Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Thứ Bảy Tuần III Thường Niên A

Tin mừng Mc 4: 35-41 Biển, theo quan niệm của người Do Thái, là nơi ẩn náu của kẻ thù nghịch, chống lại Thiên Chúa và con người.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

THỨ BẢY TUẦN III THƯỜNG NIÊN A





Tin mừng Mc 4: 35-41


Noel Quession - Chú Giải

Bài đọc I: NĂM LẺ: Dt 11,1-2.8-10

Trang sách chúng ta sắp đọc hôm nay bắt đầu một cuộc triển khai khá dài về chủ đề đức tin. Tác gỉa sắp trưng dẫn những mẫu gương về "nhửng người của niềm tin" trong Cựu Ước.

Đức tin là cốt yếu những thực tại người ta mong đợi, là bằng chứng những điều bí ẩn.

Công thức đáng ngạc nhiên, không nên làm mất vẻ tươi thắm bằng bất cứ chú thích nào thuộc loại quá suy lý nhưng đễ tự nó vang lên bất tận.

Đức tin đúng là một sự mâu thuẫn: Nó làm cho chúng ta chiếm hữu " điều chưa có! Nó cho chúng ta biết điều ở ngoài tầm chộp bắt của giác quan.

Đức tin, chính là Thiên Chúa trong con người, là nước trời đã bắt đầu, là niềm vui muôn thuở đã hiện diện giữa cái đen tối thường ngày.

Đức tin chính là một sức sống phi thường, là cuộn mạo hiểm cùng với Đấng vô hình.

Đức tin, chính là sự thân quen với người khác, nhưng thực tại vô hình rộng rãi vây quanh.

Đức tin, chính là cách nhận thực mới, bằng "những cặp mắt mới" để thấy mọi sự.

Người xưa và nay thông minh không hơn không kém nhau, đã làm cho đời họ có một "ý nghĩa" bởi đức tin.

Hàng tỉ người, nhất là những thế kỷ sau này lại cho rằng đời sống không có ý nghĩa đó... hay chẳng có ý nghĩa gì... chẳng đi đến đâu!

Lạy Chúa, xin giúp chúng con nên những người có đức tin những người biết hi vọng và chiếm hữu điều còn trong hi vọng.

Nhờ đức tin Abraham đáp lại tiếng Chúa gọi... ông ra đi mà không biết định đi đâu... ông mong đợi thành trì có nền móng mà Thiên Chúa là kiến trúc sư và là Đấng sáng lập.

Tin, là tín thác vào lời của một người... là lên đường...là tiến vào đêm tối để về với ánh sáng... là mong đợi một thành trì hoàn hảo mà tất cả được xây dựng trên tình yêu.

Tin cũng là làm việc trong ý nghĩa" này mà chưa thấy được kết quả... nhưng tin chắc là đi đúng đường và tự xây dựng, vì có Thiên Chúa hành động! vừa là kiến trúc sư Người lập chương trình đó ngày này qua ngày khác.

Nhờ đức tin, mà ngay cả bà Sara son sẻ được sức mang thai, mặc dầu bà đã già, bởi vì bà tin rằng Đấng đã hứa sẽ trung tín giữ lời.

Tin vào sự phong nhiêu của đời sống tôi, bất kể những mặt ngoài trái nghịch. Làm việc cho sự phong nhiêu đó, theo các phương tiện của tôi, và tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Khi người ta làm hết mọi sự như là không đợi chờ gì ở Thiên Chúa, còn phải đợi chờ tất cả ở Chúa như là người ta không thể tự mình mà làm được gì...

Chính trong đức tin mà tất cả những kẻ ấy đã chết trước khi nhận lãnh điều đã hứa, nhưng được nhìn thấy và đón chào từ đàng xa... Nhưng hiện giờ họ ước mong một quê hương hoàn hảo hơn, tức là quê trời.

"Cái lều tốt đẹp của đức tin " sẽ đi tới chỗ chấp nhận cái chết. Khi nghĩ rằng người ta không phải rơi vào hư vô, nhưng vào tay Cha. Người ta giã từ một quê hương, vì một quê hương hoàn hảo hơn.

Bài đọc II: NĂM CHẴN: 2 Sm 12,1-7. 10-17

Thiên Chúa sai ngôn sứ Nathan đến cùng Đa vít.

Chính vị ngôn sứ này đã đến loan báo cho Đa vít những lời hứa kỳ diệu của Thiên Chúa. Giờ đây, ông lại ngang nhiên đến gặp nhà vua với một sứ vụ khác hẳn. Các ngôn sứ vẫn là lương tâm sống động của Dân Chúa.

Nhưng như người ta nói, ta nên ghi nhận sự khôn khéo của nhà giáo dục và tính tế nhị nơi Nathan. Ong không lên án cách trắng trợn. Ong kể một dụ ngôn. Ong hướng dẫn nhà vua tự mình nhận thức và xét xử lấy tội phạm của mình.

Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa. Xin giúp chúng luôn tôn trọng những bước tiến từ từ của lương tâm.

Ngài chính là người đó.

Khi lương tâm của Đavít đã thúc đẩy, vị ngôn sứ chỉ còn kiểm nhận và xác thực: "Điều Ngài vừa nói là đúng: Ngài chính là người đó".

Câu chuyện thú vị về "người nghèo và người giàu" trên đây, một lần nữa nhắc lại cho ta hay, Thiên Chúa rõ ràng bênh vực người nghèo, kẻ bị áp bức, các nạn nhân. Nếu điều đô làm ta khó chịu, thì đó là do tự ta xếp mình vào số những "người giàu". Cũng vậy, nếu ta cảm thấy bực bội trước dụ ngôn con chiên thứ một trăm mà người chăn chiên bỏ lại chín mươi chín con khác để tìm lại một, thì đó cũng là do tự ta xếp mình vào số "99". Mặc kệ ta phản ứng sao cũng được!

Lạy Chúa, xin cảm tạ Chúa vì luôn bênh vực người nghèo khổ!

Từ đây tâm hồn, con dâng lời tạ ơn Chúa!

Xin giúp con ý thức những nghèo hèn của con.

Xin giúp con đừng bao giờ sa vào khuynh hướng tồi tệ khuynh hướng mà chúng con, Đavít và mọi người thường mắc phải là chà đạp anh em mình. Con người là nạn nhân của con người. Người mạnh đàn áp kẻ yếu. Người giàu chèn ép kẻ nghèo. Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con.

Ngài chính là người đó!

Có phải là chính tôi? Hình thức đàn áp kẻ khác của tôi là gì? Sử dụng kẻ nhằm gây lợi riêng cho tôi? Kết án Đavít thì quá dễ thôi.

Tôi đã phạm tội đến Chúa, Chúa cũng đã tha tội cho ngài rồi.

Sự thánh thiện đích thực của Đavít, là biết nhìn nhận tội lỗi mình! "ôi lạy Chúa, xin tạo cho tôi một trái tim trong sạch. Xin ban lại cho tôi niềm vui ơn cứu độ. Xin cứu thoát khỏi đền nợ máu".

Ơ đây đã báo trước bí tích sám hối với vai trò của hối nhân,vai trò của thừa tác viên giải tội, kẻ lắng nghe lời thú tội vận chuyển ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Chỉ Thiên Chúa mới có thể biến đổi tâm hồn tội nhân: nhưng cần phải nhờ một cuộc đối thoại, cuộc nói chuyện Nathan, để Đavít "tư nhận biết mình" và đưa ra một phán quyết khách quan hơn cho chính mình. "Trên trời sẽ vui mừng trước một tội nhân hoán cải, hơn là chín mươi chín người công chính.

Đề tài về sự tha thứ trên đây trải dài từ đầu đến cuối cuốn Kinh thánh. Lạy Chúa, đó là một mạc khải về Chúa.

Tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con".

Trong kinh thánh, ý nghĩa đích thực của tội, không chỉ là một tình cảm về "tình trạng tội lỗi" theo phương diện luân lý, cũng không chỉ là sự lỗi phạm một lề luật. Nhưng tội lỗi thực sự chỉ được hiểu cách sâu xa trong khuôn khổ những tương quan cá nhân giữa tội nhân và Thiên Chúa.

Để phạm tội thực sự, cần phải là một vị thánh, cần phải rất nhạy cảm với Thiên Chúa. Nhiều người, vì thiếu tình yêu đối với Chúa, nên vẫn dừng lại ở mức độ sai phạm luân lý.

Lạy Chúa, xin làm cho chúng con nhận biết tình yêu Chúa. Xin ban cho chúng con ý thức về tội.

BÀI TIN MỪNG: Mc 4,35-41

Sau một loạt những dụ ngôn, Marcô đề cập đến một chuỗi những phép lạ. Bốn phép lạ mà Marcô trích dẫn ở đây không được thực hiện trước đám đông quần chúng, nhưng chỉ dẫn ra trước môn đệ, nhằm giáo dục các ông. Chỉ có một ít dụ ngôn, mà Marcô đã chăn chú nhắc nhở ta nhiều lần: Còn khi ở riêng, Chúa Giêsu đã giải nghĩa tất cả cho môn đệ của Người" '(Mc 4,10 + 4,34).

Chúa Giêsu đã giảng dạy dân chúng... Khi chiều đến, Người phán cùng các môn đệ rằng: "Chúng ta hãy sang bờ bên kia".

Các ông giải tán đám đông, vì Người đang ở dưới thuyền, nên các ông cho Người đi.

Tôi tưởng tượng ra những giây phút thân mật trên.

Đó là những khoảnh khắc êm ả hơn, để Chúa Giêsu có dịp hiện diện một mình cùng với Nhóm nhỏ của Người.

Chúa Giêsu đã xếp đặt và dự kiến những giây phút này: "Chúng ta hãy sang bờ bên kia". Người rời Galilêa, nơi mà dân chúng báo động và tìm cách quấy rầy Người. Từ phía dân ngoại, Người tiến đến những người xứ Giêrasa, một xứ mới mà Lời Thiên Chúa chưa được vang lên, miền truyền giáo... ở đó, đã tiềm tàng những tín hữu mới và hứa hẹn những cuộc trở lại mới cần thực hiện.

Và Người trẩy đi. "cùng với các môn đệ của Người". Họ sẽ có một chút thời gian hơn để nói năng với suy nghĩ chín chắn, cách thanh thản, xa hẳn dân chúng.
Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, xin hãy nâng bước xuống thuyền của con. Chúng ta cùng trẩy đi.

Chợt có một cơn bão lớn. Những lớp sóng nã vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước.

Thật là kinh hồn!

Không. Họ trẩy đi không phải chỉ để gặp cảnh trên?

Thiên Chúa không dự kiến như thế. Cơn gió mạnh đang vỗ đập trên chiếc buồm và làm cho con thuyền nghiêng ngã: điều mà người ta không ngờ được. Xem ra như biển hồ Tibêriát quen thuộc với những cuộc tấn công dữ dội kiểu này, mà người ta không ngờ. Thiên Chúa đánh lạc hướng.

Thiên Chúa gây bối rối!

Tôi có chấp thuận để cho Thiên Chúa hướng dẫn tôi, đến nỗi có thể không biết Người sẽ dẫn tôi đi đâu không?

Còn Người thì ở đàng lái, dựa gối mà ngủ.

Thất là chưng hửng!

Xét theo phương diện nhân loại, để đạt được điều đó, nghĩa là để có thể ngủ nghỉ êm ả giữa trận phong ba như thế, thì cần:

Hoặc là phải Có một sự quân bình tự nhiên phi thường.

Hay là phải vô cùng mệt mỏi.

Tôi chiêm ngắm Chúa Giêsu ngủ, đầu đặt trên gối, phía dưới thuyền.

Các ông đánh thức Người và nói: "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?"

Quang cảnh thật ngoạn mục.

Chúng ta lập lại lời kêu xin: một tiếng kêu la.... một sự thân tình dạn dĩ …một lời chất vấn... như chúng ta vẫn thường có cảm tưởng như thế…

Lạy Chúa. Chúa ngủ sao? Xin hãy thức dậy.

Trỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi, hãy lặng đi". Tức thì gió ngưng, biển lặng như tờ.

Lạy Chúa, con thường mơ ước đến cảnh yên lặng như tờ tiếp theo như thế.

Với Chúa, làm sao con phải sợ hãi?

Chúa Giêsu nói với các ông: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?". Bấy giờ các ông kinh hãi và nói với nhau rằng: Người là ai mà cả gió lẫn biển đều vâng lệnh Người?".

Đây là lần đầu tiên Marcô ghi nhận câu hỏi này trong Nhóm môn đệ. Câu hỏi chủ yếu về con người sâu rắc của người Thầy trẻ trung này, mà các ông cùng đang đi thuyền: Người là ai? Phiêu lưu gì đây? Người sẽ dẫn chúng ta tới đâu? Lúc đó, không có câu trả lời... khiến họ kinh hãi. Ta cũng thông cảm cho họ.


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
Mc 4,35-41
Xem lại CN 12 TN B
Chúa dẹp yên sóng gió

HOÀN CẢNH:

Sau những dụ ngôn về Nước Thiên Chúa (4,1-33), thánh Mác-cô ghi lại một số phép lạ. Phép lạ Chúa dẹp yên sóng gió trong bái Tin Mừng hôm nay là một trong những phép lạ Chúa làm, để tỏ uy quyền thiên sai của Người.

Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại phép lạ Đức Giê-su dẹp yên sóng gió để trình bày sứ vụ cứu thế của Người.

NHẬN THỨC VÀ ÁP DỤNG:

1. Biển, theo quan niệm của người Do Thái, là nơi hỗn mang. Từ đó phát xuất những sức mạnh đối nghịch với Thiên Chúa và con người. Việc Chúa dẹp yên sóng gió trên biển tỏ bày quyền năng của Chúa trên sự dữ.

2. Việc Chúa Giê-su nằm ngủ, gợi đến sự vắng bóng của Chúa. Chúa nằm ngủ trên thuyền là hính bóng của Hội Thánh tại thế: vẫn có Chúa hiện diện nhưng bề ngoài ta không cảm thấy. Sự hiện của Chúa nơi Hội Thánh, chỉ có thể nhìn thấy qua các dấu chỉ và qua con mắt đức tin.

3. Chúa lên thuyền và truyền lệnh cho các tông đồ chở sang bờ bên kia. Chi tiết này cho thấy Chúa trao quyền điều khiển Hội Thánh cho các Tông Đồ để các ngài lèo lái Hội Thánh đến bến bình an là Nước Trời.

4. Con thuyền sang bờ bên kia, là hình ảnh Hội Thánh vượt biển trần gian. Cuộc hành trình vượt biển này đầy cam go và thử thách.

5. Có Chúa hiện diện trong thế ngủ (hiện diện cách vô hình), các Tông Đồ đã không nhận ra quyền năng của Người, nên các ông hoảng sợ khi gặp sóng gió bão táp.
Chúa vẫn hiện diện trong Hội Thánh với tư cách là Đầu Nhiệm Thể. Bất cứ lúc nào ta tin tưởng vào Người, ta liền được hiệp nhất với Người, được hiệp thông quyền năng như Người:

- Khi gặp đau khổ mà tin vào Chúa, ta sẽ cùng được Người thống trị.

- Khi phải chết mà tin vào Chúa, ta sẽ cùng được phục sinh với Người.

- Khi còn sống mà tin vào Chúa, thì ta sẽ cảm nghiệm được hạnh phúc với Chúa ở đời này và đời sau.

6. Chi tiết "Chúa thức dậy, ngăm đe gió …" gợi đến việc Chúa phục sinh.

Lời Chúa ngăm đe sóng và biển, giống như lời Chúa vẫn sử dụng khi trừ quỷ, lời đó diễn tả việc Chúa chiến thắng trên ma quỷ sau khi Chúa phục sinh.

7. Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta xác tín hơn vào sự hiện diện cách vô hình của Chúa trong Hội Thánh và an tâm hơn khi gặp thử thách vì luôn có Chúa hiện diện để gìn giữ, che chở và giúp đỡ ta trên đường về quê trời.

 

Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn