Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Lễ Chúa Ba Ngôi B

Qua đoạn Tin Mừng này, Mt ghi lại việc Chúa Giêsu, sau khi sống lại, đã hiện ra với 11 Tông đồ ở nơi đã được chỉ định trước để trao sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho muôn dân nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

Ngày 28-05-2021




LỄ CHÚA BA NGÔI – NĂM B



Đnl 4,32-34.39-40 ; Rm 8,14-17 ; Mt 28,16-20

Noel Quesson - Chú Giải

LỄ CHÚA BA NGÔI

 

Mt 28,16-20

Để cử hành lễ Chúa Ba Ngôi , Giáo hội mời chúng ta đọc 5 câu cuối cùng của tin mừng theo Thánh Mát-thêu, vì 5 câu này chứa đựng những từ ngữ sau :"Anh em hãy rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần".Chúng ta nhận thấy trong phần kết thúc Tin mừng, Mát-thêu dường như đã cô đọng tóm tắt tất cả cuốn sách của ông – Đó là những câu mang nặng tính thần học, một thứ tuyên xưng đức tin.

Mười một môn đệ đi tới miền Galilê…

Riêng câu này cũng đủ nói cho chúng ta biết "Giáo Hội là ai"… Đó là Hội Thánh của những quốc gia ngoại giáo. Những môn đệ được chính Chúa Giêsu mời gọi rời bỏ Giêrusalem (Mt 28,7), cho đến lúc bấy giờ vẫn là trung tâm địa lý của Đức Tin , nơi Thiên Chúa hiện diện. Theo Thánh Mat-thêu, không có sự hiện ra "chính thức " với các tông đồ tại Giêrusalem. Chúa trao phó sứ mạng cho các phụ nữ một cách riêng tư , Người triệu tập các tông đồ đến "miền Galilê của chư quốc", một tỉnh có nhiều dân sứ vãng lai – Hội thánh bắt đầu tại Galilê, vùng này thay thế cho Giêrusalem và trở thành trung tâm phát triển của cộng đoàn mới. Trong những chương đầu , Mát –thêu cho thấy tính cányh bí nhiệm của các "Đạo sĩ phương Đông", họ đến từ những vùng ngoại giáo , sấp mình thờ lạy Giêsu Hài Nhi , trong khi đó, Giêrusalem lại không đón tiếp Người .

Phải chăng tôi có quan niệm như thế về Giáo hội ?

Một Giáo Hội mở rộng loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới , chứ không đóng kín trong những bức tường .

Đến những ngọn núi Chúa Giêsu đã hẹn với các ông…

Chũ "Eklésia"(Giáo Hội) trong tiếng Hy Lạp , có nghĩa là "tập họp những người được triệu tập" . Kitô hữu là những người được Dức Giêsu Phục Sinh triệu tập . Mỗi Chúa Nhật khi đến với Bí tích Thánh Thể , tôi có ý thức rằng , không phải tôi có sáng kiến này , mà Đức Giêsu đã triệu tập tôi . Tôi đáp lại lời mời trước tiên , đức tin của tôi không phải là một mớ kiến thức , mà là sự đáp trảvới đấng đã kêu gọi tôi. "Trên núi".

Trong Tin Mừng của Mát-Thêu , người ta không bao giờ nói núi đó là núi nào. Nhưng trái lại, phải chăng là tình cờ , nuí là địa điểm tốt nhất cho sự mạc khải của Thiên Chúa . Chính ở trên "núi cao", Đức Giêsu đã tuyên bố diễn văn khai mạc tức là "Bài giảng trên núi"(Mt 5,1 – 8,1 ). Người cũng đã cầu nguyện , hoá bánh ra nhiều và biến hình trưứ«c mặt các tông đồ của người ở trên núi cao.

Tôi để biểu tượng này in sâu trong tôi.

Tôi để cho Đức Giêsu triệu tập tôi trên núi cao .

Tôi chấp nhận mở rộng nhãn giới của tôi . Phong cảnh Đức Giêsu mời gọi tôi thật hùng vĩ…. Người ta thoải mái hít thở không khí ở trên đỉnh cao.

Khi thấy người các ông sụp lạy …

Đó là cử điệu Phụng vụ mà những người trẻ sẽ thực hiện lại , và dân chúng phương Đông thường làm một cách tự phát : Nằm dài trên mặt đất hay ít nhất là cúi rạp , trán chạm đất . Đây là cử chỉ tôn thờ long trọng . Cử điệu cao quí nhất mà con người có thể làm hiện được . Trong tin mừng Thánh Mát-thêu , sự sụp lạy này cũng được các tông đồ thực hiện trong chiếc thuyền , khi thuyền đã được cứu khỏi cơn phong ba bão táp (Mt 14, 33). Đó cũng là cử điệu của ba nhà Đạo sĩ ngoại giáo(2,11), của người bệnh phong(8,12), và của một phụ nữ Canaan , một người ngoại đạo khác(15,25).

Tôi có bao giờ thờ lạy như thế không ? Nghĩa là thầm lặng suy niệm về sự oai nghi của đấng đang ở trước mặt tôi chăng ?

Nhưng có mấy ông lại hoài nghi Đức Giêsu đến gần…

Giáo Hội dâng lễ tế để tôn thờ Thiên Chúa vẫn còn là một Giáo Hội của những người tội lỗi . Đức tin của những con người . Đức tin của những tông đồ đầu tiên (cũng như đức tin của chúng ta) vẫn còn là một đức tin pha trộn hoài nghi và nước đôi , đó là một đức tin còn đáng di hành. Giáo hội đón tiếp Đức Giêsu vẫn là một Giáo Hội của những người "yếu đức tin" (Mt 14,31), bị hư mất một người , chỉ còn 11 trong số 12 người đã được chọn. Đức Giêsu không ngạc nhiên về điều này. Người đến gần họ như ngày người đã biến hình (Mt 17,7). Lạy Chúa xin hãy đến . Xin Chúa hãy đến gần hơn. "Maranatha" . Lạy Chúa xin thương xót chúng con và tất cả những người đã không tuyên xưng Đức tin một cách hoàn toàn và rõ ràng. Xin Chúa thương xót biết bao bạn trẻ, biết bao con người thời nay "không đạt đến đức tin". Xin Chúa thương xót con, vì đôi khi đức tin của con cũng hoài nghi.

Người nói với các ông : "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất . Vậy anh em hãy đi đến muôn dân và kết nạp môn đệ … Dây họ tuân dữ những điều răn… Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.

Lời của đức Giêsu phục sinh nói trên đây oai nghi biết bao !

Sau cuộc sống khiêm nhường thành Na-za-rét, giờ đây sự thật đã tỏ lộ . Bên ngoài , đây có vẻ như là tramg cuối của một câu truyện , giai đoạn kết thúc của cuộc sống một con người , nhưng thực ra đây là khởi đầu của một cuộc phiêu lưư vĩ đại nhất trong các thời đại , không thể giảithích được bằng những tiêu chuẩn bình thường của lịch sử .

Chúng ta nên lưu ý đến tầm quan trọng của tất cả tĩnh từ "tất cã toàn thể" đã được lập lại tới bốn lần . Nhắc lại bốn lần từ "toàn thể" , nhắc lại bốn lần từ "trọn vẹn" là để biểu lộ hành động của Đức Giêsu. Đó là tính trọn vẹn – toàn diện trong hành động của Thiên Chúa , Đấng đã chấp nhận thân xác trong toàn diị©n hành động của con người , theo suốt dòng thời gian trôi chảy ! Nên đọc lại tư tưởng của Cha Teihard de Chardin . Dưới đây là là một trích đoạn : "xét về mặt vật lý , Đức Kitô là Đấng choán phủ tất cả : Không có một yếu tố nào trong vũ trụ , vào bất cứ một giây phút nào của trần gian , chuyển hành mà lại không di chuyển , và không bao giờ được vận hành ngoài tầm hướng dẫn của Người cả . Không gian và thời gian đã ngập đày sự hiện diện của Người . Cũng xét về mặt thể lý , Đức Kitô là Đấng "tiêu thụ" tất cả: trọn vẹn vũ trụ chỉ được hopàn tất trong một tổng hợp cuối cùng , mà ở đó có một ý thức siêu việt sẽ biểu lộ trên mọi yếu tố phức tạp cho dù đã được cấu tạo một cách tuyệt vời … Mọi con người sẽ hội tụ và cùng kết nối lại với nhau trong Người . Chính Đức Kitô sẽ tạo cho tòn bọ công trình vật chất và tinh thần độ bền vững mãi.

Anh em hãy đi đến với muôn dân , làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Chúa Cha chỉ là "Cha" , vì Nguời quên mình hoàn toàn , để chuyển trọn vên sang Ngôi Con. Chúa Con chỉ là "Con" vì Người quên mình để chọn vẹn "tự hiến dâng" cho Chúa Cha – Chúa Thánh Thần sẽ không là gì cả nếu người không phải là tình yêu hỗ tương của Chúa Cha và Chúa Con, Thiên Chúa là Tình yêu.

Chương trình lớn lao của Thiên Chúa , mà Đức Giêsu đã giao cho các tông đồ , cho Giáo Hội, nhằm "nhận dìm" (đấy là nghĩa chữ Hy Lạp baptizô) nhân loại trong tương quan tình yêu liên kết Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. "Dấu" rửa tội đúng là dấu Thánh giá; đó là "cuộc sống cho tha nhân" . Chúng ta được rửa tội nhân danh tình yêu. Chúng ta được "nhận dìm" trong nguồn tình yêu đó – Đấy là "chương trình" của Giáo hội.

Đôi khi người ta tự hỏi Đức Giêsu đã muốn sáng lập Giáo Hội nào? Chắc chắn , Đức Kitô đã không nghĩ đến nước Vatican , đến các vị Giám mục đội mão, đến những văn phòng hành chánh , những kiến trúc tôn giáo hay những nghi lễ trọng thể của Giáo hội, giống như những triều đình vua chúa ngày xưa.

Nói điều này để chúng ta đừng đóng khung Giáo Hội sống động trong những bộ mặt trần thế mà Giáo Hội đã có trong một số thời đại. Điều Đức Kitô muốn đó là "Tập hợp tất cả mọi người trong tình yêu" – Chúa là tình yêu – Chúa là cộng đồng những người thương yêu nhau tronh hiệp nhất của Chúa Thánh Thần – phải tìm điều cốt yếu của Giáo hội trong bản tính của Chúa Ba Ngôi.

Những người thấy tôi sốt sắng , tôi được "nhận dìm" , "được rửa tội" trong Chúa Ba Ngôi tình yêu, những người quan sát những nhóm mà tôi đang sống : Gia đình , nhóm làm việc với tôi, họ có thể cảm thấy "tôi đã được rửa tội nhân danh ai" ?

Anh em hãy dạy bảo họ giữ những điều Thầy đã dạy cho anh em.

Đức Giêsu đã truyền dạy những điều răn nào ? Đó là giới răn tình thương . "Người ta sẽ nhận các con là môn đệ của Thầy, ở điều này , nếu các con yêu thương nhau". Không phải cứ được rửa tội là đủ – phải tỏ ra là "môn đệ" của Đức Giêsu bằng mọi hành động trong cuộc sống. Đối với đức Giêsu , giáo lý không phải là mộtbài phải học mà là một tập luyện sống "theo tình thương"

Và đây. Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.

Lời hứa "Thầy ở cùng" trên đây rất mạnh nghĩa . Cũng như trong tin mừng Thánh Gioan , ta đoán nhận ra trong lời phát biểu đó, cung cách của "Giavê"trong cựu ước . Hơn nữa , theo lối hành văn của người Sêmít, ở đây ta nhận thấy , để kết thúc Tin mừng của mình , Mát thêu đã lập lại tư tưởng đã đề cập ở đầu sách: "En-ma-nu-en : Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Khi báo tin cho Thánh Giuse( Mt 1,23), Thiên sứ đã nói con trẻ sẻ được gọi là En-ma-nu-en, vậy mà Thánh Giuse đã đặt tên Chúa là Giêsu : Nhưng trong dòng cuối của tin mừng , Thánh Mát thêu đã giải thích bí mật này : Đức Giêsu Phục sinh , chính là "Chúa ở cùng chúng ta".

"Lạy đức Giêsu, tạ ơn Chúa".

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần "

BÀI TIN MỪNG : Mt 28, 16 - 20

I . Ý CHÍNH :

Qua đoạn Tin Mừng này, Mt ghi lại việc Chúa Giêsu, sau khi sống lại, đã hiện ra với 11 Tông đồ ở nơi đã được chỉ định trước để trao sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho muôn dân nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa .

II . SUY NIỆM :

1 / " Khi ấy, 11 môn đệ đi về Galilê, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước " :

a ) Mười một môn đệ đi về Galilê, Việc này đã được Chúa Giêsu báo trước ( Mt 26, 32 ) .

+ Và sau khi sống lại, Chúa đã nhờ các bà đạo đức đến thăm mộ Chúa, bảo cho các môn đệ phải trở về Galilê để gặp Người ( Mt 28, 10 ; Mc 16, 7 ) .

+ Sự việc này nói lên tầm quan trọng đặc biệt của việc Chúa hiện ra với 11 Tông đồ lần này .

b ) Đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước : Núi là một trong những dấu hiệu mạc khải của Thiên Chúa, chứng tỏ uy quyền của Thiên Chúa, Chúa Giêsu hiện ra trên núi lần này giống như xưa Đức Giavê đã hiện ra với Môisen và dân Do thái trên núi Sinai để ban mười giới răn . Ở núi người ta nhận ra dễ dàng sự cao siêu huyền diệu của Thiên Chúa, núi còn là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và nhân loại : ( Xh 3, 1 - 5 ; 17, 9 ; 1, 1 ; 18, 42 ; 19, 8 ; 24, 12 - 18 ) . Vì thế, Chúa sống lại, hiện ra trên núi, đó là một yếu tố chứng nhận, tuyên xưng Người là Thiên Chúa .

+ Riêng Mt, núi là nơi đặc biệt để Chúa tỏ mình ra : Chúa bị Satan cám dỗ ( Mt 4, 8 ), Chúa biến hình ( Mt 17, 1 ), Chúa trao quyền cho các Tông đồ ( Mt 28, 16 ) . Ở đây không thấy nói đến tên của núi . Điều này chứng tỏ tính cách siêu việt, thiêng liêng của Chúa Giêsu, Người không bị gắn bó vào một chỗ nào nhất định, Người vượt mọi ràng buột của vật chất .

2 / " Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi " :

+ Các ông thờ lạy Người ; Cử chỉ này biểu lộ :

- Tính cách oai nghi long trọng của lần hiện ra .

- Sự nhận thức trọn vẹn của các môn đệ đối với Chúa Giêsu là Thiên Chúa vì cử chỉ thờ lạy chỉ dành riêng cho Thiên Chúa . Cử chỉ này cũng giống như Tôma khi nhận ra Chúa Giêsu "Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi " .

+ Nhưng có ít kẻ còn hoàn nghi :

- Chủ đích ở đây là cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô và nhóm 11, nền tảng của Giáo Hội, nhưng có thể là có cả các môn đệ khác . Có ít kẻ trong số các môn đệ khác này khi đó còn hoài nghi về Chúa Giêsu phục sinh thì lần này cũng được chứng kiến : Sự có mặt của ít kẻ còn hoài nghi này càng làm cho sự hiện ra của Chúa lần này thêm quan trọng .

3 / " Chúa Giêsu tiến lại nói các ông rằng " :

a ) " Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy " :

+ Biểu lộ quyền năng của Chúa Giêsu, quyền năng của một vị Thiên Chúa .

+ Quyền năng này là nền tảng cho việc rao giảng mà các môn đệ được nhận lãnh .

+ Ý nghĩa này cũng tương đương với ý nghĩa của câu Chúa Giêsu đã nói khi Người hiện ra trong nhà Tiệc ly : " Cũng như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con " ( Ga 20, 21 ) .

b ) " Vậy các con hãy đi rao giảng cho muôn dân " :

+ Chữ " Hãy " : biểu bộ uy quyền của Chúa Kitô nghĩa là việc giảng dạy muôn dân là hậu quả tất nhiên của uy quyền mà Chúa Giêsu đã được .

+ Đi giảng dạy muôn dân : có nghĩa là để thâu nạp các môn đệ từ muôn dân .

+ Giảng Tin Mừng của Chúa Kitô để những người nghe có dịp trở nên môn đồ của Chúa Kitô .

+ Việc rao giảng này là công tác thứ nhất mà các Tông đồ phải thực hiện trong sứ mạng được trao phó .

c ) " Làm phép rửa cho họ " :

Đây là công tác thứ hai trong sứ mạng được giao phó, đó là công tác thực hiện bí tích Rửa tội . Công tác này là thu nạp những người sau khi đã nghĩa giảng dạy Tin Mừng của Chúa Kitô được nhận vào làm môn đệ của Chúa Kitô qua bí tích Rửa tội .

d ) " Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần " :

Rửa tội nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa có nghĩa là được thánh hiến để thuộc trọn về Ba Ngôi .

Vì vậy việc Chúa Giêsu truyền làm phép Rửa tội là điều kiện cần thiết để nên môn đệ của Chúa Kitô .

h ) " Giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền " :

+ Câu này có nghĩa là các Tông đồ phải dạy những điều Chúa đã truyền dạy cho các ông, mà Chúa Thánh Thần sẽ nhắc lại hoặc sẽ bổ túc thêm khi Người đến . Điều này chứng tỏ các Tông đồ phải đem đức tin vào đời sống người nghe, giúp cho họ sống đức tin, thực hiện các việc làm luân lý như giữ các giới răn, sống đời ơn thánh, sống đời cầu nguyện ... Câu này Chúa có ý mạnh về việc giúp cho người ta thực hiện đức tin sau khi đã được nhận đức tin .

+ Kiểu nói này khác với kiểu nói : " Hãy đi giảng dạy muôn dân ", kiểu nói trên nhằm vào khía cạnh khêu gợi đức tin lúc khởi đầu, tức là gợi đức tin nơi người nghe . Còn kiểu nói trên nhằm khía cạnh thực hành đức tin khi đã được đón nhận đức tin .

Hai kiểu nói trên đây của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc tông đồ truyền giáo và việc mục vụ của người tông đồ .

5 / " Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế " :

Để bảo đảm cho sứ mệnh và việc thi hành sứ mệnh của các Tông đồ, Chúa Giêsu hứa ở với các ông và Giáo Hội cho đến tận thế . Bây giờ là sự hiện diện của Người, nhưng khi Người đã về trời rồi thì tiếp theo đó là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần . Chính Chúa Thánh Thần sẽ bảo đảm và sức mạnh thức đẩy các Tông đồ can đảm lên đường thi hành sứ mệnh được trao phó .

+ Mọi ngày : Ở đây diễn tả sự liên tục không ngơi luôn luôn có sự hiện diện của Chúa và sự hiện diện này không bị ràng buộc bởi giới hạn nào .

+ Sự hiện diện liên tục của Chúa trong Giáo Hội biểu lộ ý nghĩa Giáo Hội thi hành sứ mệnh của mình là thi hành sứ mệnh đã được phát xuất từ uy quyền cuả Thiên Chúa .

+ Những danh từ dùng " Mọi quyền năng " " Muốn dân " " Mọi điều " ' Mọi ngày " đều diễn ta tính cách phổ quát của sứ mệnh tông đồ . Và vì vậy chúng ta thấy sứ mệnh của Giáo Hội không bị giới hạnh ở một ranh giới nào, nhưng là bao trùm toàn thể loại thụ tạo : Ở moị thời trong mọi nơi và cho mọi người .

III. ÁP DỤNG :

A / Áp dụng theo Tin Mừng :

1 . Đặt bài Tin Mừng này vào ngày mừng lễ Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội muốn cho chúng ta nhận thức rằng qua bi tích Rửa tội, chúng ta đã được thánh hiến cho Thiên Chúa Ba Ngôi, và vì vậy chúng ta phải xác định vị trí của mình về Thiên Chúa chứ không còn thuộc về thế gian nữa nên phải sống theo con cái sự sáng .

2 . Sự sang trọng việc Chúa hiện ra lần này :

- Đến nơi đã được chỉ định, các môn đệ thờ lạy Người : Đã nói lên tầm quan trọng của nội dung : Trao ban sứ mạng Rao giảng - Rửa tội - Mục vụ cho các Tông đồ và cho Giáo Hội . Chúng ta cũng phải lấy làm quan trọng khi chúng ta góp phần vào việc tông đồ, truyền giáo và xây dựng Giáo Hội .

3 . Sứ mệnh Chúa trao có tính cách phổ quát : Vì vậy việc tông đồ truyền giáo cũng như việc xây dựng Giáo Hội của chúng ta không được thu hẹp hay hạn chế xét theo thời gian, không gian hay đối tượng nào, nhưng là cho mọi người, ở mọi thời và trong mọi nơi .

B / Áp dụng thực hành :

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu :

a ) Để làm nổi bật tầm mức quan trọng của sự việc là trao sứ mệnh, Chúa Giêsu đẽ tạo bầu khí trang trọng khi hiện ra .

+ Muốn làm nổi bật tầm mức quan trọng của sự việc nào đó, chúng ta cũng phải tạo nên bầu khí thuận lợi cho tha nhân : Về thời giờ nơi chốn và tâm trạng con người ... Vì thế việc chuẩn bị tinh thần và chuẩn bị bầu khí bằng cách trang hoàng các ngày lễ là điều kiện cần thiết để người ta đón nhận tinh thần của ngày lễ .

b ) Chúa Giêsu dựa vào quyền năng của mình để trao ban sứ mệnh cho các Tông đồ . Chúng ta trao cho ai công việc gì chúng ta cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho họ bằng sự chỉ dẫn, giúp đỡ, săn sóc, khích lệ ...

2 / Nhìn vào các Tông đồ :

Chúa trao sứ mệnh cho các Tông đồ : Ngày nay sứ mệnh ấy còn tiếp tục trao lại cho chúng ta : Vậy hãy tha thiết làm tông đồ truyền giáo, dạy giáo lý tân tòng, dạy cho trẻ em, giúp giáo xứ, thánh hoá tha nhân .

Lm Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

"Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần"

Đnl 4,32-34.39-40 ; Rm 8,14-17 ; Mt 28,16-20

Biến cố lớn nhất đang được khơi động trong Giáo Hội là chuẩn bị mừng năm sinh thứ 2000 của Chúa Giêsu. Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Tông Thư "Tiến đến Thiên niên kỷ thứ ba". Chủ đề học hỏi của ba năm chuẩn bị là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Năm thứ nhất, 1997, sẽ dành cho suy tư về Đức Kitô, Ngôi Lời của Chúa Cha, làm người do hoạt động của Chúa Thánh Thần (số 40). Năm thứ hai, 1998, sẽ đặc biệt dành cho Chúa Thánh Thần… Đấng đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Con, trong mầu nhiệm tuyệt đối của Thiên Chúa vừa là một vừa là ba, là Ngôi vị tình yêu, tặng phẩm vĩnh hằng, nguồn mạch vĩnh cửu của mọi ân huệ Chúa ban… (số 44). Năm 1999, năm thứ ba và là năm cuối cùng, sẽ hướng đến Cha trên trời, Đấng đã sai Đức Kitô và là Đấng mà Ngài đã trở về (x. Ga 16,28. số 49).

Anh chị em thân mến,

Trong các thánh lễ Chúa Nhật, chúng ta đều tuyên xưng : "Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất. Tôi tin kính một Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, được Chúa Cha sinh ra trước muôn thuở muôn đời. Tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Chúa và là Đấng ban sự sống, Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con". Đó là lời tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính, một công thức thần học súc tích, mang nặng tính chất lý luận dài dòng và khó hiểu.

Thế nhưng, đây là một mầu nhiệm tuyệt đối nhất trong các mầu nhiệm : Mầu nhiệm hiệp thông sự sống và tình yêu.

Thiên Chúa là Tình yêu, nghĩa là Ngài không đơn độc một mình. Nếu như Ngài đơn độc một mình thì Ngài sẽ yêu một mình Ngài một cách ích kỷ vô cùng. Nhưng Ngài là ba : Cha, Con và Thánh Thần. Là ba, nhưng cả ba hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau : Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống này giữa Cha và Con là chính Chúa Thánh Thần.

Tình yêu Thiên Chúa không khép kín lại nơi cộng đồng Ba Ngôi, nhưng lan tỏa ra ngoài trên khắp vũ trụ và đến nhân loại : "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban cho thế gian quà tặng quí giá nhất là Người Con chí ái của Ngài, nghĩa là chính sự sống của Thiên Chúa". Rồi đến lượt Người Con ấy cũng lại trao ban Thánh Thần, nghĩa là chính sự sống của Ngài cho thế gian. Chính nơi Người Con ấy, nơi bản thân, cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu mà chúng ta nhận ra được Thiên Chúa là Tình yêu và thế nào là sống như con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa : "Ai không yêu thương anh em là không biết Thiên Chúa" (1Ga 4,8), còn ai đã biết Thiên Chúa thì phải yêu thương anh em như Ngài đã yêu thương, "vì Thiên Chúa là Tình yêu".

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất. Ước vọng hiệp nhất và nên một của những người yêu nhau sẽ được thực hiện nơi người con họ cho nhau. Nó là của chàng và cũng là của nàng. Nó là chúng ta, là tình yêu chung mà họ có thể thấy được. Tình yêu giữa hai người đã triển nở thành tình yêu chung trong một Ngôi Vị thứ ba : Họ trở thành một gia đình. Hình ảnh gia đình ấy có thể giúp chúng ta tiếp cận phần nào với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - gọi là phần nào, bởi vì mọi hình ảnh đều bất toàn, không thể diễn đạt tương xứng được sự khác biệt nhưng lại duy nhất vô biên nơi Thiên Chúa. Có thể nói Thiên Chúa là một gia đình : Cha, Con và Thánh Thần. Yêu thương chính là bản tính thần linh chung của Ba Ngôi, là lời lý giải cho mầu nhiệm cao cả mà chúng ta tuyên xưng.

Thưa anh chị em,

Mầu nhiệm đức tin không bao giờ là một trò chơi và thách đố trí tuệ, nhưng luôn hàm chứa lời mời gọi sự sống. Thiên Chúa Ba Ngôi là một thực tại sống động trong đời sống người kitô hữu. Thật vậy, đời sống kitô hữu được khai sinh nhờ Bí Tích Thánh Tẩy "nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Lời cầu nguyện luôn luôn là lời nguyện "với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần". Thánh lễ, trọng tâm của đời sống kitô hữu, cũng được khai mở và kết thúc trong Danh Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi đang sống trong lòng mỗi người, đời sống Ba Ngôi đang diễn ra trong mỗi tâm hồn. Từng giây từng phút, người kitô hữu được liên kết chặt chẽ với Chúa Con, đến độ khi được tràn đầy Thánh Thần của Ngài, người kitô hữu trở thành con của Cha trên trời. Vì vậy, phúc lành vĩ đại nhất cho kẻ tin là "được tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Chúa Cha và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần" (1Cr 13,13). Do đó, sự nhận biết Thiên Chúa là Tình yêu và là Tình yêu cứu độ phải là sức đẩy cho chúng ta yêu thương mọi người anh em như Thiên Chúa yêu thương.

Như nơi Thiên Chúa, khởi điểm của tình yêu là mở ra, thông ban, chia sẻ. Thái độ mở ra, thông ban, chia sẻ nầy đòi hỏi phải ra khỏi bản thân và đi đến với người khác. Thái độ nầy đòi hỏi rũ bỏ não trạng ích kỷ vốn tiềm tàng ngay trong suy nghĩ, ước mơ, và tính toán để thực sự biết quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác, biết nhìn nhận người khác ngay trong cái khác biệt của họ.

Liệu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi có là nền tảng cho sự hiệp thông trong cộng đoàn chúng ta không ? Mỗi người trong cộng đoàn - từ cộng đoàn Họ đạo đến khu phố, gia đình - có cảm thấy mình "yêu và được yêu" không ? Có biết cho và nhận cách khiêm tốn không ? Dấu Thánh Giá được ghi trên người "nhân Danh Chúa Ba Ngôi" có tác động gì trong đời sống chúng ta không ? Có là tấm gương cho chúng ta soi bóng tình yêu hiến dâng của mình trong quan hệ với tha nhân không ?

Tuy nhiên, không chỉ là tôi mở ra hướng về anh và anh hướng về tôi, để rồi lại tạo nên một thứ "tôi và chúng ta" khép kín. Tinh thần bè phái và phe nhóm lại chẳng có mặt trong cuộc sống của chúng ta đó sao ? Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi thì không như thế. Tình yêu đã chẳng tự khép kín trong gia đình Ba Ngôi, nhưng trào vọt và chan hòa trong vũ trụ bao la, tuôn đổ trong lòng mọi người. Cũng vậy, niềm tin thúc bách tình yêu đi tới, phá đổ mọi bức tường ngăn cách, để đến với muôn người và từng người, vượt qua mọi rào cản của màu da, chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ, để tình yêu lan tỏa khắp nơi. Và tình yêu làm nên hơi thở của sự sống. Cứu độ là ở đó. Nước Trời cũng là ở đó.

Chúng ta hãy cầu xin Tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi cho chúng ta từ bỏ thái độ cô độc khép kín, cùng nhau xây dựng một thế giới anh em bốn bể một nhà, cho nhân loại nhận biết Chúa Cha là Thiên Chúa chúng ta như Ngài đã tỏ hiện cho chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Ngài hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần muôn đời.

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

Sứ mạng phổ quát

Cố gắng đi tìm trong Cựu ước một mạc khải rõ ràng về Thiên Chúa Ba Ngôi là việc vô ích : chủ trương độc thần chặt chẽ của Dân Chúa chọn làm cho người ta không thể khám phá ra bất cứ điều gì theo chiều hướng này. Tuy nhiên, khi công bố sự hiện hữu của "một Thiên Chúa duy nhất", Israel chưa bao giờ nghĩ đến "một Thiên Chúa mà thôi", một Thiên Chúa cô độc. Ngay vào những thời đại xa xưa nhất, họ luôn cảm nhận rằng Ngài là một vì Thiên Chúa mở ra đối thoại : với thế giới, với con người, với dân mà Ngài đang hiện diện ở giữa bằng giao ước của Ngài.

Khởi đi từ bản thân Đức Giêsu Phục Sinh Tân ước đã khám phá ra mầu nhiệm đời sống thâm sâu của Thiên Chúa.

I. Khám phá sứ điệp Tin Mừng : Mt 28,16-20.

1. Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (16-17)

Các nhân vật chính của phần thứ nhất là "mười một môn đệ". Con số này nhắc đến sự phản bội của cả nhóm. Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đã là một dấu cho thấy Người tha thứ và hòa giải ; Người gọi các ông là "anh em của Thầy" (28,10). Bây giờ, cuộc hành trình của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đã chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và hòa giải (x. 28,7.10).

Câu truyện sẽ kết thúc ngay tại nơi mà sứ vụ của Đức Giêsu đã bắt đầu : tại "Galilê, miền đất của dân ngoại", đã xuất hiện ánh sáng có sức thắng vượt bóng tối của tử thần (4,15-16) và giúp cho có thể bắt đầu việc rao giảng cho muôn dân (28,19). Đấng Phục Sinh gặp lại các môn đệ tại chính nơi hoạt động trần thế của Người ; điều này giả thiết có một sự tiếp nối giữa Đức Giêsu trần thế và Đức Kitô Phục Sinh, một sự tiếp nối mà c. 20a sẽ nêu bật minh nhiên ("[bằng cách] dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em").

"Ngọn núi" không phải là một nơi mà người ta có thể xác định theo địa lý ; đây là nơi tiêu biểu cho mạc khải (5,1 : "Bài giảng trên núi"; 15,29 : mạc khải của Đấng Cứu Thế, Đấng nuôi dưỡng dân Người như Môsê xưa kia trong hoang địa ; 28,16 : "ngọn núi" xuất hiện lần thứ ba, để cũng nêu bật tầm quan trọng của mạc khải như thế).

Sự kiện các môn đệ "thấy Đức Giêsu" chỉ được nhắc đến ngắn ngủi ở đây. Điều quan trọng đối với Matthêu là "các ông bái lạy", đây là cách tôn kính mang tính tôn giáo và thậm chí phụng vụ. Thái độ này diễn tả trước những gì sẽ được lời tuyên bố ở c. 18b loan báo về quyền của Đức Giêsu. "Nhưng có mấy ông lại hoài nghi" (c. 17). Ở đây, nỗi ngờ vực đã xảy đến "khi thấy Người" như là Đấng Phục Sinh. Chúng ta phải ngạc nhiên khi thấy phát sinh nỗi ngờ vực, nghĩa là một tình trạng ngần ngại, lưỡng lự, trong bối cảnh lại quá đậm đặc và tiêu biểu này. Phản ứng này xuất hiện nhiều lần trong các bài tường thuật khác về hiện ra. Nỗi hoài nghi được thắng vượt mỗi lần một cách : Đấng Phục Sinh xin các ông cho ăn (Lc 24,41tt) ; Người hiện ra một lần nữa với các môn đệ lúc đầu không tin (Mc 16,14tt) ; Tôma có thể chạm tới các vết thương của Người (Ga 20,24-29). Ta không thấy có gì tương tự ở đây cả. Có lẽ sự hoài nghi này liên hệ đến một thời đại muộn màng hơn : cộng đoàn hôm nay không còn thấy Đức Giêsu bằng mắt trần nữa, họ có thể rơi vào hoài nghi ; họ phải thắng vượt khó khăn này nhờ dựa vào lời của Đấng Phục Sinh. Các lời nói của Đức Kitô và sự vâng phục của các môn đệ với lời Người là cách thế duy nhất giúp vượt qua nỗi hoài nghi.

2. Các lời nói của Đức Giêsu (18-20).

Đứng trước đức tin xen lẫn hoài nghi của các môn đệ, lời Đức Giêsu nói cung cấp câu trả lời. Đấng Phục Sinh không trách các ông về sự bất trung hoặc về nỗi hoài nghi ; thậm chí Người cũng không xua tan nỗi hoài nghi bằng một cử chỉ hoặc một chứng từ bổ sung. Người đến gần các ông và nói. Người từ xa đi đến với các môn đệ, những kẻ vâng phục Người và đang cung kính bái lạy Người. Chỉ mình Người có thể vượt qua khoảng cách bằng cách đi đến với các ông. Vấn đề ở đây là một lời nói và là việc nghe chứ không phải là thấy. Chính lời nói của Đức Giêsu trấn an được các con người đang hoài nghi : Người tự tỏ mình ra trong lời Người nói như là Đấng được đặt để trong quyền bính và nói với uy quyền. Trong tư cách đó, Người hiện diện trong thời gian của thế giới, trong Giáo hội cho đến tận thế.

Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18b). Đức Giêsu khẳng định quan hệ của Người với Thiên Chúa và vị trí hiện nay của Người : chính Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu (so sánh với 9,6.8 ; 11,27 và Đn 7,14), đã ban cho Người tất cả các quyền hành trên trời dưới đất. Do phục sinh, Người đã được đặt làm Đức Chúa trên vũ trụ và làm Thẩm phán vào lúc tận thế. Trong thực tế, bản văn không nói cho biết là Người đã được Chúa Cha đặt để như thế khi nào, nhưng nhấn mạnh rằng quyền lực tối thượng này của Đấng Phục Sinh là vô biên (tất cả) tự nó trong sự viên mãn và trong cường độ của nó : trong không gian, Đấng Phục Sinh hiển trị trên vũ hoàn (trời và đất), như trong Cựu ước, Thiên Chúa được nhìn nhận là Chúa tể trời đất, nghĩa là Đấng Tạo Hóa và bảo toàn tất cả vũ trụ ; và trong thời gian, Ngài hiển trị bây giờ và cho đến tận thế.

Bây giờ, trong tư cách là Đấng đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng mạc khải cánh chung cho biết ý muốn của Thiên Chúa và là Đấng thực hiện dự phóng cứu độ của Ngài. Các môn đệ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng họ được ban cho quyền này.

Từ "vậy" gợi ý : lệnh truyền này là hậu quả của tuyên bố về quyền vũ hoàn của Đức Giêsu, là sứ mạng của Nhóm Mười Một phát xuất từ quyền bính của Đức Kitô. Tuy nhiên, lệnh truyền được ban cho toàn nhóm, điều này cho thấy rằng bổn phận truyền giáo là một nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn chứ không của một vài cá nhân. Uy quyền (c. 18) và sự hiện diện của Đức Giêsu (c. 20) sẽ cho các ông đủ tư cách và uy tín mà chu toàn bổn phận này.

Khi đi rao giảng, các môn đệ không chỉ trình bày, chỉ cống hiến sứ điệp, loan báo Tin mừng, nhưng là kiến tạo một cộng đoàn có quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Tương quan của các môn đệ với Đức Giêsu là kiểu mẫu cho sự hiệp thông với Người mà mọi dân tộc đang được đưa dẫn tới. Kể từ nay, kiểu mẫu này là chuẩn mực cho mọi Kitô hữu : "môn đệ" có thể nói là định nghĩa ngắn nhất của Kitô hữu. Được giao sứ mạng "làm ra các môn đệ", Nhóm Mười Một đang hiện diện ở đây sẽ có thể rút ra từ đó biết bao hệ luận : một đàng, kinh nghiệm sống với Đức Giêsu phải luôn luôn là điểm qui chiếu cho họ trong hoạt động ; đàng khác, tư cách môn đệ không phải là của riêng thuộc về những bạn đồng hành lịch sử của Đức Giêsu trần thế, trái lại đây là tư cách mà kể từ nay mỗi người được mời gọi đi vào. Tất cả đều được mời gọi trở thành "môn đệ Đức Giêsu", vị Thầy duy nhất (x. 23,8.10).

Chiều hướng phổ quát đã được báo trước trong lời nhắc đến Abraham (1,1), trong truyện các đạo sĩ (2,1-12), vị sĩ quan Caphácnaum (8,5-13), bà Canaan (15,21-28), viên sĩ quan canh giữ Đức Giêsu trên đồi Sọ (27,54). Đi đến với các dân tộc đã là chọn lựa của Đức Giêsu, cho dù trong diễn từ truyền giáo (ch. 10), Người đã truyền các môn đệ là chỉ đi đến với các chiên lạc Israel thôi. Tính phổ quát truyền giáo này còn được báo trước ở 24,4 và 26,13, và bây giờ được khẳng định như là ý muốn chính xác của Đức Giêsu. Điều bị cấm trước đây ở 10,5 (anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại) bây giờ được khuyến cáo thi hành (hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ). Nhưng nếu Israel không còn là đối tượng của một sứ mạng đặc biệt, điều này không có nghĩa là Israel bị loại ra khỏi chân trời Phục sinh. Nếu Israel bị kết án, mỗi người Do Thái vẫn có thể đến với cộng đoàn các môn đệ. Sẽ xuất hiện một cộng đoàn phổ quát trong đó mỗi người có một quan hệ trực tiếp và thân tình vừa với Đức Giêsu vừa với những người khác. Hoạt động của các môn đệ là một sự tiếp nối hoạt động của Đức Giêsu (4,23 ; 9,35 ; 11,1).

Để làm cho muôn dân thành môn đệ, hai việc các môn đệ phải làm là "làm phép Rửa" nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi và "giảng dạy". Căn tính mới của Thiên Chúa là căn tính Cha, Con và Thánh Thần, mà người môn đệ bắt đầu quan hệ với qua Bí tích Thánh tẩy. Nhóm Mười Một không được phép mở trường, nhưng tiếp tục học ở "trường" Đức Giêsu : các ông phải giảng dạy, như chính Đức Giêsu đã giảng dạy. Cho dù các ông đã nhận lãnh bổn phận giảng dạy, các ông sẽ phải mãi mãi duy trì chân tính môn đệ, bằng cách nhìn nhận và chấp nhận uy quyền của Đức Giêsu, bằng cách bây giờ tin vào Đức Giêsu như tin vào chính Thiên Chúa.

Đề tài giảng dạy đã có sẵn : các lệnh truyền của Đức Giêsu. Tin mừng Matthêu chứa biết bao lời giảng dạy của Đức Giêsu (trong năm diễn từ), nhưng nhất là giáo huấn của Bài giảng trên núi đáng được xét đến. Trong lệnh truyền giáo, Đấng Phục Sinh đã nói với các môn đệ là "dạy bảo họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (c. 20). Câu này chắc chắn qui về tất cả mọi lời nhắn nhủ, tất cả giáo huấn của Đức Giêsu trong Tin mừng Matthêu, nhưng đặc biệt qui về các lời nhắn nhủ trong Bài giảng trên núi bởi vì Bài giảng này chứa phần lớn những gì Đức Giêsu đã dạy các môn đệ và có một giọng thôi thúc người ta thực hiện các lời nhắn nhủ này (x. 7,13-27).

Tuy nhiên, Đấng nói đây không còn là vị Thầy trần thế nữa, nhưng là Đức Chúa Phục Sinh, "Đấng đã được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất". Bây giờ, với uy quyền của Đấng là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta" trong mức viên mãn của sự Phục sinh, Đức-Giêsu-đang-sống lấy lại giáo huấn của Bài giảng trên núi và nhắc lại cho các thế hệ tương lai.

Mục tiêu không còn phải là chu toàn Lề luật hoặc các Ngôn sứ, nhưng tuân giữ "tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em". Như thế, chính Đức Giêsu đặt mình vào vị trí của "Lề luật hoặc các Ngôn sứ" (x. ngay ở 5,21-48 với các công thức "Anh em đã nghe [Luật] dạy người xưa / Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết"), Người là Đấng lập pháp tối cao, diễn tả trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa. Bây giờ Đức Giêsu thay thế Thiên Chúa khi khẳng định ý muốn của Người. Và chắc chắn ý muốn thần linh này được tập trung nơi điều răn yêu thương, đỉnh cao và sự hoàn tất của Kinh thánh ("Lề luật hoặc các Ngôn sứ" : x. 22,40).

Khi nói "tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em", Đức Giêsu xác định giáo huấn của Người là như một lệnh truyền, như một đòi hỏi cấp bách. Đấng Phục Sinh biến lời của Đức Giêsu trần thế thành chuẩn mực cho Hội thánh mọi thời và "cho đến tận thế". Sứ điệp của Đấng Phục Sinh được coi là đồng nhất với sứ điệp của Đức Giêsu trần thế.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20b) : đây là sự hiệp thông, sự hiệp nhất (cơ bản là riêng tư cá nhân), sự cộng tác. Đây vẫn là thực tại "Emmanuel" của khởi đầu Tin mừng (1,23) nay được diễn tả ra theo chiều kích vũ hoàn. Thực tại Emmanuel này được diễn tả xuyên qua toàn thể Tin mừng : Vào lúc chào đời của Đức Giêsu (1,23) ; trong khi hoạt động, Người hiện diện giữa nhóm môn đệ (9,15 ; 26,18.20.36.38.40 ; x. "Đức Giêsu dẹp yên biển động", 8,23-27; egô eimi, 14,27) ; những lần Người tiếp xúc với người tội lỗi (9,11) và qua cái chết ban ơn cứu chuộc (26,28 ; x. 1,21 ; 17,17 so với Mc 9,19). Mt 28,20 hẳn là câu trả lời chung cuộc cho câu hỏi ấy. Bây giờ Người hứa ở với họ mãi mãi. Đấng là "Đức Chúa" (Kyrios) ban cho các môn đệ cũng một đảm bảo như Thiên Chúa đã ban cho dân Ngài trong Cựu ước. Người không thế chỗ cho các môn đệ, nhưng sẽ hiện diện với họ để nâng đỡ họ bằng sức mạnh, không do các đức tính hay các thành tích của các môn đệ, nhưng do sự trung tín hữu hiệu của Đấng đã đưa các lời hứa trong Kinh thánh đến chỗ hoàn tất. Khi nói "tất cả các ngày", Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ, và nhắm đến tận thế, "lúc kết thúc thời gian của thế giới này".

II. Chiêm ngắm Chúa Giêsu :

Trên núi Galilê (28,16 ; x. 5,1), Đức Giêsu Phục Sinh, đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, tỏ mình ra như là Đấng mạc khải tối hậu của Thiên Chúa và Đấng lập pháp vĩnh viễn, nay cử các môn đệ đi đến với mọi dân tộc. Trong Cựu ước, núi Sinai xuất hiện ra như là quả núi của mạc khải và của giao ước, trên đó Thiên Chúa tự tỏ mình ra và thông ban các điều răn của Ngài (Xh 19,1-24,11). Từ Sinai, dân Israel bắt đầu cuộc hành trình tiến về Đất hứa ; trên núi Galilê, Đức Giêsu đích thân, trong tư cách Đấng Phục Sinh, tức đã đi vào trong đời sống Thiên Chúa, cho thấy đâu là mục tiêu của mỗi người trong "tất cả các dân tộc".

Các lời kết thúc của Đức Giêsu đã đón nhận lấy các nội dung chính của Tin mừng Matthêu về sứ vụ không biên giới của các môn đệ. Điều này còn cho thấy một lần nữa chiều hướng tổng hợp hướng về sứ vụ phổ quát như là nét tiêu biểu của Tin mừng này.

III. Gợi ý bài giảng :

1. Thiên Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm.

Không dễ gì mà tiếp cận với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng lễ hôm nay. Đây là một trong những đại lễ dường như ở hơi xa đời sống chúng ta. Tuy vậy, chúng ta vẫn nhớ những bài học giáo lý khi còn bé bảo rằng Thiên Chúa Ba Ngôi bao trùm trọn vẹn đời sống chúng ta ; và ý tưởng này vẫn cung cấp sức mạnh và sự tin tưởng cho chúng ta và nhắc chúng ta nhớ rằng đây là một thực tại sống động. Các bài lời Chúa hôm nay góp phần làm sáng tỏ mầu nhiệm này. Trong bài đọc thứ nhất, Môsê đã mời gọi dân chúng : "Anh em cứ hỏi những thời xa xưa". Nếu tôi đi ngược lại thời gian cho đến "những thời xa xưa", tôi cũng sẽ sống lại kinh nghiệm của dân Israel : tôi ghi nhận sự hiện diện thường trực của Thiên Chúa, Đấng đã chọn lựa tôi từ thuở đời đời, rồi vẫn hiện diện trong cuộc sống thường ngày tầm thường của tôi, tỏ mình ra qua những dấu chỉ, nâng đỡ tôi trong các thử thách, bung mở các việc kỳ diệu ra trong thế giới.

2. Ở trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong lòng.

Khi đó, ở trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong lòng, có nghĩa là trước tiên ý thức rằng lịch sử chúng ta có gốc rễ rất xa, từ bao đời vẫn ở trong tay Thiên Chúa, Ngài vẫn dẫn dắt cuộc sống chúng ta, vì trung thành với lời đã hứa.

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô nhắc lại rằng vị Thiên Chúa này, Đấng ban sự sống, đã thổi Thần Khí của Ngài vào chúng ta, để nhờ Thần Khí, Ngài giải thoát chúng ta khỏi kiếp nô lệ và nỗi sợ hãi, và làm cho chúng ta thành con cái Ngài, khiến chúng ta có thể gọi Ngài là Cha. Ở trong lòng Ba Ngôi và có Ba Ngôi trong lòng, khi đó, cũng có nghĩa là ý thức về ân huệ Thánh Thần mà Thiên Chúa đã ban cho ta, để cho Ngài dẫn dắt và biến đổi đời sống chúng ta, sống kinh nghiệm tự do nội tâm, một kinh nghiệm phát sinh từ cảm nhận chúng ta được yêu thương như là những người con và là kinh nghiệm mạnh hơn mọi nỗi sợ hãi, mọi đau khổ.

3. Đức Giêsu Phục Sinh sai phái các Tông đồ.

Cuối cùng, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với các Tông đồ, truyền họ ra đi và tiếp nối công trình của Người nhân danh Ba Ngôi vị thần linh, bảo đảm với họ rằng Người sẽ hiện diện với họ mọi ngày cho đến tận thế. Ở trong lòng Ba Ngôi và có Ba Ngôi trong lòng, cuối cùng, có nghĩa là có cặp mắt có khả năng nhận ra Đức Giêsu, vị Thiên Chúa làm người, ngay tại những nơi của đời sống mà Người cho ta làm điểm hẹn, và ra đi trong Thánh Thần, để bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa cho mỗi người, để làm cho mọi người sống nhờ hơi thở của Thiên Chúa.

IV. Lời cầu chung :

Mở đầu : Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta bằng sự hiện diện của cả ba Đấng và chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Thiên Chúa Ba Ngôi đã tự mạc khải cho chúng ta như là cộng đoàn hoàn hảo của Ba Ngôi vị tự do và thánh thiện. Để Họi thánh, các gia đình và các giáo xứ chúng ta cũng hiệp nhất và thánh thiện theo gương Ba Ngôi, chúng ta cùng cầu nguyện.

2. Đức Kitô, bạn của loài người, đã cứu độ loài người bằng bửu huyết của Người. Để cho toàn thể nhân loại biết đến với Đức Giêsu như là vị thầy thuốc chữa trị các bệnh tật tâm hồn, chúng ta cùng cầu nguyện.

3. Chúa Thánh Thần chính là sức mạnh và tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Để Chúa Thánh Thần đến giữa giáo xứ chúng ta với quyền năng chan hòa sức lực và thánh hóa, chúng ta cùng cầu nguyện.

Lời kết : Lạy Ba Ngôi chí thánh, Chúa thấy các bần khốn của con người : xin nâng đỡ những kẻ yếu nhược, trợ giúp các người nghèo khổ, bệnh tật, giải thoát những kẻ bị áp bức, củng cố những người chán nản, giúp mọi người tin vào tình yêu của Chúa. Nhờ đó, chúng con như đã được nếm trước đời sốngChúa vẫn sống trong vinh quang đời đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

HTMV Khoá 10 – ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn