đãi và phân ly trong gia đình, bị bách hại ... ( Mc 13, 5 - 13 ), thì sẽ xẩy ra các hiện tượng lạ :

+ " Mặt trời sẽ ra tối tăm . Mặt trăng sẽ mất sáng, các ngôi sao sẽ từ trời rơi xuống và các quyền lực trên các tầng trời sẽ bị lay chuyển " : Đây là hình ảnh mượn trong các bản văn Cựu ước nói về ngày của Giavê ( Is 13, 10 ; 34, 4 ; Gr 2, 10 ; 4, 15 ) . Trước uy nghiêm của Chúa Kitô, cũng chính là uy nghiêm của Giavê, vũ trụ rung chuyển, cuộc sáng tạo xưa ( St 2, 1 ) và các thời đại cũ bị tiêu diệt, vương quốc của Thiên Chúa tỏ hiện trong vinh quang . Vì thế, không nên hiểu các kiểu nói này theo đúng nghĩa đen .

Chúa Giêsu muốn mượn những kiểu nói đó để tỏ ra cuộc tái giáng của Người trong ngày cánh chung sẽ diễn ra rất oai vệ .

3 / " Bấy giờ người ta sẽ thấy Con Người ngự đến trong đám mây với quyền năng cao cả và vinh quang " : 

+ " Con Người ngự đến " : Chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã đến lần thứ nhất trong mầu nhiệm Nhập thể, nay tái giáng trong ngày cánh chung .

+ " Trong đám mây " : Không có ý diễn tả một phương tiện di chuyển cho bằng chỉ sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa giữa loài người vì trong Thánh Kinh thường dùng hình ảnh đám mây để chỉ cho biết những lần Thiên Chúa xuất hiện giữa loài người ( Xh 13, 21 ; 19, 9 ; St 5, 13 ; Ed 34, 5 ; Mt 17, 5 ) . Ở đây có ý nói rằng khi Chúa Kitô tỏ hiện sức mạnh và vinh quang của Người, thì tất cả thế gian sẽ trông thấy . Việc Người đến cách hiển nhiên như vậy, tương phản với những tiếng đồn sai lạc của các tiên tri giả ( Mc 13, 22 ) .

4 / " Rồi Người sai các thiên thần đến qui tụ những kẻ được tuyển chọn từ khắp bốn phương " : 

Dưới đất cũng như trên trời, các Thiên Thần được uỷ phái công việc tập hợp những người được tuyển chọn, tức là những người lành .

Tuy nói đến ngày cánh chung, nhưng Mc không đề cập đến ngày phán xét thế gian, vì ngài muốn nhấn mạnh đến khía cạnh thu thập những kẻ được tuyển chọn như là mục đích chính của ngày cánh chung . Ý nghĩa này chính Chúa Giêsu đã nói : " Ta sẽ đến lại mà đem các ngươi theo Ta, để Ta ở đâu, các ngươi sẽ ở đó " ( Ga 14, 3 ) . Đây là một lời khuyến khích và an ủi chúng ta trong ngày cánh chung .

5 / " Các con hãy học dụ ngôn về cây vả " : 

Trong Cựu ước thường dùng những hình ảnh mùa hè và mùa gặt để diễn tả ngày phán xét, ngày cánh chung ( Am 8, 1 ; Is 28, 4 ; Cr 8, 20 ) . Chúa Giêsu lấy hình ảnh cây vả báo trước mùa hè sắp tới để diễn ta hiện tượng xảy ra trước ( Mc 13, 4 - 19 ) báo hiệu ngày đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ tức là tượng trưng cho ngày cánh chung .

6 / " Khi nó đâm chồi nẩy lộc các con biết mùa hè gần đến . Cũng vậy khi các con thấy mọi sự ấy xẩy ra các con hãy nhận biết : Con Người đã tới gần ngoài cửa rồi " : 

Cái xẩy đến nơi cây vả ( đâm chồi nẩy lộc ) từ mùa xuân, được so sánh với các dấu chỉ trong các hiện tượng xẩy ra như đã nói ở Mc 13, 4 - 13 về tiên tri giả, loạn lạc, động đất, bị bách hại ... dấu chỉ ấy báo cho biết rằng ngày tận cùng gần đến rồi .

7 / " Thế hệ này sẽ chẳng qua đi trước khi mọi sự đó xẩy đến " : 

+ " Thế hệ này " : Là thế hệ đương thời của Chúa Giêsu .

+ Mọi sự đó xẩy đến : Chỉ những tai họa sẽ xẩy ra trước và sự kiện đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ .

Ở đây có ý nói ngay trong thế hệ đương thời với Chúa Giêsu, tất cả những điều đã được loan báo sẽ xảy ra . Quả thật như vậy, thế hệ thời Chúa Giêsu là năm 30, việc tàn phá đền thờ Giêrusalem xẩy ra năm 70, nhiều người đường thời với Chúa Giêsu vẫn còn sống .

8 / " Trời đất sẽ qua đi nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu " : 

Thiên Chúa đã dùng Lời Người để tạo dựng trời đất, nghĩa là toàn thể vũ trụ ( St 1 ; Tv 33, 6 ; Gl 1, 3 ... ) . Vũ trụ này sẽ có ngày tan biến ( Tv 102, 27 ; Is 24, 18 ... ) nhưng Lời của Thiên Chúa luôn bền vững .

Ở đây muốn loan báo sự tan biến của vũ trụ ( Mc 13, 24 - 25 ) nhưng các Lời của Thiên Chúa tỏ ra càng bền vững hơn ( Mc 13, 31 ) vì những Lời đó đặt nền tảng trên uy quyền không hề lay chuyển của Thiên Chúa .

9 / " Còn ngày đó hay giờ đó ..." : 

Ở đây không có ý nói ngày giờ của đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ, nhưng có ý nói về ngày giờ của ngày cánh chung .

Ngày và giờ của việc cánh chung hoàn toàn thuộc quyền của Thiên Chúa Cha . Chính Chúa Giêsu, với nhân tính trong mầu nhiệm Nhập thể ( Con Người ) cũng không biết được huống chi ai khác dù các Thiên Thần trên trời cũng vậy . Điều này chứng tỏ Chúa Giêsu muốn chia sẻ thân phận con người cách sâu xa hơn, và đồng thời nhắc nhủ vì không biết trước được nên cần tỉnh thức và sẵn sàng luôn .

III. ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 


Vào Chúa nhật cuối năm phụng vụ, Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay về ngày cánh chung để xác quyết với chúng ta về tính cách chắc chắn của ngày tận cùng của mỗi người cũng như của toàn thể nhân loại, và nhờ đó thúc đẩy mỗi người chúng ta phải luôn chuẩn bị sẵn sàng và tỉnh thức chờ đón ngày đó .

B/ Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a ) Xem việc Người làm : 


+ Chúa Giêsu đã dùng những biến cố tự nhiên như : đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ để nói đến những việc tương lai và có tính cách siêu nhiên : ngày cánh chung, để giáo huấn các môn đệ . Chúng ta phải biết nhìn những biến cố tự nhiên, trước mắt : trong thiên nhiên, ngoài xa hội, nơi con người ... để nhận ra những giáo huấn của Chúa về đời sống bản thân mình cũng như tha nhân .

+ " Các quyền lực trên các tầng trời bị lay chuyển . Bấy giờ Con Người sẽ ngự đến " : Để đón nhận tinh thần của Chúa ( Sống Lời Chúa ) và đón nhận sức sống của Chúa ( ơn Chúa ) thì những quyền lực của ma quỉ, của thế gian, của xác thịt trong bản thân ta phải lay chuyển, nghĩa là phải tan biến đi .

b ) Nghe lời Người nói : 

+ Các con hãy học dụ ngôn về cây vả Chúa cũng nhắc bảo chúng ta phải biết quan sát những biến chuyển của vũ trụ vạn vật để nhận ra những bài học của Chúa có liên hệ đến phần rỗi của bản thân mình .

+ Trời đất sẽ qua đi nhưng Lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu : Chúa đòi hỏi chúng ta phải tin tưởng vào hiệu quả chắc chắn của Lời Chúa để nhờ đó chúng ta biết thực hành Lời của Người . Chúa muốn chúng ta phải chuẩn bị cho ngày tận cùng của đời mình, tức là dọn mình chết lành .

+ Còn về giờ đó, ngày đó thì chẳng ai biết được, chỉ có mình Cha biết : Chúa không cho chúng ta biết ngày giờ chết của mình là vì muốn nhấn mạnh đến yếu tố bất ngờ của cái chết . Chính yếu tố bất ngờ này đòi hỏi chúng ta phải luôn ở trong tư thế sẵn sàng và tỉnh thức . Sự sẵn sàng và tỉnh thức này phải có tính cách :

+ Hiện tại : nghĩa là bây giờ, chứ không được khoan dãn, lơi là hoặc bê trễ .

+ Bền vững : nghĩa là liên tục chứ không được thối chí .

+ Tăng triển : nghĩa là mỗi ngày hoàn hảo hơn .

Có sẵn sàng và tỉnh thức như vậy, chúng ta mới được xếp vào hàng những người được tuyển chọn để vào Nước Trời .

2 / Nhìn vào các môn đệ : 

+ Các môn đệ xin Chúa giải thích về biến cố Đền thờ Giêrusalem bị tàn phá ( Mc 13, 3 - 4 ), nhưng Chúa dựa vào sự giải thích này để loan báo cho các ông về ngày cánh chung ( Mc 13, 5 - 32 ) . Đôi khi chúng ta cũng muốn chạy đến Chúa để xin Người giải quyết những vấn đề hiện tại thuộc về đời sống tự nhiên như : bệnh tật, đau khổ ... nhưng Chúa lại muốn chúng ta dựa vào những vấn đề tự nhiên đó để sống tinh thần siêu nhiên kia : Chỉ có ai biết từ bỏ ý riêng mình để nhận ý Chúa mới có thể nhận ra giá trị đích thực của mỗi vấn đề, mỗi biến cố, mỗi sự kiện trong đời sống .

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn