Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXXIV Thường Niên C

Lc 23,35-43 Chính người Do Thái truy tố Chúa Giê-su về tội xưng vương. Nhưng ngờ đâu tấm bản án này lại là tấm bia rao báo trước sự vinh hiển của Chúa Giê-su.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA KITÔ VUA - NĂM C


2Sm 5,1-3; Cl 1,12-20; Lc 23,35-43


 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CHÚA GIÊSU BỊ LĂNG NHỤC TRÊN THẬP GIÁ

NGƯỜI TRỘM LÀNH (Lc 23,35-43)


1. Trong câu đầu của đoản văn này, dù không minh nhiên trích dẫn một câu nào của kinh thánh, Lc đã ám chỉ đến thánh vịnh 22,8: "Tất cả những kẻ nhìn con (thêôrountes) đều nhạo báng con (exemuktêrisan) chúng vừa bĩu môi vừa lắc đầu", bản văn này môt cách nào đó đã được phản ảnh lại khi Lc mô tả dân chúng và các đầu mục: "Dân chúng đứng đó và nhìn xem (theorôn). Còn các đầu mục nhạo báng (exemuktêrizon)", qua việc dùng hai lần cùng một động từ, Lc gợi ý cho thấy cảnh đang diễn ra đây cần phải được hiểu sâu xa hơn nữa, chứ đừng dừng lại ở cử điệu bên ngoài: cảnh này hoàn tất thánh kinh cách kỳ diệu. Ở câu tiếp theo (c. 36) cũng thế, việc nhắc đến dấm chua cũng gợi lại cách xa xa Thánh vịnh 69,22: "Con khát, chúng cho uống dấm chua".

2. Toàn bộ đoản văn này, trong phụng vụ cũng như trong phúc âm, đã được dưới dấu chỉ "Vua", vừa là đối tượng của cười chê nhạo báng (cc.35-39) vừa là đối tượng của niềm tin phó thác và được tưởng thưởng (cc.40-43).

Trong lúc dân chúng nhìn xem và chiêm ngưỡng cảnh này (không bản văn nào nói đến tâm tình của dân chúng) vương quyền Chúa Kitô bị các đầu mục, bộ đội, bản án và người trộm dữ nhạo cười. Các đầu mục tôn giáo nhạo báng bằng cách nại đến việc CGS tự xưng là Vua thiên sai. Nếu Ngài là đấng được xức dầu của TC (tước hiệu của Vua) là người TC tuyển chọn, (tước hiệu thiên sai) là đấng Cứu Thế, như Ngài nói thì hãy tự cứu mình đi! Chính qua một cơn cám dỗ tương tự mà CGS đã bắt đầu sứ vụ của mình (4,3). Ngài cũng đã bị cám dỗ như thế ở Nazareth, quê hương của Ngài (4,23), đó là cơn cám dỗ đầu đời trần thế; bây giờ là cơn cám dỗ cuối cùng trước khi được tôn vinh. Lời cám dỗ đó thực ra là của ma quỉ: tự bản chất nó là lời satan đề nghị khi cám dỗ Ngài trong sa mạc. Bộ đội cũng nhạo báng, khi dâng Ngài dấm chua để uống. Bản viết treo trên thập giá mà tác giả phúc âm đã ghi lại ý nghĩa hơn là dòng chữ của nó, cũng vậy CGS là dân Do thái. Đây là lối châm biếm sâu sắc của Philatô (Gio 19,15.19.22), người trộm dữ cũng châm biếm yêu cầu đấng mà y xem như một Messia giả (đó là một vua giả ban cho y ơn cứu rỗi mà y nghĩ là không thể thực hiện được vào chính lúc mà cả 3 tử tội sắp chết).

Thái độ ngược lại của người trộm lành thật đẹp: thống hối ăn năn các tội đã phạm, tuyên xưng sự vô tội của CGS. Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn là việc anh tuyên xưng đức tin vào CGS như là Đấng Messia và là Vua, trong chính lúc mà mọi sự xem ra như sụp đổ. "Xin hãy nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong nước của Ngài". Hiển nhiên theo ý anh, mọi sự không chấm dứt với cái chết của CGS: đối với bản thân CGS, đối với chủ nghĩa thiên sai, đối với chính bản thân anh: còn việc tìm biết anh ta tưởng nghĩ cách rõ ràng về cuộc sống bên kia thế giới và các nhãn giới tương lai, thì không thể xác định được.

Tuy nhiên, câu CGS trả lời cũng soi sáng thêm ít điều vì để anh ta hiểu, câu trả lời phải phù hợp với tâm lý và môi trường Do thái của anh. Có ba chữ biểu thị điều đó: hôm nay, với tôi, trên thiên đàng.

a/ Hôm nay: đây là một việc thực hiện ngay tức khắc chứ không phải là một việc xảy ra hoặc sau khi CGS phục sinh, hoặc vào ngày thế mạt.

b/ Với tôi: đây là điểm then chốt chính yếu. Hạnh phúc hứa ban cho người trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Chúa Kitô, mà anh đã chia sẻ số phận của Ngài trên thập giá.

c/ Trên thiên đàng: thành ngữ này đưa ta đi từ ngôn ngữ thực nghiệm (với tôi) sang một kiểu nói tượng hình, mà ta chớ vật chất hóa. Người Do thái đã qui ước với nhau trong việc diễn tả thế giới bên kia bằng các công thức thuộc không gian và thời gian: shéol hay địa ngục, nơi yên ngủ chung của người chết, lòng Abraham hay thiên đàng (nghĩa tự nguyên: vườn là nơi mà các người công chính qui tụ quanh các tổ phụ, chờ đợi được hoàn toàn vinh hiển trong ngày thế mạt, đây là niềm hy vọng có tính cách tiên sai và cánh chung).

CGS không phủ nhận hình ảnh, nhưng đã thay đổi điều thiết yếu. Vì các người được chọn sẽ không qui tụ quanh các tổ phụ, nhưng quanh Ngài. Hơn nữa, giờ chờ đợi thiên đàng đã trở nên vô ích, vì đã đến giờ được sống thân mật với đấng Cứu thế.

3. Vương quyền đó, xem ra bị hủy hoại vì các lời thóa mạ lăng nhục. Giờ đây sắp được CGS tỏ hiện ngay trong khi Ngài bị sỉ nhục. Ngài thi hành vương quyền theo cách riêng của Ngài, cách hoàn toàn thần linh, không phải bằng cách xuống khỏi thập giá và đè bẹp đối phương, nhưng bằng cách kéo mọi người lên cùng Ngài, bằng cách bình tĩnh chấp nhận đau khổ. Ngay chính trên thập giá, vị vua bị đóng đinh đã bắt đầu các cuộc chinh phục tiên khởi. Thay vì xin phép lạ được xuống khỏi thập giá ngay lập tức, người trộm lành thống hối xin Đấng mà anh đã nhận biết quyền năng trong một thế giới cao siêu đừng quên anh. Anh tuyên xưng niềm trông cậy vào sự phục sinh tương lai. Anh phó thác bản thân anh vào Chúa Kitô với một tình yêu mãnh liệt nồng nàn, được diễn tả qua cách gọi thân mật: "Hỡi Giêsu".

Và cuộc chinh phục của vị vua bị đóng đinh lan rộng đến viên sĩ quan, ông "tôn vinh TC khi nói: ông này thật là một người công chính" (23,47), đến đám đông dân chúng hết thảy "đều đấm ngự và lui về" (23,48) và sau cùng đến với tất cả những ai qua muôn thế hệ sẽ tin vào Ngài.

KẾT LUẬN

Cho đến chết, CGS vẫn luôn là Đấng Cứu rỗi, cũng như đã bênh vực người đàn bà tội lỗi trong nhà người biệt phái, những gì Ngài đã nói bằng dụ ngôn về những kẻ bị lạc mất, việc Ngài âu yếm tiếp đón Giakêu - tất cả những điều này đạt đến cao điểm trong lời hứa cứu rỗi cho người trộm lành vào giờ sau hết. Lòng thương xót của TC được mạc khải trong thập giá của Chúa Kitô, đấng đã chết thay và chết vì nhiều người.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Hôm nay chúng ta cử hành lễ kính Chúa Kitô Vua, Ngài là Con Một, là Con muôn đời của Chúa Cha. Vương quyền Ngài bao trùm toàn vũ trụ và không gì thoát khỏi quyền thống trị mọi tạo vật khi đến ngày Ngài trở lại, dịp thế mạt.

Để có thể khám phá vương quyền của Chúa Kitô và để sống vương quyền đó cách phong phú, phải công nhận hôm nay giáo hội đưa ra một trang phúc âm thật lỳ lạ.

Trong khi xung đột với các đầu mục của toàn dân, CGS có vẻ như là người bại trận và ai nấy đều chứng kiến cảnh thất bại của Ngài. Đối với toàn thể, đối với môn đệ, thế là hết hy vọng. Đó là tình trạng của CGS khi xảy ra cảnh mà chúng ta vừa nghe phúc âm kể lại. Vị vua không mấy quyền thế! Tuy nhiên, vào giũa trình thuật, chúng ta nghe đọc có treo trên đầu Ngài một bảng ghi: "Người này là Vua dân Do thái". Thánh Gioan còn xác định rõ: dòng chữ đó đã được ghi bằng tiếng Hy bá, Latinh và Hy lạp. Vương quyền bị chi phối bởi các điều kiện nhục nhã đo là vương quyền nào?

2. Vị vua đó, khi người ta khiêu khích, thách thức Ngài tỏ sức mạnh, sức mạnh mà Ngài luôn xác quyết, đã không phản ứng. Ngài có thể dùng sức mạnh để khỏi bị đóng đinh ở tay chân, xuống khỏi thập giá và cai trị mọi người cách uy quyền; nhưng Ngài không làm gì hết. Ngài không tìm tư lợi cho riêng mình. Ngay từ lúc sống trong sa mạc, sau khi được G.B làm phép rửa, Ngài đã bị một cám dỗ tương tự; người ta yêu cầu Ngài dùng uy quyền để mưu cầu tư lợi; chúng ta nhớ lại cách Ngài đã khéo từ chối.

Điều này cho chúng ta hiểu: vương quyền Ngài không nhằm phục vụ tư lợi cá nhân. Việc Ngài thống trị toàn vũ trụ không phải để tự mãn. Nếu Ngài thực thi vương quyền Ngài trức khi chết, chỉ là để đưa người trộm lành vào vương quốc Ngài. Ngài thực hiện điều đó mà không cần biểu dương quyền năng, chỉ một lời hứa là đủ vì lời Ngài là sức mạnh.

CGS Vua không cai trị bằng vũ lực, nhưng bằng phục vụ, yêu thương. Con người xem ra mạnh hơn Chúa Kitô trong việc áp đảo, bắt bớ và thắng Ngài. Nhưng điều đó không làm CGS bận tâm. Hơn nữa, chính việc CGS bình thản chấp nhận bị gây thương tích mạc khải cách tuyệt diệu bản chất đích thực của Vương quyền Ngài. Cái chết chỉ là một rắc rối nhỏ không ảnh hưởng gì đến sự tự do hành động của Ngài, chỉ là một giai thoại tạm thời trong đời sống vĩnh cửu.

Qua thái độ và lối sống, CGS bị đóng đinh (mà phúc âm ghi lại) đã mạc khải bản chất vương quyền bí nhiệm của Ngài: không muốn thống trị con người, có thể bị con người tấn công. Tuy nhiên vương quyền đó có khả năng giúp mọi người thắng vượt cái chết cách vẻ vang.

3. Cả giữa những người Kitô hữu, phải chăng đã có lắm kẻ đòi Chúa Kitô dẹp tan sự đau khổ, bất công, chiến tranh... cách thần thông đó sao? Có người nói: nếu Chúa Kitô là vua thì hãy tạo cho chúng tôi một xã hội tốt đẹp hơn và bấy giờ chúng tôi sẽ tin vào Ngài. CGS không trả lời điều đó bằng phép lạ, điềm thiêng. Ngài chỉ làm gương bằng một tình yêu và lòng tha thứ tuyệt đối. Với những người thành tâm thiện ý hằng ao ước Vương quốc Ngài chóng đến, thì gương sáng và ân sủng Ngài ban cho các tâm hồn, là đủ.

Noel Quession - Chú Giải

Lc 23,33-43
 
Lễ Đức Kitô Vua là một ngày lễ rất gần đây bởi vì lễ này đã cử hành lần đầu tiên năm 1925. Những canh tân phụng vụ thời nào cũng có. Thật vây, việc cử -hành thật sự vương quyền của Đức Giêsu là ngày lễ Thăng Thiên: Nhưng, trong Chúa nhật cuối cùng này của năm phụng vụ, chúng ta chiêm niệm "Triều đại của Thiên Chúa" đến từ từ xuyên qua, lịch sử và đạt đến sự thực hiện viên mãn vào thời cách chung.

Để mừng lễ Đức Kitô Vua chúng ta, một cách rất nghịch lý, Giáo Hội đưa ra cho chúng ta cảnh tượng mà Đức Giêsu khai mạc triều đại của Người: ngai vàng của Người là thập giá.. Vương miện Người là một vòng gai làm đổ máu khuôn mặt Người... lễ phong vương của Người là một "danh hiệu " của việc kết án tử được đóng đinh bên trên đầu Người. "Đây là vua dân Do Thái!... hai chứng nhân, hai nam tước của Người, là hai tên gian phi bị kết án với Người.

Nghịch lý cao cả của Tin Mừng! Vua ư? phải! Nhưng chắc chắn không như cách hiểu của những người hoặc muốn đứng về phe Người để hoan hô tôn phong Người hoặc là những đối thủ của Người để lên án Người... Vua "theo cách của Thiên Chúa "!

Khi đến nơi gọi là "Đồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian Phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng: "Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm". Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người. Dân chúng đứng nhìn…

Vậy đây là đinh điểm!

Đó là "đỉnh núi" của Tin Mừng. Sau "Núi Bát Phúc" nơi Đức Giêsu lần đầu tiên công bố sứ điệp của Người... sau "Núi Ta-bo" nơi Đức Giêsu biến hình và nhận sự tấn phong của Chúa Cha: "Đây là Con Ta. Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!"... Đây là đỉnh điểm thứ ba và cao siêu của Tin Mừng. Ở cổng vào thành phố Giê-ru-sa-lem và gần cổng Ep-ra-im, trong một nơi khai thác đá cũ những thợ khai thác đá còn để lại tại chỗ một tảng đá cứng hơn chỗ khác, một khối đá biệt lập cao khoảng 5 mét. Đối với mọi người, đó là "Gôn-gô-tha", từ này có nghĩa là cái sọ (tiếng Hy-lạp là Kranion; tiếng La-tinh là Calvanô) vì hình dạng của tảng đá..Một truyền thuyết lâu đời cho rằng đó là cái sọ của A-đam được chôn cất mãi mãi ở đó! Đỉnh núi ấy của Tin Mừng là một ngọn "núi trọc", một ngọn núi "cô độc". Một nơi buồn thảm: một miếng đất nhỏ xíu, cao hơn mặt đất dùng để đặt giá treo cổ những tử tội, gần con đường có nhiều người đi qua, để mọi người có thể nhìn thấy các tội nhân bị hành hình và lấy đó mà làm gương!

Thật vậy đám đông đang ở đó... và nhìn... ao ước nhìn! Ở đây, Luca dùng một từ rất có ý nghĩa: Ngài không dùng từ "đám đông", nhưng dùng từ' "dân chúng" (tiếng Hy-lạp là saos), một từ thường dùng để chỉ "dân Thiên Chúa". Cũng từ ấy dùng để nói "toàn dân say mê nghe Người giảng dạy trong Đền Thờ" (Lc 19,48) trong lúc mà các thượng tế và kinh sư cả các thân hào trong dân tìm cách giết Người (Lc 19,47). Luca thường ghi nhận rằng đối với Đức Giêsu, "dân chúng" khác với các thân hào (Lc 20,1 -20,45 - 21,38).

"Và dân húng đứng nhìn" như biến cố làm họ chán ngán. Sự im lặng của dân chúng rất ấn tượng. Dân chúng ít-ra-en hiền lành không còn hiểu gì cả. Họ đã chờ đợi Đấng Mêsia như một "ông vua", một vua Đa-vít mới. Trong lịch sử của họ, vương quyền không kéo dài được bao lâu và các ông vua của họ, không phải thiếu nhưng không có được tầm cỡ của vua Đa-vít và Sa-lô-môn; nhưng đó là thời kỳ huy hoàng của ít-ra-en. Từ nhiều thế kỷ, họ đã không ngừng mơ ước có một vị vua là Đấng Mê-si-a, hưng thịnh, chiến thắng kẻ thù làm vị thẩm phân của Thiên Chúa. Vâng họ cứ ngỡ rằng Đức Giêsu đến để "phục hưng vương quyền của ít-ra-en". Họ đã thử tôn Người lên làm vua": Người lại tránh né (Ga 6,15; Lc 19,38). Và giờ đây, Người kia kìa, bị kết án tử hình!

Dân chúng đứng nhìn"

Các thủ lãnh buông lời cười nhạo: "Hắn đã cứu người khác thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn".

Khác với những người dân đen đang đứng nhìn, đã hẳn, ngạc nhiên, đau đớn và thất vọng... Các thủ lãnh cười nhạo và buông lời thách thức. Thách đố của họ là Đức Giêsu hãy tỏ vương quyền của Người là Đấng Mê-si-a. Đấng được Thiên Chúa xức dầu là một danh hiệu vương đế bởi vì các vua Ít-ra-en được gọi như thế, và quả thực đã "thánh hiến" bởi dầu thánh, (Chrême) làm họ trở thành những Đức Kitô (tiếng Hy-lạp Christos dịch từ tiếng Mê-si-a trong tiếng Do Thái). Nếu Đức Giêsu là Đức Kitô, Đấng được tuyển chọn.(từ này lấy trong sách Isai-a 42,1) nếu Người là Cứu Chúa của thế gian trước tiên Người phải tự cứu lấy mình.

Những lời gào la chế nhạo ấy là tiếng vang của những lời ma quỷ cám dỗ trong sa mạc lúc Đức Giêsu bắt đầu đời sống công khai của Người (Lc 4,3)... cũng là tiếng vang của những lời chê trách mà các người đồng hương Na-da-rét đã nói với Người: "Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình" (Lc 4,23) Trong thế giới hiện đại của chúng ta, "những kẻ thế thạo Thiên Chúa" không còn lớn tiếng như thế, nhưng chẳng phải vẫn luôn có cùng một vấn - đề, cùng một lời khinh chê: "Thiên Chúa phải tỏ mình ra đi, cho người ta thấy! Phải hiện ra đi, nếu Người hiện diện! Và câu trả lời của Thiên Chúa vẫn luôn là câu trả lời của Đức Giêsu: Người im lặng và không can thiệp vào bình diện các sự vật trần thế mà Người để chúng ton tại hoàn toàn tự lập...Người không biện hộ cho mình... Người để cho mình bị lên án là bất lực và không hiện hữu... Đức Giêsu, cũng như Thiên Chúa, không bao giờ nhượng bộ sự cám dỗ để "hành động vì mình", sử dụng sự Toàn Năng của mình chỉ vì chính Mình.

Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!"

Đó là những binh sĩ La Mã, những dân ngoại trong đoàn quân xâm lăng; họ dùng từ "vua" mà họ nhìn thấy ghi phía trên đầu Người. Một sự chế giễu cao siêu lại một lần nữa nhắm vào kẻ bị loại trừ đó, bị treo trên thập giá... thở khò khè chờ tắt thở!

Phía trên đầu Người, có bản án viết: "Đây là vua người Do Thái"

Nghi lễ lên ngôi của các ông vua bao gồm một bản phong vương: một Thượng tế nhân danh Thiên Chúa ban cho nhà vua "danh hiệu" của vua, như người ta thấy trong Thánh Vịnh 109: "Ngày đăng quang con nắm tuyển thủ lĩnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh con".

Ở đây bên trên "ngai vàng" ứng biến là thập giá, bản án dùng làm bản phong vương, giống như Lời của Chúa Cha tấn phong Con Người trên sông Giođan ngày Người chịu phép rửa: "Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con" (Lc 3,22). Trong Tin Mừng thánh Luca, bản án trên thập giá không được trình bày như một "lời lên án". Đức Giêsu đã được giới thiệu như một ông vua, nhưng "Nước Người không thuộc về thế gian này" (Ga 18,36). Trong một sứ vụ của Người, Người đã hết sức cẩn thận không cho người ta giải thích sứ vụ của Người theo nghĩa chính trị. Vương quyền của Người được thiết lập ở trần thế nhưng không cạnh tranh với "các vương quốc hoặc hệ thống chính trị trần thế". Thập giá ấy, ngai vàng ấy, danh hiệu ấy đã làm tan tành mọi niềm hy vọng hoang tưởng" của chủ nghĩa Đấng Mê-si-a vua dân Ít-ra-en.

Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!"

Câu chuyện của Luca được xây dựng theo kiểu bi kịch, trong sự căng thẳng tăng lên dần: dân chúng đứng "nhìn"…các thủ lãnh "cười nhạo"…lính tráng "chế giễu" …những tên gian phi "nhục mạ " ….

Luật của Môsê đòi phải có "hai chứng nhận" để mọi hành động trở thành hợp pháp. Như thế, các chứng nhân của việc tôn phong Chúa: Biến hình là hai nhân vật chính của Cựu ước. Môsê và E-li-a (Lc 9, 28.36). Hai chứng nhân của sự sống lại sẽ là hai người lữ hành dễ thương và bí hiểm trên đường trở về Em-mau (Lc 24,18), trước đó ít lâu là hai chứng nhân không kém huyền bí của Ngôi Mộ trống (Lc 24,4). Nhưng ở đây, hai chứng nhân cho sự lên ngôi ở Núi Sọ chỉ là hai tên cướp tầm thường. Đức Giêsu, vị vua bị nhạo báng đến cùng!

Đức Giêsu, vị vua của ngày thứ Sáu Tuần Thánh là một vị vua bị bóp méo xuyên tạc mà người ta ngần ngại chỉ ra như một người bị nhạo báng, trần truồng, bị khạc nhổ và đầy những vết thương đẫm máu, hai bên có hai tên gian phi….

Nhưng tên kia mắng nó: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!"

Trong tiếng ồn ào của sự khinh bỉ chung, đây là một tiếng nói yếu ớt và nghèo nàn dám nói chen vào. Chính Đức Ma-ri-a ở dưới chân thập giá đã nghe được và đã thuật lại cho Luca, là người duy nhất đã kể lại cho chúng ta. Luca vị thánh sử của lòng "nhân hậu" và của những "người nghèo hèn" đã phải vui mừng đặc biệt về việc này. Triều Đại của Đức Ki tô, Nước Thiên Chúa chỉ mở ra cho những người "hối cải". Đối với Đức Kitô, cách thực thi vương quyền của Người trên mọi người, kể cả những kẻ thù của Người, chính là ban cho họ dn tha thứ (Lc 23, 34.43)... một sự tha thứ không hạn chế? Để vào được Nước Chúa, không cần điều lớn lao là "công chính". Người tội lỗi cũng có chỗ trong Nước Chúa với một điều kiện duy nhất: đón nhận ơn tha thứ mà Thiên Chúa lúc nào cũng ban cho chúng ta. Người đầu tiên sống sự hòa giải hoàn vũ này là một "kẻ cắp", kẻ đã biết nhận ra tội lỗi của mình và đồng thời công bố sự vô tội của Đức Giêsu.

Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: "ông Giêsu ơi khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng".

Đức Giêsu đúng là "Ađam mới", giúp nhân loại về lại địa đàng đã mất. Chia sẻ "cùng một nỗi khổ cực như Đức Giêsu, chết, đó là bắt đầu "sống với Đức Giêsu".

Noel Quession - Chú Giải

"Lạy Ngài, khi nào về Nước-Trời xin Ngài nhớ đến tôi"(Lc 23,35-43).

 
I.Ý CHÍNH:

Tin-Mừng hôm nay ghi lại biến cố Chúa bị đóng đinh vào thập gia, trong biến cố này có những chi tiết nói lên tính cách Vương quyền của Chúa Giê-su.

II.SUY NIỆM:

1. "Các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa":

Sau khi đóng đinh Chúa Giê-su, những kẻ chống đối Chúa cảm thấy thoả lòng căm phẫn và thốt lên những lời mỉa mai chế nhạo Chúa.

Ở đây các thủ lãnh tôn giáo nhạo bán Chúa Giê-su bằng cách nại đến việc Chúa Giêsu tự xưng là Vua Thiên Sai. Nếu ngài là Đấng đươc sức dầu của Thiên Chúa (tước hiệu của Vua) là người Thiên Chúa tuyển chọn (tước hiệu Thiên Sai tức là Đấng Cứu Thế) như Ngài nói thì hãy tự cứ lấy mình đi.

Lời nhạo bán này như một cơn cám dỗ, tương tự như những cơn cám dỗ khác, như khi Người bị ma qũy cám dỗ sau 40 này ăn chay (Lc 4,3) như khi Người ở Nagiaret quê hương của Người (Lc 4,23) và bây giờ cơn cám dỗ cuối cùng trước khi được tôn vinh

2. "Quân lính đều chế diễu Người..":

Quân lính cũng nhạo báng khi chúng đưa dấm chua cho Người uống. Dấm đây là thứ rượu chua mà lính Lamã thời ấy quen dùng, có lẽ muốn liên tưởng đến Thánh Vịnh 69,22 mà Thánh Luca viết là dấm: "Con khác chúng cho uống dấm chua".

3. "Nếu ông là vua dân Do Thái hãy tự cứu mình đi":

Đây là một lời nhạo báng, nhưng cũng là lời nhạo báng có tính cách cám dỗ Chúa Giê-su, vì nếu quả thật Chúa Giê-su là vua thật theo kiểu trần thế thì Chúa Giê-su phải tự cứu mình để làm chứng. Nhưng Chúa Giê-su không phải là vua theo kiểu trần thế nên Người đã không bị xa ngã vì lời nhạo báng này.

4. "Phía trên đầu Người …người này là vua dân Do Thái":

Đây là lời châm biếm sâu sắc của Phalitô (Ga 19,15; 19,22) cũng như tục lệ Việt Nam xưa, người Do Thái quen làm bản ghi rõ tội nhân đã can phạm tội gì. Chính người Do Thái truy tố Chúa Giê-su về tội xưng vương. Nhưng ngờ đâu tấm bản án này lại là tấm bia rao báo trước sự vinh hiển của Chúa Giê-su.

5."Một trong hai kẻ trộn bị đóng đinh":

tên trộm dữ này cũng châm biếm và nhạo báng Chúa Giê-su như một vị vua giả, y nghĩ rằng ơn cứu rỗi mà y muốn xin thì ông này không thể thực hiện được, vì ông cũng chỉ là một Người sắp chết như một tên tử tội mà thôi.

Những lời nhạo báng của các thủ lãnh, của bọn lính, của tên trộm dữ, cũng như tấm bảng treo trên thập giá lại là những lời nói lên Vương quyền của Chúa Giê-su, vì Vương quyền của Người không nhằm mục đích phục vụ cá nhân như người ta khiêu khích và thách thức Người, nhưng là Vương quyền Người thiết lập để thu góp tất cả mọi người vào đó nhờ cái chết của Người trên thập giá.

6."Đối lại tên kia mắng nó rằng …":

Thái độ của người trộm lành là thái độ của một người biết đón nhận ơn cứu độ. Thái độ này được biểu lộ qua việc:

+ Biết kính sợ Thiên Chúa: "Mi cũng chịu đồng một bản án mà mi không sợ Thiên Chúa sao?".

+ Biết ăn năn thống hối các tội đã phạm: "Phần chúng ta như thế này là đích đáng".

+ Biết tin nhận vào Chúa Giê-su: "Còn ông này có làm điều gì xấu đâu".

+Biết tin nhận vào đời sống đời sau, sự sống trong Vương quyền của Chúa Giê-su: "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi".

Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do Thái, của bọn lính, của bản án treo trên thập giá cũng như của tên trộm dữ. Vương quyền của Chúa Giê-su được nhắc đi nhắc lại và nhất là lời tuyên xưng của người trộm lành: "Khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi" đã nói lên Vương quyền của Chúa Giê-su: Một Vương quyền không cai trị bằng sức mạnh biểu dương: "Tự cứu mình và cứu chúng tôi", nhưng bằng cái chết để thu góp mọi kẻ tin nhận vào Vương quyền của Người.

4. "Ta bảo thật ngươi: Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta":

Câu trả lời của Chúa Giê-su nói lên tính cách Vương quyền của Người.

+ "Ngày hôm nay": đây là một việc thực hiện ngay tức khắc, chứ không là một việc xảy ra sau khi Chúa Kitô phục sinh hoặc vào ngày thế mạt.

+ "Trên thiên đàng": chỉ nơi tuyệt diệu hạnh phúc, nơi những người công chính qui tụ chung quanh Chúa Giê-su vinh hiển. Vì chính được sống thân mật với Chúa Giê-su là thiên đàng rồi.

+ "Với Ta": đây là điểm then chốt chính yêú. Hạnh phúc hứa ban cho người trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Chúa Giê-su, mà anh đã chia sẻ số phận của Người trên thập giá.

Vương quyền của Chúa Giê-su xem ra có thể bị huỷ hoại vì các lời thoá mạ lăng nhục thì giờ đây, được Chúa Giê-su tỏ hiện. Người thi hành cách riêng của Người, cách hoàn toàn thần linh: không phải bằng cách xuống khỏi thập giá nhưng bằng cách kéo mọi người lên cùng Người.

Chính vì vậy thay vì xin phép lạ được xuống khỏi thập giá ngay lập tức, người trộm lành thống hối xin Đấng mà anh ta đã nhận biết quyền năng trong một thế giới cao siêu, đừng quên anh. Anh tuyên xưng niềm trông cậy vào sự Phục Sinh tương lai.

Và cuộc chinh phục của vi Vua bị đóng đinh, lan rộng đến tên sĩ quan, ông tôn vinh Thiên Chúa khi nói: "Ông này thật là một Người công chính" (Lc 23,47): Đến đám đông dân chúng "Đều đấm ngực và lui về" (Lc 23,48) và sau cùng đến với tất cả những ai qua muôn thế hệ sẽ tin vào Người.

III.ÁP DỤNG:

A/Áp dụng theo Tin-Mừng:

Qua bài Tin-Mừng được suy niệm vào ngày Chúa nhật cuối cùng của niên lịch phụng vụ hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc lại một lần nữa việc tôn xưng Chúa Giê-su là Vua, để nhờ đó mỗi người chúng ta biết xác tín lại sự suy phục của mình đối với Chúa Kitô bằng niềm tin, cậy, mến Chúa và bằng nếp sống đạo theo tinh thần và gương sáng của Chúa Kitô.

B/ Ap dụng thực hành:

1.Nhìn vào Chúa Giê-su:

a) xem việc Chúa làm:

+ Chúa Giê-su nhịn nhục trước những lời lăng nhục …Noi gương Chúa, chúng ta can đảm chịu đựng những sự xúc phạm của những người chung quanh để theo chân Chúa lập công đền tội và duy trì tinh thần hiệp nhất và bác ái với tha nhân.
b)Nghe lời Chúa nói:

+ "hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta": Chúa hứa với người trộm lành có lòng thối hối và tin nhận vào vương quyền của Chúa. Chúa cũng thực hiện lời hứa này đối với tất cả những ai có lòng hoán cải đời sống và tin phục vào Chúa trong niềm tin cậy mến Chúa.

2. Nhìn vào những người lăng mạ Chúa:

Họ khiêu khích thách thức Chúa và họ đòi hỏi Chúa theo ý họ muốn. Khi cầu nguyện mà chúng ta nằng nặc đòi hỏi Chúa thực hiện theo ý muốn của mình, đó là chúng ta thách thức Chúa. đó là lý do Chúa không nhận lời chúng ta cầu nguyện.

3. Nhìn vào người trộn lành:

Muốn được Chúa hứa ban phúc thiên đàng, chúng ta cũng phải bắt trước người trộm lành biết thống hối tội mình, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa và nhất là biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau./.

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ
 
Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ

Giêsu, Vua phục vụ


2Sm 5,1-3; Cl 1,12-20; Lc 23,35-43

Vua, một tước vị đã bị dìm dưới bùn đen do những vua chúa, những hoàng đế độc tài, tham quyền cố vị, giết cả bạn cả anh em, kể cả cha mẹ như một Nêron bạo vương, dìm mình trong dâm ô với hàng ngàn cung phi. Tai chúng ta vừa nghe tiếng vua, trí chúng ta liên tưởng ngay đến cảnh tượng ghê tởm khủng khiếp đó.

Thế nhưng tại sao chúng ta lại mừng lễ Chúa Giêsu là Vua. Vua Giêsu của chúng ta có như thế không? Hay là cần phải thay đổi tiếng vua thành chủ tịch, tổng thống, quốc trưởng cho hợp thời? Nhưng có thay đổi danh xưng, thì bản chất của những kẻ tham quyền cố vị, háo danh háo sắc chẳng có gì thay đổi. Điều đó đang diễn ra trước mắt chúng ta, vì "ai lấy thúng úp được voi"? Đổi danh xưng làm gì, đổi bản chất người mới đáng kể.

Bài đọc I cho thấy dân Do Thái truất phế vua Saolê, một vua bất xứng, để chọn Đavít lên thay thế. Hết vua nầy đến vua khác. Vua nào cũng thế thôi. Suốt đời Chúa Giêsu, Ngài chưa hề một lần ngồi trên ngai vàng. Ngài không hề làm vua của một quốc gia hay trên một mảnh đất nào. Ngài đã không tỏ vẻ gì là một hoàng đế, là một ông vua. Ngài còn nhất quyết từ chối và lẫn trốn mỗi khi dân chúng có ý định tôn Ngài lên làm vua. Cũng có lần người ta gọi Ngài là "Vua Dân Do Thái", nhưng là để chế nhạo Ngài, như chúng ta thấy trong Tin Mừng hôm nay.

Lúc đó Chúa Giêsu đang là một tên tử tội bị kết án đóng đinh thập giá giữa hai tên gian ác. Từ dưới chân thập giá, giới lãnh đạo cũng như quân lính và dân chúng đều chế giễu thách thức Ngài. Những lời giảng dạy và những việc Ngài làm để cứu chữa người khác được đưa ra để nhạo báng Ngài: "Nếu ông là vua dân Do Thái thì ông hãy tự cứu mình đi!" Một trong hai tên gian ác bị đóng đinh cùng với Chúa Giêsu cũng lặp lại lời chế giễu thách thức đó: "Nếu ông là Đức Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu cả chúng tôi nữa!" Trên đầu thập giá của Chúa Giêsu, tấm bảng cáo trạng đã ghi rõ: "Giêsu – Nagiarét, Vua dân Do Thái". Còn Chúa Giêsu thì vẫn im lặng trước những lời chế nhạo và thách thức của họ. Sự im lặng của Chúa Giêsu cho thất Ngài không phải là vua theo kiểu người dân Do Thái chờ đợi, một vị vua chính trị giải phóng dân tộc, cũng không phải là vua theo kiểu là người "cướp chính quyền", tranh giành quyền thống trị của hoàng đế Xê-xa hay của bất cứ vị lãnh tụ nào trên trần gian nầy. Trước tòa án của Tổng Trấn Philatô, Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Tôi là Vua, nhưng nước Tôi không thuộc về thế gian nầy".

Lúc nầy, đang khi người ta chế nhạo vương quyền của Chúa Giêsu, thì tên ác kia – mà người ta gọi là "tên trộm lành", đã nhận ra vương quyền đích thực của Chúa Giêsu. Anh nhìn nhận Chúa Giêsu là người vô tội, Ngài thật là Đức Kitô, là Đấng Thiên Chúa sai đến cứu độ nhân loại. Anh đã diễn tả lòng tin của anh bằng một lời cầu xin: "Lạy Ngài, khi nào về Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi". Chúa Giêsu đã xác nhận vương quyền của Ngài bằng cách nhận lời cầu xin của anh: "Tôi nói thật với anh, ngay hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Nước Trời".

Thưa anh chị em,

Chúa Giêsu là Vua. Vua là người dựng nước, Vua là người cứu nước, Vua là người của dân tộc. Thánh Phaolô đã triển khai ba điểm nầy trong Bài đọc II hôm nay. Chúa Giêsu là Vua, vì Ngài là Con Một của Thiên Chúa Cha. Vương quốc là của Con, là Trưởng Tử của mọi tạo vật, vì Ngài hiện hữu trước mọi tạo thành, mọi sự được dựng nên "nhờ Ngài và trong Ngài". Như vậy Chúa Giêsu Kitô là đầu toàn thể vũ trụ: vật hữu hình và vô hình, trái đất chúng ta và không gian liên hành tinh, cả những tinh vân cực xa. Sau cùng, Hội Thánh là Thân Thể của Ngài và thế giới người chết cũng là nơi Ngài cai trị như là Trưởng Tử, là người đầu tiên sống lại từ cõi chết. Lịch sử sẽ hoàn tất nơi Chúa Kitô, bởi vì toàn thể vũ trụ đang tiến tới chỗ hòa giải trọn vẹn "nhờ Ngài và trong Ngài" và chính máu Ngài đổ ra trên thập giá để thiết lập nền hòa bình vĩnh cửu.

Chúa Giêsu là Vua, nghĩa là Ngài đã lãnh đạo, mở đường đưa cả loài người vào cõi sống vĩnh cửu, vào Nước Trời. Ngài đã giải thoát loài người khỏi mọi ách thống trị của sự ác và sự chết, để con người được gặp Thiên Chúa, được tham dự vào tình yêu, sự thật và sự sống của Thiên Chúa. Để hoàn thành sứ mạng đó, Ngài đã chấp nhận bị liệt vào hàng gian ác và đã chết cùng với những kẻ gian ác để đem họ vào cõi sống với Ngài.

Chúa Giêsu là Vua vũ trụ và Vua cả nhân loại, nhưng Ngài đã thi hành vương quyền của Ngài bằng cách yêu loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người trong chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thách thức Ngài.

Chúa Giêsu là Vua, ngai vàng là thập giá, vương miện là mão gai, thay cho tiếng hoan hô là những tiếng chửi rủa, thách thức, nhạo cười, đả đảo.

Chắc hẳn không ai thích làm vua kiểu đó. Nhưng thích hay không, chúng ta cũng phải làm vua, vì khi được rửa tội, chúng ta đã là dân tộc vương đế, vương đế theo kiểu Chúa Giêsu: Phải làm vua dục vọng của mình, phải dám lên tiếng bênh vực sự thật, phải dám hy sinh cho những người nghèo khổ. "Ai biết phục vụ anh em, người đó là người chỉ huy": Phục vụ là cai trị.

Muốn được vào Nước của Chúa, được làm công dân Nước Chúa, không có con đường nào khác con đường của "người trộm lành": khiêm tốn nhìn nhận mình có tội. "Phần chúng ta, thế nầy là phải lắm". Tin tưởng: "Còn Ngài có làm gì xấu đâu", và cầu xin: "Lạy Ngài, xin nhớ đến tôi".

Nếu Chúa Giêsu thực sự là Vua của lòng chúng ta, là Vua của đời ta, thay cho các "thần tượng" vua chúa khác, thì chắc chắn chúng ta sẽ được nghe Chúa đáp lại vào lúc cuối đời mình: "Ta bảo thật với con, hôm nay con sẽ ở với Ta trên Nước Trời".

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

Dưới con mắt của những kẻ thù, của những người chống đối và của những người không tin, Chúa Giêsu đã chết trên thập giá đồi Canvê. Nhưng dưới con mắt của các môn đệ, của những ai tin thì hoàn toàn khác, Người đã không chết, Người đã sống lại hiển vinh, Người đã đi vào vương quốc của Người. Thật là một mầu nhiệm! Chính một trong hai tên trộm cướp cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu đã nhận ra và xác tín vào điều đó: "Khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi".

Chính trong tận cùng của nỗi đau, của cái chết đã nảy sinh công chính, hòa bình và niềm hy vọng cho một cuộc sống mới trong Nước của Chúa Giêsu Kitô. Vương quốc của Chúa Giêsu chính là vương quốc của tình yêu. Ngài là vị Vua của tình yêu đã chiến thắng đau khổ và sự chết, mang lại cho con người sự sống bất tử trong tình yêu Thiên Chúa.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA: Lc 23,35-43

Vị Vua trên ngai Thập giá

Đức Kitô là Vua, nhưng vương quyền của Người là gì? Bản văn Tin mừng được trích từ trình thuật thương khó theo Thánh Luca cho chúng ta biết rằng: Vương quyền của Đức Kitô là vương quyền của tình yêu. Thập giá chính là biểu tượng sống động của vương quyền Người.

a. Bẳn văn Tin mừng này cần được đọc dưới lăng kính vương quyền của Chúa Giêsu Kitô. Vương quyền của Người một đằng bị các đầu mục, các quân lính và dân chúng chế nhạo: "Nếu ông là Vua dân Do thái ông hãy tự cứu mình đi". Ngay cả Philatô cũng có một lối châm biếm sâu sắc khi cho viết dòng chữ trên đầu Chúa Giêsu: Người này là Vua Dân Do Thái.

b. Đằng khác lại có thái độ ngược lại của anh trộm lành, thống hối ăn năn, bênh vực sự vô tội của Chúa Giêsu và đặc biệt hơn là anh đã thực sự tin vào Chúa Giêsu như là vị Vua Thiên Sai: "Lạy Ngài khi nào về Nước Ngài xin nhớ đến tôi". Đáp lại lòng tin và lời khẩn cầu của anh, Chúa Giêsu đã hứa ban Thiên đàng ngay cho anh (hôm nay), ở nơi đó anh chung hưởng vinh quang, hạnh phúc với Người (với tôi) mà anh đã chia sẻ chung một khổ hình thập giá.

c. Vương quyền của Chúa Giêsu tưởng chừng đã bị hủy hoại thành trò cười cho thiên hạ với cái chết nhục nhã của Người trên thập giá. Thế nhưng, chính trong nỗi khốn cùng của thập giá, vương quyền ấy đã chói sáng, đã được thực thi. Chúa Giêsu đã thực thi vương quyền một cách kỳ diệu, thay vì xuống khỏi thập giá để mọi người chế nhạo tin thì Người đã lôi kéo mọi người lên cùng Người. Người đã chấp nhận mọi tủi nhục, khổ đau để bắt đầu cuộc chinh phục của mình, từ anh trộm lành, đến viên sĩ quan lan qua đám đông dân chúng. Tất cả đều đấm ngực ăn năn trước cái chết của Người.

II. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Vương quyền của Đức Kitô tỏ hiện trong nỗi khốn cùng của thập giá

Trước mắt những kẻ chống đối và thù địch, Chúa Giêsu bị treo trên thập giá là một thất bại, một sự nhục nhã. Ngay cả đối với các môn đệ xem ra cũng là cùng đường, là hy vọng đã vụt tắt. Thế nhưng, chính trong sự khốn cùng, đen tối của thập giá ấy lại sáng lên một niềm tin, niềm tin của anh trộm lành đồng số phận bị treo lên với Chúa Giêsu. "Khi nào về Nước Ngài xin nhớ đến tôi", anh trộm lành đã tin, đã thấy, đã nhận ra người cùng chịu treo với mình thuộc một vương quốc khác; là một vị Vua. Cũng thế, viên sĩ quan canh gác Người, những đám đông dân chúng chứng kiến cái chết của Người đã phải hối hận ăn năn và nhận ra đây là Con Thiên Chúa, đây là người công chính. Nói cách nào đó, chính nơi thập giá mà người đời cho là thất bại, là sự nhục nhã, Chúa Giêsu đã tỏ bày vương quyền của Người. Một cách thế biểu lộ uy quyền khác hẳn với mọi đế chế hay quyền bính của thế gian. Không bằng vũ lực, không bằng quyền lực danh vọng nhưng bằng sự tự hạ nhục nhã của tình yêu dâng hiến mạng sống vì nhân loại.

Không ít Kitô hữu ngày nay vẫn muốn Chúa Giêsu dẹp tan đau khổ bằng cách thần thông, bằng phép lạ ngoạn mục và thậm chí bằng cả quyền lực của thế gian. Nếu như thế, không khác gì những người ngày xưa chế nhạo Chúa: Nếu ông là Con Thiên Chúa, nếu ông là Vua hãy xuống khỏi thập giá đi, hãy tự cứu mình đi. Những ai tin và sống dưới vương quyền của Chúa Giêsu phải thể hiện mình trong sự khốn cùng, trong đau khổ, trong thập giá mình vác hằng ngày theo Chúa.

2. Vương quyền của Đức Kitô biểu lộ sức mạnh của tình yêu phục vụ

Chúa Giêsu không dùng sức mạnh để chiến thắng, không dùng những điều kỳ lạ để thuyết phục lòng tin, và cũng không dùng quyền năng của mình để thống trị. Người dùng cách khác, dùng tình yêu thương phục vụ. Chúa Giêsu làm vua không phải để tìm kiếm tư lợi cho riêng mình, để bắt người khác tùng phục mình nhưng để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại, để mang lại sự sống và tình yêu cho con người. Vì yêu, Người đã hạ mình làm người nghèo hèn để con người được làm con Chúa; Người đã chấp nhận chết để con người được sống; Người đã chấp nhận lăng nhục để con người được nâng lên.

Chính tình yêu là sức mạnh trong vương quyền của Chúa Giêsu. Người thiếp lập vương quốc, lãnh đạo vương quốc mình bằng tình yêu. Kitô hữu được mời gọi tham dự vào chức vương đế của Chúa Giêsu khi lãnh nhân Bí tích Thánh tẩy chính là sống và thể hiện sức mạnh của tình yêu Người nơi cuộc đời mình.

3. Vương quyền của Đức Kitô - Vương quyền cho mọi người

Chúa Giêsu đã từng nói: Khi nào Ta được treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta. Trên thập giá, Người đã bị treo lên, chính lúc ấy Người đã kéo mọi người lên với Người. Từ anh trộm lành, viên sĩ quan cho đến mọi người tin vào Người qua muôn thế hệ tất cả đều được kéo lên. Kéo lên nghĩa là đi vào vương quốc của Người để lãnh nhận ơn cứu độ. Mọi người không phân biệt một ai đều được đi vào Nước của Người. Bài đọc II, Thánh Phaolô đã xác quyết: Đức Kitô làm bá chủ mọi loài, tất cả đều được tạo dựng và cứu độ bởi Người, trong Người và với Người.

Mọi người đều bình đẳng để đi vào Nước Đức Kitô. Khi đã được vào, mọi người cũng luôn được đối xử bình đẳng không có sự phân biệt hay đặc quyền đặc lợi nào. Không ai có thể ở ngoài ơn cứu độ, ở ngoài vương quyền của Đức Kitô. Chỉ có những ai từ chối mới không vào mà thôi.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Đức Kitô là Vua tình yêu đến để hy sinh phục vụ chúng ta. Trong niềm tin tưởng và cảm mến, chúng ta cùng dâng lên Vua Kitô những lời nguyện cầu:

1. Giáo hội chính là hình ảnh của Nước Chúa ở giữa thế gian này, do chính Chúa Giêsu thiết lập. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn có sự hiệp nhất yêu thương giữa mọi thành phần với nhau.

2. Chúa Giêsu là Vua, nhưng thống trị bằng tình yêu thương phục vụ. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo quốc gia luôn hết lòng yêu mến, tận tâm vì dân vì nước, nhờ đó mọi người dân được hưởng một cuộc sống ấm no hạnh phúc.

3. Mọi người nhờ Bí tích Thanh tẩy đều được tham dự vào chức Vương đế của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong chúng ta luôn biết thi hành thiên chức này bằng tình yêu thương, hỷ xả phục vụ tha nhân.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, chúng con cảm tạ Chúa đã cho chúng con được sống trong tình yêu thương che chở, dìu dắt của Chúa. Xin cho chúng con luôn biết yêu mến và nổ lực canh tân xây dựng Nước Chúa ngày càng phát triển trong xã hội hôm nay. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn