Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Thứ Hai Tuần VII Thường Niên B

Tin mừng Mc 9: 14-29: Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu chuyện Đức Giê-su trừ quỷ và chữa lành bệnh động kinh cho một em bé để trình bày sứ vụ cứu thế của Người...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 20 THÁNG 02

THỨ HAI TUẦN VII THƯỜNG NIÊN A



 
Tin mừng Mc 9: 14-29

Noel Quession - Chú Giải
 
Bài đọc. I: NĂM LẺ: Hc 1.1-10

"Giêsu, con của Sira", tác giả cuốn sách này mà người ta còn gọi là "Giáo sĩ" là một kỷ lục thuộc gia đình khá giả Là người dân ở Giêrusalem, nơi ông đã sống vào khoảng năm 200 trước công nguyên, ông đã du lịch sang đế quốc Hi Lạp, và như giải cấp cầm quyền thời đó, ông bị cám dỗ bởi "văn minh Hy Lạp" Cởi mở với những trào lưu tư tưởng nhân bản, ông thử tổng hợp văn minh Hy Lạp này với các truyền thống tôn giáo ông đã nhận được từ các tổ tiên Do Thái của mình.

Ben Sira có một tư tưởng vững chắc và quân bình.

Ong là chứng nhân quí giá của những phong tục và giáo thuyết Do Thái giáo, một ít trước thời đại anh hùng vì bị bách hại của nhà Macabêô.

Sách này cho chúng ta một diễn tả cổ điển về tâm hồn đạo đức Do Thái còn kéo dài thời Chúa Kitô, trong mục trung bình của dân chúng, ngoài các phe nhóm kình chống nhau như Biệt phái và Sađốc.

Trong nhiều đoạn, chúng ta sẽ thấy là đã có một chút Tin Mừng.

Mọi sự khôn ngoan đều bởi Thiên Chúa và luôn luôn đã ở với Người, và có từ trước muôn thuở.

Đây là câu đầu cuốn sách, và là chìa khóa của trọn phần còn lại. Ben Sira có một chủ trương nhân bản vững mà ông gọi là "khôn ngoan " nhưng không tách rời đức tin của ông. Đối với ông thành công của con người, nghệ thuật sống đẹp, là bởi sự phù hợp với ý tưởng của Thiên Chúa.

Chỉ có một Đấng là khấn ngoan, rất đỗi đáng sợ Đấng ngự trên ngai của Người.

Nhít thế "sự kính sợ Thiên Chúa" (thường đồng nghĩa với tình yêu Thiên Chúa) là người của "sự khôn ngoan". Theo hình bóng, ta lại không thể đoán ra là sự nhập thể đã lộ diện đó sao.? Con người hoàn hảo cũng sẽ là chính khôn ngoan của Thiên Chúa. Và, trong khúc dạo đầu của Sira chúng ta nghe như loan báo Tiên Ngôn của thánh Gioan: Mọi sự khôn ngoan đều bởi Chúa…"Lúc khởi nguyên đã có ngôi lời.."

Và luôn luôn đã ở với Người... "và lời ở nơi Thiên Chúa".

Chỉ có một Đấng là khôn ngoan….và lời là Thiên Chúa ( Ga 1 ,1 )

Chính Người đã tạo dựng sự khôn ngoan, Người đã nhìn ngắm và đếm được (khôn ngoan) và Người đã đổ tràn trên mọi việc Người làm, trên mọi xác phàm chiếu theo ơn huệ của Người và Người ban phát xuống cho những ai (kính sợ Người).

Mọi sự đã nhờ Người mà thành sự, và không Người thì không gì đã thành sự. Điều đã thành sự nơi Người là sự sống và sự sống là sự sáng cho nhân loại (Ga 1,3). "Do sung mãn của Người mà ta nhận được mọi sự" (Ga 1,16).

Đây là một cái nhìn lạc quan về con người, xây nền trên. niềm xác tín của Thiên Chúa đã "đổ tràn trên mọi sinh linh " một sự nào đó thuộc về Người, một sự thông phần vào sự khôn ngoan và Thánh Thần của Người:

1. Tôi có xác tín rằng "tìm Chúa" cũng là lớn lên trong "nhân tính " không? Tôi góp phần nào vào kinh nguyện, vào việc chiêm ngắm sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong chính Người?

2. Ngượ lại, tôi có xác tín rằng "lớn lên trong nhân tính" là tiến lại gần Chúa không? Mọi nỗ lực để thăng tiến để nhân hóa đích thực, dằu cho tạm thời xem ra không biết đến Thiên Chúa vẫn là tiến về khôn ngoan của Thiên Chúa.

Tôi đóng góp phần như thế nào cho công việc vun đắp con người, nỗ lực luân lý và thăng tiến cách hữu hiệu anh em tôi, cũng như bản thân tôi?

Ai đếm được cát biển, giọt mưa, và số ngày từ muôn đời: Ai đã đó được trời cao đất rộng và biển sâu?... Sự khôn ngoan được tác tạo trước muôn loài và trí khôn được dựng nên từ muôn kiếp. Ai hiểu được mưu toan của sự khôn ngoan?

Khôn ngoan... thông hiểu... tinh tế... khoa học đều là những ân huệ của Thiên Chúa?

Bài đọc II: NĂM CHẴN: Gc 3,3-18

Thưa anh em, ai là người khôn ngoan hiểu biết? Người ấy hay Dùng đời sống tốt đẹp mà chứng tỏ rằng những hành động của họ phát xuất từ lòng hiền hậu vâ đức khôn ngoan.

Thánh Giacôbê, Một con người thực tiễn, không thích Nguyên tắc rờm rà. Hôm nay, Người cống hiến cho ta một số dấu chứng rất"cự thể" và hiển nhiên để ta có thể phân định sự khôn ngoan chính hiệu với khôn ngoan giả tạo ở thánh Giacôbê phản ứng lại các người chú giải sai các thư thánh Phao lô:. Đức tin trước tiên không phải được hình thành bởi những nhận xét của lý trí.

Trí khôn chắc chắn rất có ích lợi những tiêu chuẩn chính của đức tin là hệ tại trong cuộc sống: hạnh kiểm của ta làm sao? hành vi chúng ta thế nào? Có thể có một đức tin vững mạnh trong một tâm hồn khiêm tốn, không có tư tưởng cao siêụ, hơn là trong não trạng của một thần học gia hay một người trí thức.

Lạy Chúa ước gì cuộc sống con, các cử chỉ hành vi của con, được tràn đầy sự khôn ngoan của Chúa. Lạy Chúa, chớ gì hai tay con, thân xác con, các cộng tác thường ngày của con, các cuộc đối thoại và mọi giao tế nhân loại của con được đượm nhuần sự khôn ngoan của Chúa… "được thực hiện tốt với sử' dịu dàng cua đức khôn ngoan.

Nếu trong lòng anh em có sự ghen tương (chua chát ) và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại...Sự khôn ngoan đó không phải từ trời cao ban xuống: nó là của thế gian, của con người tự nhiên của ma quỉ.

Thật rõ ràng và chính trực: Thánh nhân cũng lập lại lời thánh Gioan: người ta không thể yêu mến Thiên Chúa nếu không yêu thương anh em mình. Đức ái, theo Tin Mừng, là tiêu chuẩn của đức khôn ngoan. Chắc chúng ta còn nhớ, Đức Giêsu đã quả quyết ràng chúng ta sẽ bị đoán xét về đức ái (Ngày chung thẩm Mt 25).

Đức tin chân chính của ta được xác minh theo khả năng mà nó có thể giúp ta tạo ra chung quanh mình một hệ thống liên hệ giữa các cá nhân với nhau, một mạng lưới tình thương.

Chính lúc ta chiều theo sự ghen tuông và các cuộc tranh chấp, là chúng ta làm ngược lại... thực ra là khi ta không yêu thương.

Lạy Thiên Chúa của con, chúng con cần tới Chúa biết bao để thực hiện chương trình này Lạy Chúa, xin biến đổi tâm hồn vị kỷ của con trở nên tâm hồn đầy yêu thương.

Trái lại,. đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên thanh khiết , "hiếu hòa", "khoan dung", "mềm dẻo", "đầy từ bi" và sinh nhiều hoa "thơm trái tốt".

Phải có thời giờ để cho các tiếng này lắng đọng tận thâm tâm mình, từ từ, từng giọt một "Thanh khiết", khoan dung, 'hiếu hòa", "mềm dẻo", từ bi , sinh nhiều hoa trái: Như thế, đặc tính căn bản của Kitô hữu phải là sự dịu hiền, không mưu mô, kiêu hãnh, cuộng tín Người khôn ngoan đích thực cố gắng sống thông hiệp với anh em mình, cũng như với kẻ nghịch thù... với đấng bề trên cũng như với kẻ dưới... với người đồng quan điểm cũng như người bất đồng quan điểm với mình. Phải chăng, đó là ý nghĩa mạnh mẽ của sự "khoan dung", "mềm dẻo"?

Người xây dựng "hòa bình" thu hoạch được hoa trái đã gieo trồng hoa bình là cuộc đời công chính".

Với các tiêu chuẩn ấy, tôi kiểm điểm ngày sống của tôi.

BÀI TIN MỪNG: Mc 9,14-29

Tôi đem đến cùng Thầy đứa con trai tôi đang bị quỷ câm ám. Khi quỷ đột nhập vào nó, thì vật nó ngã xuống đất, và nó xùi bọt mép, nghiến răng và cứng đờ ra... Quỷ thường xô nó vào lửa, vào nước để giết nó.

Các chi tiết trên khiến ta nghĩ đến một thứ động kinh.

Ta đã thường ghi nhận, người thời xưa không có những các chẩn bệnh theo phương pháp y học chính xác như chúng ta ngày nay. Họ gán cho "ma quy" tất cả những gì tác hại con ngườì cách dị kỳ hạn. Đàng khác, đọc tiếp trình thuật ta sẽ thấy đứa trẻ bị gây thương tổn hai thứ:

Một đàng bị chứng động kinh,

Đàng khác bị quỷ đột nhập.

Để chữa trị hữu liệu Chúa Giêsu cũng dùng hai thì khác nhau:

Trước tiên là trừ quỷ, giải thoát đứa trẻ khỏi "thần ô uế" khiến nó ngất xỉu như đã chết, rồi cuối cùng mới chữa hết bệnh được thực hiện cách đơn sơ hơn, theo cách thường dùng chữa lành các chứng bệnh khác (Đức Gtêsu cầm tay và nâng nó động đậy).

Tôi đã xin các môn đệ Thầy trừ quỷ, nhưng họ bất lực… Lúc đó, Chúa Giêsu cất tiếng đáp lại: hỡi thế hệ cứng lòng tin, Ta còn ở giữa các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa?".

Xem ra phép lạ này được thuật lại, để làm nổi bật tính tương phản giữa sự bất lực của các môn đệ và quyền năng của Đức Giêsu.

Rõ ràng, Đức Giêsu cảm thấy khổ đau. Trong những lời Người thốt ra, có cả một nỗi thất vọng. Đức Giêsu thật cô đơn, không được thông cảm, không được nhận biết. Ngay cả các môn đệ Người cũng thiếu lòng tin! Và ta có cảm thông như Người đang vội vã từ bỏ nhóm người khó kham nối này.

Điều đó giúp ta tiến sâu vào trong tâm hồn Đức Giêsu.

Càng thấy Người hành xử như con người, cuối cùng ta càng thấy việc "Thiên Chúa làm người là rất tự nhiên. Nhưng ta cũng không còn nhận ra giá trị cao cả của "công cuộc nhập thể" này nữa. Thực ra, đó là công việc tử hủy mình, tự giam cầm một việc "xuống dốc": "Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế". Đúng thế, ta không nên hiểu những lời này theo ý nghĩa không gian. Nhưng đối với Đức Giêsu, đó là những giây phút mà "thân phận con người " đã bắt Người phải cực kỳ đau khổ vì những giới hạn ràng buộc nơi bản thân, khổ tâm do cuộc sống chung đụng tạo ra. "Ta còn phải ở giữa các ngươi đến bao giờ' nữa?"

Với kẻ nào tin, thì mọi sự đều có thể được Tôi tin. Xin Thầy trợ giúp lòng tin yếu kém của tôi.

Phải, điều Đức Giêsu cần, đó là Đức tin. Điều làm Người rất khổ tâm là những kẻ vây quanh Người, lại không tin. Chính Người biết ràng, Đức tin có khả năng làm những điều kỳ diệu biết bao!

Người Cha đứa bé đoán biết điều đó. Và trước lời mời lời gọi của Đức Giêsu, ông đã thốt lên một lời "tuyên xưng Đức tin đáng khâm phục: đáng phục, vì lời đó đầy vẻ khiêm hạ. Vâng, tôi tin! Nhưng, lạy Thầy, xin Thầy trợ giúp lòng tin yếu kém của tôi, vì tôi cảm nhận mình tin chưa đủ!"

Tại sao chúng con lại không thể trừ được nó. Loại đó chỉ có thể trừ được nhờ lời cầu nguyện.

Sức mạnh của Đức tin là nhờ sức mạnh của cầu nguyện.

Xét về phường diện loài người, thì cơ bản ngay các tông đồ cũng không có khả năng làm một việc linh thiêng nào hết. Chính Thiên Chúa đã ban cho các ông quyền năng, và trong cầu nguyện các ông mới gặp được nguồn phát sinh ra quyền năng của mình.

Xét về phương diện loài người, thì cơ bản ngay các tông đồ cũng không có khả đăng làm một việc linh thiêng nào hết. Chính Thiên Chúa đã ban cho các ông quyền năng, và trong cầu nguyện, các ông mới gặp được nguồn phát sinh ra quyền năng của mình.

Quỷ xuất khỏi nó và đứa trẻ ra như chết, khiến đám đông nói: "Nó chết rồi". Nhưng Chúa Giêsu cầm tay nó nâng dậy, và nó đứng lên.

Phép lạ này mang một sắc thái vượt qua: chết và sống lại. Điều đó gợi lên sự bất lực triệt để của con người, mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể giải thoát ta khỏi tình trạng ấy. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể thắng nổi cái định mệnh cuối cùng và cốt yếu: chỉ có Đức tin và những lời cầu nguyện khiêm hạ mới có thể giải thoát chúng ta khỏi định mệnh và sự sợ hãi đó.


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

Chúa Giê-su chữa người bị động kinh.

HOÀN CẢNH:

Từ trên núi đi xuống, Đức Giê-su và ba môn đệ thân tín, thấy dân chúng quây quần chung quanh chín môn đệ kia, và thấy các kinh sư đang tranh luận với các ngài về việc các môn đệ bất lực không trừ quỷ để chữa lành cho một em bé bị quỷ ám vá bị động kinh, Đức Giê-su bày tỏ sứ vụ cứu thế của Người qua việc chữa lành cho em bé này.

Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu chuyện Đức Giê-su trừ quỷ và chữa lành bệnh động kinh cho một em bé để trình bày sứ vụ cứu thế của Người.

TÌM HIỂU:

14-15 "Khi Đức Giê-su và ba môn đệ trở lại …":

Hai câu này giới thiệu hoàn cảnh và nhân vật trong câu chuyện, nhưng Chúa Giê-su là nhân vật quan trọng, vì Người thu hút dân chúng.

16 "… Anh em tranh luận gì với họ thế?":

Câu hỏi được đặt ra không phải để được trả lời, nhưng là để khơi dậy và vào đề của câu chuyện.

17-18 "Thưa Thầy, tôi đã đem con trai tôi …":

Chúa hỏi các môn đệ, nhưng người cha của em bé trai bị quỷ ám đã vội vã trả lời ngay. Điều này muốn nói lên hoàn cảnh đáng thương, vì em bé đang đau đớn cần phải được cứu giúp. Đồng thời cũng muốn nói lên một đàng về sự bất lực của các môn đệ và đàng khác về uy quyền của Đức Giê-su trên ma quỷ.

19 "Oi thế hệ cứng lòng, không có lòng tin …":

Lời đáp của Đức Giê-su có vẻ khiển trách vì kém lòng tin, nhưng thực sự lời này muốn nói lên rằng để chiến thắng ma quỷ, cần phải có lòng tin.

20 "Người ta đem nó lại cho Người …":

Thái độ khiếp đảm của em bé bị quỷ ám, nói lên uy quyền của Đức Giê-su trên ma quỷ.

21 "Người hỏi cha nó …":

Chúa đặt câu hỏi để khơi dậy lòng tin của người cha, vì để được đón nhận ơn cứu độ của Chúa thì phải có đức tin.

22 "Ong ấy đáp …":

Qua câu trả lời, người cha của em bé đã bắt đầu tin vào Đức Giê-su; vì có tin ông mới xin Chúa chữa trị cho con ông.

23 "Đức Giê-su nói với ông …":

Lời nói khiển trách của Đức Giê-su đối với người cha của em bé, vừa có tác dụng đòi hỏi niềm tin của người cha, vừa để trình bày quyền năng của Người.

24 "Lập tức, cha của đứa bé kêu lên: tôi tin …":

Đây là thái độ tuyên xưng đức tin của người cha cách công khai và mạnh mẽ trong thái độ khiêm nhường và tùng phục Chúa.

25 "Đức Giê-su quát mắng tên quỷ …":

Đức Giê-su tỏ uy quyền trên ma quỷ bằng lời truyền lệnh và bằng việc làm trục xuất quỷ ra khỏi em bé.

26-27 "Quỷ thét lên …":

Em bé vừa bị quỷ ám, vừa bị bệnh kinh phong, vì thế Đức Giê-su trừ quỷ trước rồi chữa bệnh kinh phong sau. Ở đây Đức Giê-su chữa trị em bé bằng cách cầm tay, đỡ dậy và đứng lên: đó là những cử chỉ quen dùng để nói về sự phục sinh của Đức Giê-su.

28-29 "Khi Người vào nhà …":

Các môn đệ vẫn có thói quen khi không hiểu thì lợi dụng lúc gần gũi và riêng tư hỏi Chúa để Chúa giải thích thêm. Ở đây các môn đệ không trừ được quỷ trong trường hợp này! Đức Giê-su giải thích rằng: cần phải cầu nguyện, nghĩa là cần phải dựa vào uy quyền của Chúa nữa.

NHẬN THỨC VÀ ÁP DỤNG:

1. Nhìn vào Chúa Giê-su:

- Qua câu chuyện trừ quỷ và chữa bệnh cho em bé, Chúa Giê-su đã tỏ bày sứ vụ cứu thế của Người: cứu con người khỏi cảnh lầm than do ma quỷ gây ra.

Điều này gợi lên cho chúng ta: cần thiết phải có Chúa cứu chúng ta khỏi sự dữ.

- Thái độ của Chúa Giê-su đối với người cha của em bé và đối với chính em bé, đã nói lên tình thương cứu giúp của Chúa; câu chuyện này cũng giống như trường hợp Chúa phục sinh đứa con trai duy nhất của bà goá thành Na-im.

Thiên Chúa thấu suốt những nỗi đau khổ đáng thương của chúng ta. Chỉ cần chúng ta tỏ bày niềm tin của mình đối với Chúa, thì Chúa sẽ ra tay cứu giúp.

- Chúa Giê-su dùng lời nói truyền lệnh cho ma quỷ và ma quỷ đã tuân phục.

Quả thật Lời Chúa là sức mạnh đem lại sự sống cho con người. Chúng ta tin tưởng vào Lời Chúa bằng cách gắn bó với Lời Chúa trong việc đọc, học, suy niệm và chia sẻ Lời Chúa để đón nhận sức sống của Lời Chúa và truyền sức sống ấy cho tha nhân.

- Để Chúa cứu chữa, Chúa đòi hỏi người cha của em bé phải có đức tin.

Cũng vậy, để lời cầu nguyện của chúng ta sinh hiệu quả phần rỗi cho mình hay cho tha nhân, thì cần phải có đức tin và tuyên xưng đức tin bằng lời cầu nguyện và bằng việc làm tôn vinh Thiên Chúa.

2. Nhìn vào các môn đệ:

- Các môn đệ được Chúa trao quyền trừ quỷ, nhưng trong trường hợp này các ông lại không trừ quỷ được.

Rút kinmh nghiệm, chúng ta muốn được chia sẻ quyền bính của Chúa, thì chúng ta phải cậy dựa vào Chúa bằng lời cầu nguyện, bằng những việc lành như ăn chay, hãm mình, hy sinh, từ thiện. bác ái …

- Không trừ quỷ được, các môn đệ cũng bị người ta khinh rẻ, chê bai và chỉ trích. Nhưng nhờ vậy, các ông mới khám phá ra rằng, thi hành quyền bính Chúa trao ban, không phải làm với sức riêng của mình, mà còn phải cậy dựa vào uy quyền của Chúa nữa.

Vì thế, tông đồ của Chúa phải có đời sống cầu nguyện và chăm lo làm những việc lành phúc đức thì công việc tông đồ mới sinh hiệu quả.

3. Nhìn vào người cha của em bé:

- Ong đau đớn vì đứa con đáng thương bị quỷ ám: chính sự đau đớn này, ông đã vất vả khó nhọc đem em đến xin các môn đệ của Chúa cứu giúp, các môn đệ đã không giúp được, ông đã đến trực tiếp với Chúa, cầu xin Người chữa trị cho con ông. Và Chúa đã nhận lời.

Khi gặp khốn khó, nguy nan chúng ta đừng chỉ dùng những phương tiện tự nhiên của con người, nhưng cần thiết phải chạy đến Chúa để được chính Chúa cứu giúp, miễn là chúng ta có niềm tin cậy và mến Chúa thực tình.

4. Nhìn vào em bé:

- Em được Chúa giải thoát khỏi quỷ ám và được chữa trị bệnh kinh phong.

Chúng ta cần mau mắn chạy đến với Chúa bằng lời cầu nguyện để xin Chúa cứu chữa bệnh tật phần xác cũng như bệnh tật phần hồn.
- Em bé ở đây được Chúa cứu chữa là nhờ đức tin của người cha.

Các em sẽ được đón nhận ơn bí tích Rửa Tội là nhờ đức tin của cha mẹ và những người chung quanh. Vì thế, Hội Thánh đòi phải có cha mẹ hiện diện lúc em bé lãnh bí tích Rửa Tội.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn