Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Thứ Hai Tuần XXXIII Thường Niên C

Tin mừng Mt 14: 22-33: Tin mừng hôm nay ghi lại sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước hồ Tibêria. Phép lạ này tiếp tục là lời mời gọi hãy tín thác vào Chúa...


THỨ HAI TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN C
 



Tin mừng Mt 14: 22-33


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CHÚA GIÊ-SU ĐI TRÊN MẶT BIỂN VỚI PHÊRÔ

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đâu là những điểm tương đồng giữa đoạn văn này với đoạn văn trước?

2. Đoạn văn có chủ đích nào trong loàn thể phần này (ch. 14- 17)?

3. Giai thoại cho biết gì về nhân cách và niềm tin của Phêrô?

4. So sánh việc đi trên mặt biển đây với 2V 2, 1- 5.

5. Đâu là những nét trong trình thuật này cho phép ta song đối Chúa Giêsu với Giavê?

6. Đâu là các chi tiết mặc cho giai thoại này một ý nghĩa Giáo Hội học?

7. Lời tuyệt tín cuối cùng của các môn đồ: "Quả thật, Thầy là Con Thiên Chúa" có thể giải thích được nhiều cách không?

1.Nếu phải đưa ra một điểm chung giữa đoạn văn này với đoạn văn trước về việc hóa bánh ra nhiều thì đừng ngần ngại nêu lên mấy nét như sau: nơi đây cũng như trong trình thuật trước, các môn đồ ở một mình và thiếu mọi thứ với Chúa Giêsu; lúc nãy họ đứng trước đám đông cùng đường, bây giờ họ lênh đênh trên mặt biển; trong cả hai trường hợp, Chúa Giêusu chỉ ra tay cứu giúp vào giây phút sau cùng, bằng một cử chỉ biểu lộ quyền uy tối thượng của Người trên vạn vật: gió lúc này và năm chiếc bánh cùng hai con cá trước đây. Trong cả hai bản văn, Mt trình bày thân phận của môn đồ Chúa Kitô, kẻ bị chia sẻ giữa nỗi sợ hãi và niềm tin, nhưng là một niềm tin luôn bị các dòng nước nghi ngờ đe dọa. Đây là một giáo huấn chủ yếu, còn nhằm giải thích cuộc sống gian khổ, nhưng đã vượt thắng nhờ niềm tin của các môn đồ Chúa Kitô trong thế giới quả muôn thế hệ. Cần phải hiểu đúng bản chất của niềm tin này, được thể hiện ở đây trong tiếng "kêu" của Phêrô (c.30): không phải là một sự tự tin và phấn khởi, song là một lời cầu cứu.

2. Đây là lần đầu tiên Phêrô đóng một vai trò độc lập trong cả cuốn Tin Mừng. Có thể bảo ông đã nhảy lên làm sĩ quan chỉ huy, tương tự như khi tuyên chứng Chúa Giêsu là Đấng Messia Con Thiên Chúa (16, 17- 19); và cuối phần này, sẽ có nguyên một giai thoại ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông (17, 24- 27). Cả ba giai thoại chỉ nằm trong Mt và hoàn toàn vắng bóng trong các Tin mừng khác. Tất cả đều xác quyết những gì ta đã nói từ trình thuật hóa bánh ra nhiều mới đây: vì đám đông không hiểu, nên Chúa Giêsu đã quay về với các môn đồ, và từ nay quan tâm lo lắng làm phát triển niềm tin vừa chớm nở của họ. Và trong họ, Người bắt đầu xây dựng Giáo Hội Người. Bởi thế chẳng lạ bì khi thấy trong nhóm môn đồ nổi lên khuôn mặt Simon, tảng đá mà trên đó toàn thể ngôi nhà Giáo Hội một ngày kia sẽ được xây dựng. Dầu sao, hãy lưu ý là Mt không tô điểm cũng chẳng lý tưởng hóa vị sứ đồ. Đặc biệt trong giai thoại này, ông chỉ trình bày Phêrô như một môn đồ táo bạo, nung nấu một đức tin đích thực đấy, nhưng hãy còn quá ỷ vào sức riêng mình. Đức tin quá nhỏ bé của ông (c. 31). Còn phải được thanh luyện và củng cố cho đến ngày Hiện xuống. Trong lúc chờ đợi, tiếng kêu thống khổ, lời xin giải cứu của ông: "Lạy Ngài xin cứu tôi", là tiếng kêu của một con người thú nhận mình thất bại, bất lực trong việc vượt qua khoảng cách ngăn chia mình với Tôn sư.

3. Có thể nối kết giai thoại này với một sự kiện tương tự được kể lại trong 2V 2, 1- 5: với chiếc áo choàng của Elia, Elisê đã thừa kế quyền ngôn sứ của Thầy mình và đến lượt ông, ông đã dùng nó cách có hiệu quả để chia đôi dòng nước Giôđanô và lội qua được; Phêrô cũng đi trên mặt biển như Thầy với điểm khác biệt là ông không chiếm hữu, như Êlisê, một quyền năng thần thông gắn liền với đồ vật, nhưng chỉ đi được nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Người bắt buộc": Một thành ngữ dị thường! Tại sao Chúa Giêsu phải ép các môn đồ ra đi? Phải chăng vì họ không muốn để Người một mình trong đêm vắng? Hay vì Người sợ các môn đồ nhiễm lây sự kích thích muốn tôn Người làm vua của đám đông phấn khởi trước phép lạ hóa bánh ra chiều (x Ga 6,14-15).

"Còn đò thì... lắc lư với sóng": Mt nói về con đò như nói về một thực thể cộng đồng mà ta có thể coi là biểu tượng của Giáo Hội ở câu 33 cũng thế, tác giả không bảo là các môn đồ mà là "những kẻ ở trong đò".

"Canh tư' đêm tối, người đi trên biển đến cùng họ": Canh tư tương ứng với khoảng thời gian 3-6 giờ sáng. Phép lạ được kể ở đây gợi nhớ nhiều đoạn Cựu ước cũng nói Thiên Chúa đi trên biển (G 9, 8; 38, 16; Tv 77, 20; Hb 3, 15; Hc 24, 5), nhưng theo một ngôn ngữ ẩn dụ. Thành ra có sự song song giữa Chúa Giêsu và Giavê vậy.

"Chính là Ta": Qua kiểu nói đây, chắc hẳn Chúa Giêsu trước tiên muốn sửa sai ngô nhận của các môn đồ (Người không phải là ma) và đồng thời trấn an họ, vì họ chẳng nhận ra đó chính là Người. Nét này gặp lại trong các trình thuật diễn tả Đấng Phục sinh hiện ra dưới một hình dạng khác lạ(x. Lc 24, 36tt). Nhưng vì ở đây Chúa Giêsu tỏ mình qua việc thi thố một quyền năng siêu phàm trên vũ trụ, nên cần phải nối kết với các cuộc thần hiển của Cựu ước, trong đó Giavê vẫn thường giới thiệu mình bằng một thành ngữ tương tự: Chính là Ta hay Ta là (St 17, 1; 26, 24; 28, 13; 35, 11; 46, 3; Xh 3, 6. 14). Một lần nữa, Mt kín đáo nhấn mạnh rằng có một tương hợp giữa Chúa Giêsu và Giavê.

"Và Phêrô bắt đầu đi trên nước": Người môn đồ được một quyền lực thần thông như Thầy, đó là chi tiết làm nổi bật hơn nữa ý nghĩa Giáo Hội học của đoạn vặn. Đây là một đặc điểm của thần học Mt, theo đó Chúa Giêsu cũng san sẻ quyền tha tội (9, 6) cho. các môn đồ Người (9, 8; 16, 19; 18, 18). Tuy nhiên Phêrô chỉ đi được trên nước nhờ niềm tin của ông. Thánh sử còn nhấn mạnh ở nhiều đoạn khác quyền năng ấy của đức tin cùng hiệu lực lạ lùng và tức khắc của nó. Như với viên sĩ quan đến xin người chữa bệnh cho tên đầy tớ, Chúa Giêsu đã trả lời rằng: "ông hãy đi, ông đã tin sao, thì sẽ được như vậy". Và ngày giờ ấy tên đầy tớ đã được khỏi (8, 13). Vì đối với người có lòng tin thì "không có gì mà không làm được" (17, 20).

"Lạy Ngài, xin cứu tôi": Như tiếng kêu của những người đi đò gặp cơn bão tố ("Lạy Ngài, xin mau cứu, chúng tôi chết mất": 8, 24), tiếng kêu của Phêrô làm vang vọng nhiều lời cầu khẩn của nhiều Thánh vịnh, trong đó người tín hữu xin Thiên Chúa đến giúp mình khỏi luồng nước đang dọa đe (Tv 69, 2 và 15; 144, 7; xem thêm Tv 18, 17; 32, 6; Is 43, 2- 3). Thành thử đây là một lời cầu nguyện nói lên niềm tin vào Chúa Giêsu dù với chút ít nghi ngờ.

"Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa": Như các chỗ khác trong Tin Mừng, lời tuyên tín này chắc hẳn không có giá trị như việc các môn đồ nhìn nhận tử hệ tự bản tính của Chúa Giêsu (x. Bài chú giải về Mt 4, 3 (CN 1 Chay A) và chú thích của BJ về câu ấy) song là nhìn nhận tử hệ theo nghĩa rộng; đây chỉ là lời công bố về thiên sai tính của Người. Tuy nhiên, có thể cộng đoàn Kitô hữu hậu-phục sinh sau đó dùng lại lời tuyên tín của Phêrô và thêm vào ý nghĩa đầy đủ là Thánh Thần soi sáng. "Những kẻ ở trong đò" nghĩa là ở trong Giáo Hội, theo gương Phêrô và các môn đồ, tuyên xưng Chúa Giêsu thực là Người Con duy nhất của Thiên Chúa tối cao.

KẾT LUẬN

Mt trình bày một cuộc thần hiện dành riêng cho "các kẻ ở trong đò", nghĩa là cho Giáo Hội của Đấng Phục sinh: trong Chúa Giêsu, chính Thiên Chúa cứu thế của thời Xuất hành tiếp tục giải thoát Israel mới khỏi những luồng nước khủng khiếp hằng rình chực nuốt lấy họ (x. Xh 14 và 15). Sự hiện diện đáp cứu y của Người giữa cơn bão táp là nền tảng niềm tin của các tín hữu và cho phép họ nói lên cách vững lòng: "Ngài thật là Con Thiên Chúa".

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Điều đã xảy đến cho Phêrô, thủ lãnh các sứ đồ, sẽ mãi là kiểu mẫu và gương soi cho mọi kẻ tin. Ở đây, Phêrô đại diện toàn thể Giáo Hội đang đứng trước mặt Thầy mình. Giáo Hội biết rằng mình được bảo đảm vượt thắng mọi thử thách nguy biến, rằng mình sẽ chẳng bao giờ đắm chìm, mất hút trong giòng lịch sử, với điều kiện cương quyết giữ vững đức tin. "Nếu không gắn bó với Ta, các ngươi sẽ chẳng đứng vững được " (Is 7, 9). Điều này có giá trị đối với dân Giao ước mới như đối với dân Giao ước cũ.

2. Sau khi Chúa Giêsu lên thuyền, gió bỗng lặng yên. Người không cần ra lệnh như đã làm trong cơn bão táp (8, 26). Sự hiện diện của Người đủ sức đem lại yên tĩnh và chế ngự ngũ hành cuồng điên. Trong đời ta cũng thế. Nếu biết đặt Chúa Giêsu ở trung tâm đời mình như một hiện diện đích thực và sinh động, ta sẽ được an bình nội tâm, dù bên ngoài phải tư bề sóng gió.

3. Chúa Giêsu ra nơi vắng vẻ để cầu nguyện, một lối cầu nguyện thật đặc biệt như giòng sông êm ả giữa Chúa Cha và Người. Không phải Người chẳng thích lối cầu nguyện phụng vụ hay cầu nguyện công khai đâu (ta đã thấy Người cầu nguyện trước đám đông lúc hóa bánh ra nhiều, 14, 19), nhưng thỉnh thoảng Người cảm thấy cần có một lối cầu nguyện đơn sơ và cá nhân như thế. Trong việc này cũng như trong mọi chuyện khác của đời Người, Người là gương mẫu cho ta: không thể tưởng tượng ra một môn đồ Chúa Giêsu không biết bắt chước Người trong việc cầu nguyện.

4. Tin là nhảy xuống nước để đi gặp Chúa Giêsu. Nếu lúc ấy ta sợ, thế của ta sẽ trở nên nguy hiểm hơn lúc ta bằng lòng ở lại trên đò với các kẻ khác. Một khi đã liều, thì phải liều cho đến cùng tận. Nếu không nỗi sợ hãi sẽ nhận chìm ta. Tuy nhiên, dù bấy giờ sợ hãi, dù không còn sức tin tưởng trước cơn bão hoài nghi và chướng ngại, ta vẫn còn có thể kêu lên: "lạy Chúa, xin cứu con". Và Người sẽ không bỏ lỡ cơ hội để nói với ta: Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!

5. Phêrô bắt đầu chìm xuống "lúc thấy gió mạnh" (c.30), ông đã chia trí không nhìn đến sự hiện diện trấn an của Chúa Giêsu. Nhưng ông lại được cứu một khi quay nhìn về Người.

6. Thử thách, khổ đau, thất bại không vùi dập nhận chìm Kitô hữu, nhưng cảnh tỉnh, thanh luyện niềm tin.

 

Noel Quession - Chú Giải

 
Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán đám đông.

Tại sao Đức Giêsu bắt buộc các môn đệ xuống thuyền? đi trước? Tại sao Đức Giêsu giờ đây giải tán đám đông sau khi đã nói rằng đám đông không cần đi đâu cả (tức vào các làng mạc mua thúc ăn)? Những chi tiết này không phải là không quan trọng. Chúng có một ý nghĩa và được Mát-thêu và Mác-cô thuật lại, nhưng chỉ có Gioan đem lại cho chúng ta một lời giải thích: Việc ban bánh trong sa mạc có một ý nghĩa chỉ về Đấng Mê-si-a đã làm cho nhiệt tình của đám đông bốc cao lên , họ hoàn toàn cuồng nhiệt bởi sự xuất hiện rất nhiều vị thiên sai ở thời kỳ lịch sử này của Ít-ra-en.

Các đám đông, với những cảm nghĩ mơ hồ thường thấy và những động tác không kiềm chế lúc đó đã muốn kéo Đức Giêsu trong một cuộc phiêu lưu chính trị tôn giáo như đã có nhiều trong những quốc gia bị La Mã đô hộ và sau cùng tất cả đều kết thúc trong sự đàn áp đẫm máu. "Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên người lại lánh mặt, đi lên núi một mình" (Ga 6,15). Đức Giêsu cũng biết rất rõ các môn đệ của Người , còn gắn bó với quan điểm về một Đấng Mê-si-a trần thế ". Họ dễ dàng buông mình theo sự s ay sưa muốn biểu dương ấy Đức Giêsu buộc họ phải xuống thuyền đi trước.

Vâng Đức Giêsu đôi lúc thấy mình phải đương đầu với những kiểu vấn đề như thế. Một mình người đối phó với mọi người.

Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện.

Người ta có thể thử tưởng tượng Đức Giêsu tranh luận tay đôi với những kẻ ngoan cố nhất và cuồng nhiệt nhất không muốn giải tán: không tôi không đến để làm chính trị: nước tôi không thuộc về thế gian này…tôi đâu có trách nhiệm cho các ông ăn mỗi ngày…các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát nhưng để có lương thực thường tồn" (Gioan 6,27).

Mệt mỏi vì những cuộc tranh luận ấy, khi còn lại một mình, Đức Giêsu cảm thấy nhu cầu cần phải cầu nguyện. Và chúng ta tưởng tượng Người giờ đây trong màn đêm buông xuống, bước theo con đường sỏi đá để lên núi. Bài đọc đầu tiên của Chúa nhật này nhắc nhở chúng ta nhớ rằng "núi" trong Kinh Thánh là nơi ưu việt để "gặp gỡ Thiên Chúa" (1 Các Vua19 ,9) Đó là một chủ đề mà Mát –thêu ưa thích một cách đặc biệt: núi của các mối Phúc Thật (5,1 )… núi của sự cám dỗ (4,8)... núi của sự biến hình (17,1)... núi của Đấng sống lại (28,16)... Trong những tháng hè này, một số người đi nghỉ hè ở trên núi. Khi chúng ta có cơ hội lên núi, chúng ta có biết tranh thủ để cầu nguyện trong cô tịch và sự im lặng hay không?

Chiều đến, Người vẫn ở đó một mình...

Phải để cho hình ảnh ấy thâm nhập vào tâm hồn chúng ta thật lâu: Đức Giêsu trên đỉnh núi trong bóng đêm, trong sự im lặng từ trái tim đến trái tim đơn độc, trong sự hiệp nhất với Chúa Cha.

Người ta dễ dàng đoán ra Người đọc kinh nào, đêm hôm đó. Người ta đã thử lái Người ra khỏi sứ mạng chủ yếu. Nhưng như một bản năng Người trở lại sứ mạng của mình: Vai trò của Người thuộc về tinh thần dù vai trò ấy có những hậu quả quan trọng trong lãnh vực vật chất. Một lần nữa, Đức Giêsu phải chiến đấu chống lại ma quỷ của thứ chủ nghĩa Mê-si-a quốc gia đã "hứa hẹn cho Người tất cả các nước thế gian" (Mát-thêú 4,8-10). Một sự cám dỗ khủng khiếp, ám ảnh gần gũi; và lặp lại mãi. Sự quyến rũ của sự thành công tức thời mà Đức Giêsu can đảm đẩy lui bởi sự cầu nguyện. Không, người sẽ không là vị "vua" vinh quang và được tôn vinh. Người sẽ là Đấng Mê-si-a nghèo khó, sống tróng bóng tối, bị đau khổ và cái chết đánh gục. Chiến thắng của Đức Giêsu sống lại từ cái chết chỉ dành cho những ai tin.

Đức Giêsu cũng cầu nguyện nhiều cho các "môn đệ" Người vừa sai đi trước. Người phải nghĩ về Giáo Hội mà người thành lập, và cơn cám dỗ thường xuyên muốn đưa những phương tiện của con người lên hàng đầu. Phần tôi, tôi có tin vào giá trị cầu nguyện không? Nếu xét về bề ngoài và theo tính chất của con người, thời gian mất đi ấy lại vô cùng quan trọng về mặt tâm linh. Thỉng thoảng tôi có cầu nguyện một mình không?

Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ nhiêu dặm, bị sóng đánh vì ngược gió.

Trong động tác bất ngờ của máy quay phim, cũng như trong một phân cảnh tài tình của phim ảnh. Mátthêu đi từ hình ảnh Đức Giêsu trên núi qua hình ảnh chiếc thuyền trên mặt biển. Đạo diễn trước tiên tập trung chú ý trên "chiếc thuyền" bằng việc sử dụng bút pháp dị thường: trong lúc Máccô nói các môn đệ phải vất vả chèo chống (Mc 6,48)..thì Mátthêu cũng bằng những chữ ấy nói rằng chiếc thuyền bị sóng đánh vật vã. Tất cả những nhà chú giải từ những giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội đã nhìn thấy trong chiếc thuyền ấy là biểu tượng của Giáo Hội. Vào thời thánh Mátthêu, các cộng đoàn Kitô hữu trong thực tế chỉ là những chiếc thuyền mong manh chèo chống khó khăn trên mặt biển đầy sóng gió của ngoại giáo và đi ngược gió!

Vào khoảng canh tư Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.

Cảnh trước đó (Đức Giêsu cầu nguyện trong núi…chiếc thuyền bị sóng đánh) như thế đã kéo dài suốt đêm!

Đối với nhiều người , cảnh Đức Giêsu đi trên mặt biển có thể chỉ có vẻ như một câu chuyện thần tiên, một giai thoại tuyệt vời chỉ tốt cho trẻ em và những kẻ ngây thơ. Khác với các phép lạ chữa bệnh mà chúng ta tưởng lập tức hiểu hết ý nghĩa bởi vì những phép lạ ấy "có ích", chúng ta ngạc nhiên về những cử chỉ bề ngoài xem ra vô ích: tại sao Đức Giêsu lại không gặp trực tiếp các bạn hữu của mình? vì chúng ta rất hay quên rằng các phép lạ của Đức Giêsu trước hết là những "dấu chỉ": Đó là những cử chỉ nói được, hoặc có một điều gì nói với chúng ta. Tính chất tượng trưng của chúng đứng hàng đầu, không vì thế mà chối bỏ giá trị sự kiện lịch sử của chúng. Các tác giả Tin Mừng rõ ràng đã đọc lại các biến cố, từ ba yếu tố dùng để giát thích: 1. sự sống lại của Đức Giêsu …2. truyền thống của Cựu Ước... 3. những nhu cầu của các cộng đoàn mà họ kể lại.

Trong toàn bộ Kinh Thánh, biển là hiện thân của sức mạnh thù địch với con người. Những người Do thái, như nhiều dân tộc sống trong đất liền đặt vào biển mọi nỗi sợ hãi lâu đời dưới hình thức những quái vật huyền thoại như: Lê-vi-a-than; Ra-háp (Thánh Vịnh 104,5-9-26 –106, 9 - 74,13-14; I-sai-a. 51,9-10). Bão tố, trong mọi ngôn ngữ không chỉ được xem như một hiện tướng tự nhiên như một biểu tượng của những sức mạng xấu nhưng mạnh hơn con người. Còn Thiên Chúa được giới thiệu như Đấng "thống trị biển cả", Đấng "đi trên mặt biển" (Gió 9,8; Thánh Vịnh 77,20; Ha-ba-cuc 3,15). Như thế Đức Giêsu đi trên mặt biển chứng tỏ Đức Giêsu làm được điều mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm: đó là một "biểu hiện của Thiên Chúa" , một sự thần hiện, hình ảnh của sự sống lại…

Những cộng đoàn Kitô hữu HÔM NAY và nói riêng mỗi người chúng ta cần chiêm ngắm Đức Giêsu thống trị sự ác với tất cả quyền Chủ Tể của Người.

Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: "Ma đấy!" và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ!".

Khẳng định: "Đừng sợ!" đối chiếu cảnh này lúc Người đi trên những vực thẳm của sự chết với cảnh trong lễ vượt qua lúc: Người biến hình (Mát-thêu 17,7) và sống lại (Mát-thêu 28,5-10)...

Mỗi lần một người đến gần Thiên Chúa, trong Kinh Thánh, có một cử chỉ điển hình gồm hai khía cạnh: "sự sợ hãi" chiếm lấy con người... "lời mời gọi đừng sợ" mà Thiên Chúa luôn lặp lại..' (Sáng Thế 21,17 - I-sai-a 7,4; Đa-ni-en 10,19; Luca 1,13; Công Vụ 18,9; Khải Huyền 1,17 ). Than ôi, trong cả một đời người không thiếu bão tố. Biết bao lần chúng ta lại không cảm thấy mình như bị buồn nôn khủng khiếp vì say sóng tưởng trút linh hồn (Thánh Vịnh 107,25-27). Chúng ta không chọn lựa cho mình biển hồ và thời tiết xấu... cũng không chọn bão tố , bóng đêm... cũng không chọn những cơn cám dỗ, những cơn thử thách. Và nỗi sợ hãi chiếm lấy chúng ta!

Giờ đây như các môn đệ của biển hồ Galilê, chúng ta được mời gọi cảm nhận sự "hiện diện của Đấng Vắng Mặt". Lạy Chúa, Chúa ở đây với chúng con trong cơn bão tố này và Chúa lại nói với chúng con: "Chính Thầy đây, hãy cậy trông! Đừng sợ!".

Ông Phêrô liền thưa với Người: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài". Đức Giêsu bảo ông: "Cứ đến!". Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu.

Trong Tin Mừng của Thánh Mát-thêu, Phêrô được giới thiệu như người đứng đầu các tông đồ, "người phát ngôn" của họ (Mát-thêu 10,2 - 15,15 - 16,16-17 - 17,24-27-18, 21).

Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ và khi bắt đầu chìm, ông la lên: "Thưa Ngài xin cứu! con với!". Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?"

"Người đâu mà kém tin vậy!" Chủ đề "đức tin nhỏ bé" là một trong những chủ đề mà Mát-thêu không ngừng nhấn mạnh (6,30 - 8,26 - 14,31 - 16,8 - 17,20). "Người có đức tin quá nhỏ bé... bước đầu của đức tin... đức tin không hoàn hảo..." chúng ta nhận thấy mình trong cách diễn tả đức tin không phải là một đồ vật làm sẵn, có được một lần là xong. Đúng hơn đó là một "sự sống" đang tăng trưởng hoặc đang suy thoái. Đó là một "lịch sử" đang vận hành và vì là quan hệ giữa hai người nên không ngừng biến đổi.

Đức Giêsu chấp nhận sự yếu đuối đức tin của chúng ta nhưng nmời gọi chúng ta tiến bộ. Và chính trong thử thách , trong bão tố mà "đức tin nhỏ bé, kém cỏi" của chúng ta được thẩm định và thực hành.

Ở đây đức tin được trình bày trong một bối cảnh bi đát như một cuộc chiến đấu chống lại sự hồ nghi và sợ hãi. Phêrô người tín hữu đầu tiên không được đặt lên hàng đầu vì những phẩm chất cá nhân. Chúng ta thấy ông đã hụt chân, như buổi tối mà ông đã chối Chúa ba lần sau khi hung hăng lớn tiến tuyên bố lòng trung tín (Mát-thêu 26,35-69-75).

Tuy nhiên giữa lúc hoài nghi, ông cầu nguyện: "Thưa Ngài, xin cứu con với! Kyrie eleison!".

Vậy sơ đồ của đức tin chúng ta là gì: một lời kêu gọi của Đức Giêsu bảo chúng ta "Hãy đến.!" một cuộc hành trình trên những vực thẳmcủa sự phi lý bề ngoài của đức tin..sự hoài nghi làm chao đảo... sự chỉnh đốn hoàn toàn của Đấng cầm tay chúng ta.

Khi Thầy trò lên thuyền, thì gió yên lặng ngay.

Một nhận xét đơn giản bề ngoài không quan trọng đối với người đọc quá nhanh.

Một lần nữa, đây là một chi tiết tượng trưng mà hình ảnh đã lên tiếng: "Thầy trò" cả hai đã lên thuyền, và gió lặng. Đức Giêsu và Phêrô cứu chiếc thuyền này trong cơn tai biến.

Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: "Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!"

Trong sách Tin Mừng Mát-thêu, đây là sự tuyên xưng đức tin đầu tiên. Chúng ta phải giữ lại trang Tin Mừng này cho cơn bão tố sắp tới của chúng ta. Phêrô suốt đời sẽ nhớ lại điều này, khi ông sẽ bước vào những cơn giông tố khác trầm trọng hơn ở Rôma vào thời của Vua Nê-rôn.

 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Xin truyển cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy" (Mt 14,23-36).

I, Ý CHÍNH:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua sự việc đi trên mặt biển và dẹp yên sóng gió. Chúa Giêsu muốn tỏ quyền năng của Ngài để củng cố niềm tin và lòng trông cậy của các môn đệ.

II.SUY NIỆM:

1 "khi dân chúng đã ăn no":

sau khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng thích thú muốn tôn vinh Thiên Chúa lên làm Vua (Ga 6,15) vì thế Chúa tìm cách rút lui, một mặt Người thúc các môn đệ xuống thuyền đi trước, một mặt Người giải tán dân chúng, còn chính Người thì lên núi cầu nguyện. "lập tức Chúa gục các môn đệ" kiểu nói này gợi lên ý nghĩa có tính cấp bách của sự việc. Vì Người sợ các môn đệ bị nhiễm lấy sự kích thích muốn tôn Người lên làm Vua của đám đông dân chúng đang phấn khởi trước phép lạ hoá bánh.

2/ "Giải tán họ xong Người lên núi cầu nguyện".

Chúa Giêsu thường thích sống những giờ an tĩnh ban đêm và cầu nguyện với Chúa Cha (Lc 6,12, Mt 26,36) nhất là trước và sau những việc trong đạo.

3/ "Đến chiều Người vẫn ở đó một mình": kêu nói "ở đó một mình" diễn tả Chúa Giêsu không ở với ai khác ngoài Thiên Chúa là Cha, là Đấng mà Người cầu nguyện. Ơ đây muốn nói lên sự hiệp thông giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Đấng không bao giờ để Người ở một mình. (Ga 8,29).

4/ "Còn thuyền thì đã ra giữa biển".

Biển hồ rộng những 12 cây số con thuyền ra giữa biển gặp sóng gió đánh chập chờn vì ngược gió. Ơ đây Matthêo nói về con thuyền như nói về một thực thể cộng đồng mà ta có thể coi là biểu tượng của Giáo Hội đang qua biển trần gian.

5/ "canh tư đêm tối Người đi trên mặt biển…"

Canh tư vào thời Chúa Giêsu dân Do Thái đã theo Người La Mã chia đêm thành bốn canh, mỗi canh ba giờ, canh tư vào khoảng 3 tới 6 giờ sáng.

Người đi trên mặt biển: việc này ợi lại nhiều hình ảnh trong Cựu Ước cũng nói Thiên Chúa đi trên mặt biển.

+G 9,8; 38,16 "một mình Người (Giavê). Người trên các tầng trời, và Người đi trên đầu sóng biển".

+Tv 77,20: "trong biển có đường Người đi lối, Người tắt qua con nước lớn, vết chân của Người ai nào nhận ra".

+ Xem Dt 3,15. Hc 24,5: ở đây muốn biểu lộ quyền năng thiên tính của Chúa Giêsu trên thiên nhiên.

6/ "Các ông hoảng hồn nói với nhau rằng: ma kìa".

Đi trên mặt biển là một việc ượt trên sức tự nhiên, khiến cho các môn đệ hoảng sợ, và vì chưa nhận ra thầy mình, nên các ông tưởng là ma.

7/ "Hãy yên tâm Thầy đây đừng sợ":

Thầy đây: qua kiểu nói này: Chúa Giêsu muốn sửa sai sự ngộ nhận của các môn đệ tưởng Người là ma, và sau nữa là để chấn an các ông vì các ông chưa kịp nhận ra Người. kiểu nói này cũng gặp lại trong các trình thuật diễn tả Đấng Phục Sinh hiện ra với các môn đệ (Lc 24,36).

Nhưng ở đây Chúa Giêsu muốn tỏ mình nhân một cuộc bày tỏ uy quyền trên thiên nhiên vượt quá sức loài Người, gần giống các thần hiện trong Cựu Ước. Đức Giave cũng hay tự xưng tương tự: "Ta là Đấng Toàn Năng Đấng Tự Hữu" (St 17,1. 26,24.31,13,35,11,46,3.Xh 3,64) qua kiểu nói này của Chúa Giêsu, thánh Mt đã gián tiếp nói lên sự song song giữa Chúa Giêsu và Giavê.

Vì thế kiểu nói "hãy yên tâm, Thầy đây đừng sợ" là kiểu nói vừa để sửa sai sự ngộ nhận, vừa để trấn an cho các môn đệ.

8/ "Phêrô thưa lại: lạy Thầy nếu quả là Thầy":

Matthêô ghi lại ba giai thoại về thánh Phêrô: ở đây 14,22-33, tuyến tín: 16, 13-20, đồng tiền nộp thuế: 17, 24-27. Theo thánh Mt thì từ đây Chúa Giêsu không để ý tới dân chúng nữa, nhưng chú ý tới các môn đệ và trong các môn đệ thì đặc biệt chú ý đến Phêrô, là kiểu mẫu môn đệ trong lúc nghi ngờ và trong lúc tin tưởng.

Phêrô biểu lộ một đức tin chưa trọn vẹn, điều này được thể hiện rõ ràng khi ông cầu cứu trong câu sau:

9/ "Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt biển…":

Phêrô và qua Phêrô các môn đệ cũng nhận được quyền lạ lùng từ nơi Chúa Giêsu, Chúa chia sẻ quyền hành này với các môn đệ cũng như sau này Chúa chia sẻ quyền tha tội (Mt 9,6.16,9. 18, 18).

Mt muốn nhấn mạnh về sức mạnh của đức tin, vì Phêrô chỉ đi được trên mặt biển nhờ niềm tin của ông vào Chúa Giêsu, điều này cũng được chứng tỏ trong trường hợp viên bách quản (Mt 8,15). Vì đối với người có lòng tin thì "Chẳng có gì là không làm được" (Mt 17,28).

10/ "Lạy Thầy xin cứu tôi":

-Lời kêu cứu này tương tự như lời kêu cứu khi thuyền bị bão (Mt 8,24) "lạy thầy xin cứu chúng con kẻo chúng con chết mất". Tiếng kêu cứu của Phêrô có âm hưởng của nhiều lời cầu khấn của nhiều thánh vịnh kêu xin Chúa giúp khỏi bị nước đe doạ.

-Tv 69,2 "Cứu tôi với Lạy Chúa, vì nước đã dấy lên tới bụng".

11/ "Người hèn tin tại sao mà nghi ngờ?"

ở đây vừa có tính cách khiển trách Phêrô vì yếu đức tin vừa có tính cách khích lệ Phêrô phải có đức tin vững chắc. Vì thế Chúa Giêsu vừa nói vừa lấy tay nắm lấy ông.

12/ "Khi cả hai đã lên thuyền…":

không cần Chúa ra lệnh như trong trường hợp Chúa dẹp cơn bão (Mt 8,26) ở đây chỉ cần sự hiện diện của Chúa là phép lạ diễn ra "Thì gió biển yên lặng". Trong cuộc đời chúng ta cũbg vậy, nếu biết đặt Chúa Giêsu làm trung tâm điểm đời sống, chúng ta sẽ được bình an trong tâm hồn.

13/ "Những người ở trong thuyền đến lạy Người …":

Mt không nói trực tiếp đến các môn đệ nhưng ông chỉ nói trống là "những người ở trong thuyền" ở đây ông muốn nhắc đến cộng đồng mà ông muốn ám chỉ về Giáo Hội?

"Thật thầy là con Thiên Chúa": lời tuyên tín này chắc các môn đệ, cách riêng Phêrô, không ý nói Chúa Giêsu là con Thiên Chúa theo nghĩa cùng bản tính với Thiên Chúa. Nhưng có ý tuyên xưng Người là Đấng Thiên Sai.

III.ÁP DỤNG:

A/ Ap dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn khơi dậy trong lòng ta một niềm tin vững chắc vào quyền năng của Thiên Chúa, trong những lúc gặp sóng gió nổi lên trong cuộc đời, trong hoàn cảnh sống, đồng thời Giáo Hội muốn nhắn nhủ chúng ta phải tin tưởng vào thuần thiêng mà Thiên Chúa thông ban cho Giáo Hội, nhất là qua các phép Bí Tích.

B/ Ap dụng thực hành:

1.nhìn vào Chúa Giêsu:

a)Xem việc Người làm:

- Chúa Giêsu gục môn đệ xuống thuyền là để các môn đệ khỏi bị ảnh hưởng của dân chúng về sự ngộ nhận đối với Người. đôi khi trong đời sống chúng ta gặp sự thay đổi: về Người về môi trường sống, về công việc….là dấu chỉ Chúa muốn bảo vệ chúng ta nên tốt hơn đó thôi.

- Người lên núi cầu nguyện một mình: không phải Chúa không thích lối cầu nguyện phụng vụ hay cầu nguyện công khai ( ta đã thấy Người cầu nguyện trước đám đông lúc hoá bánh ra nhiều (Mt 14,19), nhưng thỉnh thoảng Người cảm thấy cần có một lối cầu nguyện đơn sơ và cá nhân như thế. Noi gương Chúa chúng ta có giờ cầu nguyện riêng có tính cách cá nhân. Tĩnh tâm chung đôi khi cũng cần tĩnh tâm riêng nữa.

- Khi cả hai lên thuyền thì gió biển yên lặng: sự hiện diện của Chúa là sự bảo đảm bình an cho ta. Chúng ta có năng gục lòng tin vào sự hiện của Chúa không? Nhất là những lúc bị sóng gió.

b)Nghe lời Chúa nói:

-"Hãy yên tâm Thầy đây đừng sợ": Chúa nói với Phêrô, nhưng Chúa cũng muốn nói với mỗi người chúng ta khi chúng ta gặp thử thách như vậy.

-"Hãy đến": Chúa luôn mời gọi ta đến với Người , nhưng phải đến với Người trong tinh thân tin tưởng phó thác như Phêrô xuống khỏi thuyền đi trên mặt biển.

-"Người hèn tin sao mà nghi ngờ?": Chúa nói với chúng ta lời này khi ta tỏ ra nghi ngờ và kém lòng tin vào Chúa. Đừng nản chí nghi ngờ khi gặp thử thách, nhưng hãy tin vào Chúa trong tinh thần chịu đựng và phó thác.

2.Nhìn vào phêrô:

Lạy Thầy nếu quả là Thầy thì xin truyền cho tôi đi trên mặt nước: đây là tình trạng đức tin nữa vời. Gặp trường hợp này chúng ta đừng do dự nhưng hãy ngã về phía Chúa, bao giờ Chúa cũng mời gọi ta "hãy đến" dù có phải bước xuống biển cũng phải đi.

Lạy Thầy xin cứu tôi: Phêrô bắt đầu chìm xuống "lúc gió mạnh" vì ông đã chia trí không nhìn đến sự hiện diện của Chúa Giêsu. Nhưng lại được cứu vớt một khi ông quay nhìn về Người "Xin Thầy cứu tôi".

Khi gặp hoạn nạn thử thách là lúc cảnh giác chúng ta quay về với Chúa để xin Người cứu vớt.

Thật Thầy là con Thiên Chúa: tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai sự hiện diện có tính cách cứu thế của Chúa Giêsu trong Giáo Hội và trong cuộc sống của chúng ta là nền tảng niềm tin của chúng ta.

3.Y nghĩa thực hành:

a)tin trong trường hợp cụ thể ở đây l2 tội xuống nước mà đến với Chúa Giêsu , nếu ta sợ thì số phận ta sẽ lâm nguy hơn là cứ ở trên thuyền. Vì thế khi đã hành động theo đức tin thì ta cứ yên tâm đến cùng, nếu không thì sự lo sợ sẽ nhận chìm ta. Nhưng kể cả khi ta sợ hãi, không còn đủ sứ cđể tin trước cơn bão của nghi ngờ, lo sợ vẫn có thể kêu lên "Lạy Thầy xin cứu con".

b)khi con người không còn biết xoay sở ra sao mà kêu cầu Chúa thì Chúa sẽ giúp, vì Người chỉ ra tay cứu giúp vào phút cuối cùng, đó là trường hợp phép lạ hoá bánh cũng như trường hợp Phêrô sắp chìm xuống biển.
c)cuộc đời mỗi người chúng ta không thiếu gian nan thử thách, chúng ta hãy làm như Phêrô "Lạy Thầy xin cứu con".

d)Hoàn cảnh và tâm tình của Phêrô cũng giống hoàn cảnh của Giáo Hội và của mỗi người, nếu giữ vững đức tin Chúa sẽ giúp vượt qua gian khó./.


Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

An toàn trên biển cả.

1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 14,22-33

Lịch sử hàng hải chắc không bao giờ quên thảm họa đắm tàu Titanic xảy ra hồi 2g 20' sáng ngày 15/4/1912. Đó là con tàu lớn nhất và sang trọng nhất thời đó. Nó được thiết kế để không thể bị đắm, thế mà đã bị đắm ngay trong chuyến vượt biển đầu tiên từ Anh sang Mỹ Châu!

Tàu Titanic với bụng tàu chia đôi thành 16 gian bít kín để nước không vào được. Theo đúng kỷ thuật thì cho dù 4 trong 16 gian bít kín ấy bị ngập nước, tàu vẫn nổi, nên kể như không thể bị đắm. Nhưng bất ngờ, tàu Titanic đang chạy thì bị đụng vào một núi băng trôi cách bãi ngầm của phần đất Tân Phần Lan (New Foundland) 150 km, nay thuộc Canada. Vì đụng mạnh, bên phải tàu bị toạc ra một vết dài 91 mét khiến 5 gian bít kín ở bụng tàu bị nước tràn vào. Kết quả là chiếc tàu với khối lượng khổng lồ là 46.000 tấn bị chìm từ từ xuống biển, mang theo số phận của 1.513 người trên tàu bị chết đuối.

Năm 1913 Hội Nghị quốc tế đầu tiên vềan toàn cho sinh mạng trên biển cảđược triệu tập tại Luân Đôn. Hội nghị này đã soạn một số qui định đòi mọi tàu đi biển phải có đầy đủ phương tiện cứu đắm cho mọi người trên tàu.

Thưa anh chị em,

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng bàn vềan toàn cho sự sống con người trên biển cả. Đối với các môn đệ của Chúa Giêsu cũng như đối với dân Do Thái nói chung, biển cả tượng trưng cho sức mạnh của sự dữ. Sức mạnh ấy chính Thiên Chúa đặt dưới quyền năng vô song của Ngài (Tv 88,9-11). Và quyền năng vô song này cũng được tỏ hiện nơi Đức Giêsu, khi Ngài dẹp yên biển động hay khi Ngài đi trên biển sóng gió đến với các môn đệ đang hoảng sợ.

Riêng với biến cố Đức Giêsu đi trên mặt biển, điều được nhấn mạnh là: muốn đượcan toàn, các môn đệ phải hoàn toàn tin tưởng vào Thầy Giêsu. Nhưng trong Nhóm 12, người được chú ý hơn cả là Phêrô. Phêrô không những phải đặt niềm tin hoàn toàn nơi Thầy Giêsu mà còn phải duy trì niềm tin đó, không nao núng, không nghi ngờ. Thiếu niềm tin mạnh mẽ hơn sóng gió để đối phó với thử thách, thì cả đến Phêrô là người sốt sắng nhiệt thành đối với Thầy hơn mọi người trong Nhóm, cũng không thể đứng vững được, mà phải bị đắm chìm. Trái lại, bao lâu Phêrô vững vàng trong niềm tin, ông được tham dự vào quyền năng siêu việt của Thầy Giêsu.

Qua biến cố này, chúng ta thấy điểm chủ yếu làlòng tin. Lòng tin từ tình trạng yếu đuối tiến đến việc tuyên xưng mạnh mẽ, nhờ cảm nghiệm được sự hiện diện đầy quyền năng của Chúa Giêsu trong chính hoàn cảnh thách đố lòng tin của các môn đệ. Điều này gợi lên cho chúng ta vài suy nghĩ về lòng tin của chúng ta và sự dấn thân với lòng tin trong những hoàn cảnh sống khó khăn, thử thách. Lòng tin của chúng ta là gì, nếu không phải là tin vào Thiên Chúa toàn năng và ơn cứu độ của Ngài. Đức tin còn phải được những khó khăn, thử thách rèn luyện mới lớn mạnh trưởng thành. Đức tin nằm yên một chỗ, không phải đương đầu, đối chọi với sóng gió của cuộc đời, đức tin ấy sẽ luôn yếu mềm, ấu trĩ. Tin là phải như Phêrô, nhảy vào khoảng trống, phải bước ngay xuống nước để đến với Chúa. Con người không thể đi trên mặt nước, và niềm tin cũng không tiêu diệt được sóng gió. Nhưng có Chúa đứng đó, cũng trên mặt nước và sóng gió, nên ông không ngần ngại nhảy ngay xuống nước để đến với Ngài. Tin là một sự liều lĩnh, nhưng không phải là một sự liều lĩnh tuyệt vọng: nhảy xuống nước để tự tử! Trái lại, tin là một liều lĩnh tràn đầy hy vọng, vì nắm chắc sẽ gặp được Chúa đang đứng ở bên kia bờ tuyệt vọng: Ngài là Đấng Cứu Độ, là sự sống.

Nếu giữa gian nguy, thử thách, chúng ta sợ hãi thì càng nguy hiểm hơn, vì chính nỗi sợ hãi sẽ nhận chìm chúng ta, khiến chúng ta buông xuôi, thất vọng. Khi Phêrô chỉ nghĩ đến Chúa, chỉ dựa vào sức mạnh của Chúa, thì ông mạnh, ông nổi lên mặt nước. Nhưng khi ông nghi ngờ, chỉ nghĩ đến mình, chỉ co rút vào bản thân, thì ông bị chìm xuống. Khi ông hướng về Chúa, kêu cứu: "Lạy Chúa, xin cứu con!" Chúa Giêsu liền nắm lấy tay ông. Chúng ta yếu đuối, bất lực trước những hoàn cảnh khó khăn, thử thách, nhưng nếu chúng ta nghĩ đến Chúa, dựa vào sức mạnh toàn năng của Ngài và kêu cầu Ngài, thì Ngài sẽ kéo chúng ta lên. Cuộc sống chúng ta giống như đi trên mặt nước nổi giông bão. Chúng ta hãy kêu đến Chúa Giêsu. Trước những cơn sóng gió dù khủng khiếp đến mấy cũng đừng quên hướng về Người có thể cứu chúng ta được, đó là chính Chúa Kitô.

Để tiến đến một lòng tin đích thực, chúng ta phải sống sự hiện diện của mộtThiên Chúa vắng mặt. Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện mà chúng ta không thấy. Người kitô hữu sống trong lòng Giáo Hội lắm khi bị chao đảo ghê gớm vì "con thuyền Giáo Hội" có lúc như sắp bị đắm chìm và biến mất. Còn thân phận người kitô hữu thì bị giằng co, giữa nỗi sợ hãi và niềm tin, giữa bất ổn và bình an. Trong những lúc ấy, người kitô hữu phải sống kinh nghiệm của một Thiên Chúa vắng mặt. Vì hoảng hốt và sợ hãi, các môn đệ khó có thể tưởng tượng hay tin rằng Chúa vẫn hiện diện, nên khi Chúa đến, các ông đã không nhận ra Ngài mà còn tưởng là bóng ma.

Thưa anh chị em,

Trong thực tế, đức tin của chúng ta không thể chỉ gói trọn nơi những lời tuyên xưng, những tham dự lễ nghi phụng tự, những lãnh nhận bí tích, nhưng đức tin đó phải đi vào cuộc sống thực của chúng ta với mọi hình thức sinh hoạt của xã hội loài người. Tin Chúa là phải dấn thân vào thực tại, sống chung đụng với mọi người, chấp nhận đi vào những cực nhọc, vất vả, khó khăn, nguy hiểm … để cùng với Chúa hoạt động và biến đổi bộ mặt thế giới. Đó chính là sứ mạng của mỗi kitô hữu đối với thế giới ngày nay mà Công đồng Vaticanô II đã khẳng định.

Hãy luôn tin rằng Chúa luôn hiện diện và liên đới với chúng ta trong mọi nỗi gian truân, để từ bên trong, Ngài giúp chúng ta vượt qua mọi sóng gió bão táp của cuộc hành trình về Quê hương vĩnh hằng, mà không phải đắm chìm như các nạn nhân của con tàu Titanic năm xưa, nhưng được bảo đảm an toàn trên biển cả như con thuyền của các Tông đồ, vì trong đó có Chúa Giêsu đang hiện diện.

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

CUỘC GẶP GỠ CỦA THIÊN CHÚA


Thiên Chúa kết hợp mật thiết trong đời sống con người. Ngài phung phí tình yêu của Ngài cho chúng ta cách lạ kỳ. Từ ngàn xưa, Thiên Chúa đến với nhân loại, nói với nhân loại qua các Tiên tri mà vẫn chưa đủ để thỏa mãn tình yêu của Ngài, Thiên Chúa đã làm người nơi Chúa Giêsu, Con Một của Chúa Cha. Người đã sống giữa nhân loại trong thời gian. Người tiếp tục sống, hiện diện và hoạt động nơi Thánh Thần, Giáo hội và Bí tích Thánh thể của Người.

Sự hiện diện của Thiên Chúa kín đáo, im lặng và vô hình. Cần phải có con mắt đức tin để nhận ra những dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta. "Kẻ kém lòng tin. Tại sao lại nghi ngờ?" Lời Chúa Giêsu khiển trách Phêrô cũng liên quan đến chính chúng ta, Kitô hữu hôm nay. Chúng ta hãy cầu xin cho đức tin mỗi người thêm mạnh mẽ, vững vàng để nhạn ra bàn tay Chúa Giêsu đang nâng đỡ trước những đau khổ, thử thách và cám dỗ.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: 1V 19,9.11-13

Tiên tri Êlia gặp gỡ Thiên Chúa trên Núi Sinai

Thiên Chúa đã tỏ mình ra với Tiên tri Êlia không phải trong cảnh tượng hùng vĩ kinh thiên động địa, nhưng trong im lặng của sự hiện diện nội giới và thiêng liêng, biểu tượng là cơn gió nhẹ.

a. Chống cự lại Nữ hoàng Jézabel, muốn du nhập vào Israel việc thờ cúng Thần Baal, Tiên tri Êlia đã gặp nguy hiểm đến tính mạng. Ông đã phải trốn về phía nam của Sinai, là nơi ngày xưa Môsê đã gặp Thiên Chúa.

b. Nhưng trong khi Thiên Chúa tỏ mình cho Môsê với sức mạnh của gió lốc tự nhiên, thì Ngài lại tỏ mình cho Êlia, con người đang kiệt sức và chán nản, bằng sự dịu dàng trong im lặng của núi rừng, trong tiếng thì thào.

c. Thiên Chúa mạc khải những điều cao siêu kín nhiệm ngay trong nội giới của các Tiên tri, chứ không bằng các hiện tượng lạ thường bên ngoài. Điều này là kinh nghiệm cho đời sống nội tâm của Kitô hữu: tìm Chúa, gặp Chúa và lắng nghe tiếng Chúa trong chính tâm khảm của mình là nơi bí ẩn. Tiếng Chúa cần phải được đánh động lương tâm mỗi người.

2. Bài đọc II: Rm 9,1-5

Nỗi đau khổ lớn lao của Phaolô

Thánh Phaolô nói nỗi buồn lớn lao nhất của ngài là thấy phần lớn anh em Do Thái của ngài không tin vào Đức Kitô. Nếu cần thiết làm hiến vật tách khỏi Đức Kitô vì người Do Thái, ngài cũng chấp nhận.

a. Toàn bộ chương 9 của Thư Rôma này, Phaolô đề cập đến vấn nạn dân Do Thái không tin nhận Chúa Giêsu Kitô.

b. Ước vọng của Phaolô không thể thực hiện được nhưng lại nói lên tình yêu lớn lao của ông dành cho dân tộc của mình, một dân được Thiên Chúa tuyển chọn, được đón nhận tràn đầy nhất đặc quyền trải suốt nhiều thời đại.

c. Người Do Thái có nhiều đặc ân mà các dân tộc khác không thể nào được, thế mà phần đông họ lại không tin vào Chúa Giêsu Kitô, tự đánh mất ơn cứu độ, ơn nghĩa tử.

3. Tin mừng: Mt 14,22-24

Chúa Giêsu đi trên mặt nước

Tin mừng hôm nay ghi lại sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước hồ Tibêria. Phép lạ này tiếp tục là lời mời gọi hãy tín thác vào Chúa.

a. Việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các môn đệ, xem ra như là phép lạ chỉ dành riêng cho các môn đệ, những người đang ở trên con thuyền, nghĩa là cho Giáo hội của Người. Chính Chúa Giêsu sẽ là Đấng cứu Giáo hội khỏi mọi dòng nước dữ, mọi cơn sóng nguy hiểm rình chực nhận chìm con thuyền Giáo hội.

b. Phêrô đi trên mặt nước: Ông được Chúa Giêsu thông ban quyền lực của mình, đây là chi tiết làm nổi bật khía cạnh Giáo hội học của bản văn. Giáo hội được Người thông ban các năng quyền để phục vụ nhân loại. Tuy nhiên, Phêrô chỉ đi được trên mặt nước khi ông tin, còn khi ông kém tin, tỏ ra sợ hãi thì ông bị chìm. Mọi quyền năng, ân sủng đều đi kèm theo lòng tin. Một khi đã tin thì không có gì mà không làm được.

c. Kết thúc trình thuật là lời tuyên xưng của mọi người: "Quả thật Thầy là Con Thiên Chúa". Lời tuyên xưng này mở ra một hành trình mới, đánh dấu một sự trưởng thành trong niềm tin của các môn đệ. Tín thác vào Chúa Giêsu Kitô để mạnh mẽ, can đảm vững bước theo Người.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Sự hiện diện của Chúa Giêsu, nguồn bình an:

Sau khi Chúa Giêsu lên thuyền, gió bỗng yên lặng. Sự hiện diện của Người đủ sức mang lại yên tĩnh và chế ngự phong ba bão táp. Biển theo nghĩa Kinh thánh tượng trưng cho quyền lực của sự ác. Đi trên biển chứng tỏ quyền năng và sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên sự dữ, nguồn gốc của bất an, chia rẽ, đau khổ. Nơi đâu có Chúa Giêsu, ở đó có bình an. Cuộc đời người Kitô hữu không thể tránh khỏi những phong ba bão táp của cuộc sống, những lúc như thế, hơn bao giờ hết cần phải chạy đến với Chúa Giêsu Kitô. Nếu biết đặt Người ở trung tâm đời mình thì sẽ tìm kiếm được an bình nội tâm, cho dù có gặp biết bao sóng gió.

Chúa Giêsu hiện diện ngay trong cuộc sống của Kitô hữu nếu mọi người biết đến với Người qua việc nghe, thực thi lời Người, đón nhận Mình Máu Thánh Người và siêng năng cầu nguyện với Người.

2. Tín thác cuộc đời trong tay Chúa Giêsu:

Các môn đệ vì sợ hãi sóng to gió lớn nên không nhận ra Chúa Giêsu, ngộ nhận Người là ma. Chúa Giêsu trấn an họ: "Thầy đây, đừng sợ". Còn hơn cả một lời trấn an, đây còn là một mạc khải: sự hiện diện của Chúa sẽ xua đi mọi nỗi sợ hãi; hãy tín thác cuộc đời trong tay Người. Khi Người xuất hiện thì gió yên biển lặng; khi Người có mặt thì có sự bình an. Chính vì thế mà các môn đệ đã thờ lạy Người: Thầy quả thật là Con Thiên Chúa. Lời tuyên xưng này đồng thời cũng là lời biểu lộ một sự tín thác nơi Người. Tất cả mọi người trên thuyền cùng tuyên xưng một đức tin, cùng chung một lòng trông cậy.

Trong cuộc sống của mỗi người, niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô cần được thanh luyện và minh chứng trong thử thách gian nan. Nếu biết tín thác vào Người, thì càng khó khăn, càng vất vả, càng gặp nguy khốn, càng vươn lên mạnh mẽ trong đức tin, càng trung thành theo giáo huấn của Người và càng tìm kiếm được bình an.

3. Can đảm dấn thân lên đường cùng Giáo hội:

Việc chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các môn đệ trên thuyền là một hình ảnh mang tính Giáo hôi học. Chúa Giêsu luôn đồng hành cùng con thuyền Giáo hội. Phêrô thủ lãnh của Giáo hội, tin tưởng nhảy xuống nước để bước đi. Mọi thành phần Giáo hội hôm nay cũng phải tin tưởng cùng nhau nhảy xuống nước để đi gặp Chúa Giêsu. Khi Phêrô sợ hãi, kém tin là chính lúc đó ông bị chìm. Một khi đã liều mình theo Chúa thì phải theo đến cùng, bằng không chính nỗi sợ hãi sẽ nhạn chìm chúng ta.

Kitô hữu phải biết can đảm mạnh mẽ băng mình vào dòng đời này, để loan Tin mừng cho con người và thế giới hôm nay. Cùng với toàn thể Giáo hội, lèo lái con thuyền Giáo hội xông pha vào trong bão táp của thế giới đầy bất công, bạo lực, chiến tranh, vô luân này không chút sợ hãi. Chúa Giêsu luôn hiện diện và ở cùng con thuyền Giáo hội.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, xác tín vào sự hiện diện mang bình an của Chúa Giêsu trong cuộc sống này, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội ngày nay đã và đang đương đầu với biết bao thách đố, chống đối trong đời sống luân lý. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các vị chủ chăn của chúng ta luôn được hồn an xác mạnh, kiên định trong đức tin, vững vàng trong đức cậy và chân thành trong đức mến để hướng dẫn dân Chúa vững bước trên đường nên thánh.

2. Ngày nay thế giới đang phải đối đầu với biết bao tai ương, chiến tranh và phân hóa, khiến cho biết bao người phải sống trong sự bấp bênh kinh tế, bất ổn tinh thần và bất hòa với nhau. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo quốc gia, các tổ chức thiện nguyện, các phong trào xã hội luôn hết lòng cộng tác để xây dựng một thế giới văn minh, hòa bình và thịnh vượng.

3. Cuộc sống Kitô hữu không thể tránh khỏi phong ba bão tố. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người, mọi gia đình trong cộng đoàn chúng ta luôn tìm được nơi Chúa Giêsu sự bình an và sức mạnh để can đảm tuyên xưng niềm tin của mình.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu, Chúa là nguồn mạch bình an. Chúng con, từng hoàn cảnh, từng cuộc đời mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn đã và đang gặp biết bao sóng gió thử thách. Xin Chúa đến với chúng con, nâng đỡ chúng con và giúp chúng con vững bước trong niềm tin của mình. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn