Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Thứ Tư Tuần VI Thường Niên C

Tin mừng Mc 8: 22-26: Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại việc Đức Giê-su chữa lành cho một người mù ở Bết-xai-đa để làm nổi bật quyền ban ánh sáng của Đức Giê-su...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 20 THÁNG 02

THỨ TƯ TUẦN VI THƯỜNG NIÊN C



 
Tin mừng Mc 8: 22-26

Noel Quession - Chú Giải

Bài đọc I: NĂM LẺ: St 8,6-13.20.22

Các tường thuât của Babylon về các cuộc lụt lội đầy những tranh cãi giữa các thần linh. Lấy lại những tường thuật cổ này tác giả sách Thánh chắc chắn là đã xóa bỏ thuyết đa thần và đưa Đức tin của mình vào Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa của Giao ước. Ngày nay, chúng ta có thể đồng hóa nền văn hóa của thời mình để giải gỡ khỏi các lầm lạc của nó, và tái sử dụng ngôn ngữ và các cơ cấu của nó mà nói lên Đức tin không?

Sau bốn mươi ngày, Noe mở cửa tàu, mà thả một con quạ ông cũng thả một con chim bồ câu để thử coi nước trên mặt đất đã cạn chưa.

Trong tường thuật của Babylon ta gặp được cũng những chi tiết cụ thể như vậy. Đây là chứng cớ và gia sản văn chương chung.

Đến chiều, nó (chim bồ câu) bay trở về, miệng ngậm một cành ôliu xanh tươi.

Đừng quá ràng buộc với những hình ảnh này. Nhưng phải thú nhận là thật thi vị. Chim câu, với cành ôliu đã trở thành biểu trưng của hòa bình. Các tường thuật này trước hết được truyền miệng, rất dễ nhớ: Khi nghe kể một lần, người ta sẽ nhớ mãi. Sẽ thật là tai hại nếu khinh thường chúng nhân danh thứ văn chương gò gẫm nào, cả đối với trẻ em, dửng dưng lại ở nghĩa thể chất, và không làm héo úa chúng, biết làm sáng tỏ những bài học rút tỉa được tự do. Hòa bình! Tôi có phải là con người của an bình không?

Noe dùng một bàn thờ tế lễ Chúa.

Cử chỉ đầu tiên của người được cứu. " là "dâng lễ tạ ơn". Lạy Chúa, chính Chúa đã giải thoát chúng con. Lạy Chúa, xin cảm tạ. Đời con có "tạ ơn" (eucharistique) đủ không? Con có ý ngợi khen Chúa không?

Thiên Chúa hưởng mùi thơm tho.

Lại một hình ảnh nữa rút tỉa từ ngôn ngữ lương dân của Babylon. Các thần linh hài lòng như những con ruồi bị lôi cuốn bởi hương thơm của "thịt nướng". Tác giả sách thánh chỉ giữ lại sự hài lòng Thiên Chúa dành cho việc tạ ơn của Noe, phải, lời ca tụng của chúng ta làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nói " cám ơn đối với những ai người ta thương mến.

Từ nay trở đi, chẳng bao giờ vì cớ nhân loại mà Ta chúc dữ trái đất nữa, tâm tình và tư tưởng lòng con người đã nghiêng chiều về đàng trái từ niên thiếu.

Trận lụt đã chỉ được mượn từ các truyện cổ Babylon để dựa vào đó cái kết cục lạc quan này và mạc khải về Thiên Chúa thật: Thiên Chúa không muốn luận phạt..Thiên Chúa không thích áp đặt bằng sức mạnh…Người thích sai Con mình đến cứu vớt con người tội lỗi, hơn là lại hành phạt họ.

Tại sao có lòng thương xót này?

Bởi vì Thiên Chúa "thấu biết lòng người ". Ngày nay chúng ta sẽ nói, là Người biết hơn cả chúng ta về sự yếu đuối di truyền của chúng ta. Kinh Thánh nói đến điều đó với nhận định thực tiễn chúng ta không hề quên được: Từ niên thiếu, cả trước khi đáng tội, con người đã nghiêng chiều về sự dữ! Khi một trẻ em làm điều dữ, không cần chúc dữ, mà cần "tình yêu". Thiên Chúa nói: Ta không chúc dữ loài người nữa, nhưng Ta còn yêu nó hơn nữa.

Vậy ta sẽ không còn tiêu diệt mọi sinh vật như Ta đã làm. Từ đây, bao lâu còn vũ trụ, thì mùa gieo, mùa gặt, giá rét nắng nôi, mùa hạ, mùa đông, đêm và ngày vẫn còn liếp diễn.

Lại một mạc khải đáng phục về Thiên Chúa.Thiên Chúa thật không phải là một thực thể thất thường. Trái lại Người đã làm lên vũ trụ có qui luật bền vững, loài người có thể tin tưởng vào chúng. Chính trên sự bền vững của phản ứng và các hiện tướng tự nhiên mà loài người có thể xây dựng khoa học, kỹ thuật, cải thiện đời sống. Việc tạo dựng có một sự tự lập thực sự mà Thiên Chúa ban cho nó và cho phép con người trở thành cộng sự của Chúa.

Bài đọc II: NĂM CHẴN: Gc 1, 19-27

Anh em thân mến của tôi, anh em nên biết rằng mọi người phải mau nghe, đừng vội nói.

"Phải nghe mau".

Đó là một thái độ thích ứng tích cực, một sự chú ý lẹ làng, luôn sẵn sàng nghe kẻ khác. Thánh Giacôbê nêu lên cho ta một, mẫu người dễ gây thiện cảm, dĩ nhiên luôn luôn hướng về người khác.

"Đừng vội nói".

Đây là một sự dè dặt kín đáo, biết kính nể nhân phẩm Người khác. Để người khác được trội trang tối đa không lấn lướt ai.
"Khoan giận vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa.

Đức hiền lành, một dấu chỉ, của Thiên Chúa, Thiên Chúa thì trầm tĩnh, hiếu hòa, dịu hiền, kín đáo...

Giận dữ, bạo tàn, quá độ....Thiên Chúa không phải như vậy. Hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em, lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em.

Lời không phải chỉ là một giáo lý, một huấn dụ mà còn là một hình thức về sự hiện diện của Thiên Chúa cho những ai thực sự muốn nghe Người.

"Đón nhận" Lời.

Chính ở nơi đây Thiên Chúa không bắt buộc người ta nhận biết Người. Người nói thường là thì thầm, đến nỗi ta cứ tưởng Người làm thinh.

Chỉ có ai muốn tìm kiếm Người, những người chất phác, những người khiêm tốn, mới nghe được Người. Sự hung hãn của các kẻ kiêu căng chỉ có khả năng đáng sợ này là khép kín tâm hồn và bịt tai mình lại..

Ai không tự cho mình là nhỏ hèn, khiêm hạ để lắng nghe tiếng Chúa, thì chẳng bao giờ được nghe.

Lời là một phạt giống. Đức Giêsu đã nói như thế.

Nghe Thiên Chúa đó là là là cuộc sống phát sinh...là thu nhận một sinh lực mới vào đời ta, một sinh lực linh thiêng.

Anh em phải đem lời ấy ra "thực hành" chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình. Thực vậy ai lắng nghe lời Chúa mà không đem ra thực hành, thì giống như người soi guơng thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi và quên ngay gương mặt mình thế nào.

Đức tin không chỉ là một sự chấp nhận các chân lý cách trừu tượng và thuộc về lý trí. Nó phải thay đổi các xã hội, nó biến đổi những tương quan giữa kẻ giàu và người nghèo.

Lời Chúa là một bức "gương soi". Nó làm ta biết mình rõ ràng hơn nó phát hiện những khuyết điểm những nét vết nhơ trên khuôn mặt ta. Như thế, nó phải đặt lại vấn đề. Sau một thánh lễ, hay sau một buổi nguyện ngắm, người ta không thể ra về với "nguyên hình" như lúc mới vào.

Trái lại, ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo, luật mang lại tự do, và đem ra thực hành sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm.

HOAN LẠC" "HẠNH PHÚC " TỰ DO

Có lòng đạo đức tinh tuyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian.

Đây là một phương pháp thực hành đạo đức vừa tầm mọi người mà không cần phải làm tại nhà thờ... chứng thực hành ngay giữa lòng thế giới ". Không phải chỉ ngày nay Giáo Hội mới nhấn mạnh về khía cạnh đầu tiên về cách thực hành việc đạo đức này: chu toàn việc bổn phận, yêu thương... "Đời sống" vượt trên sự thờ phụng".

Bài Tin Mừng: Mc 8,22-26

Càng ngày ta càng trở nên nhạy cảm với các phương pháp sáng tác văn chương của Thánh Marcô. Đối với ông, điều quan trọng mà ta có thể gọi là "Tin Mừng nội tâm": đó là sự tăng trưởng đức tin, sự tiến triển trong việc khám phá con người Đức Giêsu... Tin Mừng của ông ngoài xem ra hồn nhiên chất phác, là công trình của mới vị tồng đồ muốn hướng tìm độc giả tự đặt cho mình những câu hỏi nhằm đạt tới Đức tin.

Trong trình thuật này, ta đừng quên nhận ra một phần nào đó nằm trong bài giảng của Phêrô tại Rôma

Phêrô nhớ lại cuộc hành trình nội tâm của riêng mình: Ong đã vượt qua tình trạng không hiểu biết đức tin...từ sự mù tối đến ánh sáng. Và ông giảng cho các dự tòng, bày cho họ cùng theo một lộ trình thiêng liêng.

Nền thần học này có được trình bày toàn bộ không? không bởi vì nó có thể không còn mang một giá trị minh chứng nào nữa. Phêrô nhớ lại những sự kiện lịch sử. Đối với ông, những sự kiện đó buộc phải có như ta thường ghi nhận. nhưng cần phải nói lại rằng, điều quan trọng đối với Phêrô và do đó đối với cả Marcô nữa, là không nhất thiết nhắm tới lịch sử cụ thể của các chi tiết vật chất và các lời nói của Đức Giêsu (như thế chúng được ghi lại trong máy), những là ý nghĩa nội tâm với đức tin. Vì thế, những trình thuật này vẫn còn liên hệ đến chúng ta hôm nay.

Chúa Giêsu và các môn đệ đến Bếtsaiđa. Người ta dẫn tới Chúa môt người mù… Cầm tay người mù, Chúa Giêsu dắt anh ta ra khỏi làng.

Thật là một chi tiết cụ thể sống, động. Tại sao lại không tin đó là sự thật được? Đúng thật quá đi chứ! đúng cần phải nắm tay nhửng người mù mà dẫn đi. Tôi chiêm ngắm cảnh tượng này…Tay của người mù trong bàn tay của Đức Giêsu. Đơn thuần đó là cử chỉ của con người.

Người cần khơi dậy hy vọng bừng lên trong tâm hồn người mù Khi cả hai cùng nắm tay bước đi.

Nếu Đức Giêsu dẫn người mù ra khỏi làng, chính là để giấu kín phép lạ của Người: có thể là như vậy! Đó cũng là một chi tiết lịch sử chúng nó giúp ta hiểu biết một ý nghĩa thần học: "bí mật về Đấng Thiên Sai Đức Kitô chỉ thật sự' được người ta hiểu biết sau cuộc tử nạn thập giá và phục sinh.

Người bôi nước miếng vào mắt anh. Người đặt tay trên anh.

Đó cũng chính là những cử chỉ người ta thường làm trên các dự tòng, thời thánh Phêrô, để dẫn đưa họ từ vùng bóng tối của vô tín đến miền ánh sáng của đức tin, xét về phương diện thần học, cần xếp phép lạ này gần với phép lạ chữa người "điếc-ngọng", được kể lại sau lần hóa bánh thứ nhất, cũng như phép lạ này được thuật lại sau lần hóa bánh thứ hai. Hiển nhiên, Marcô nghĩ đến. "Phép rửa": những cử chỉ của cả hai phép lạ trên đều là những cử chỉ "phụng vụ" và qua những cử chỉ đó của Đức Giêsu, con người được chữa lành trong toàn bản thể của mình. "Ba giác quan" " quan trọng giúp con người giao tiếp với thế giới và với anh em mình, đều được khôi phục, canh tân: thính giác, ngôn ngữ và thị giác.

Đó là những điều đức tin thể hiện trong ta hôm nay!

Phép Rửa khai mở chúng ta hướng tới mọt vũ trụ mới, hoàn toàn được biến đối từ bên trong: nghe Thiên Chúa nói với ta qua các biến cố và qua lời nói của anh em mình, thấy Thiên Chúa hoạt động giữa cuộc đời ta và giữa sinh hoạt thế giới, có khả năng nói về Thiên Chúa... Khởi sự từ hồng ân phép rủa đã nhận được , tới cầu nguyệ…

Người mù bắt đầu thấy lờ mờ...rồi Chúa Giêsu lại đặt tay trên mặt anh lần thứ hai, và anh liền thấy rõ: "Anh được hồi phục, nhìn thấy mọi vật cách tỏ tường"

Hiển Marcô nhấn mạnh đến việc chữa lành gồm hai thì này: cuộc chữa trị hầu như khó khăn chỉ đuợc thực hiện cách tuần tự. Đó còn là một trong những chi tiết không do người ta bày vẽ ra (như để minh chứng Đức Giêsu thiếu quyền năng!). Qua chi tiết lịch sử này, Marcô nhận ra một tiến trình chậm chạp hướng tới một đức tin trọn vẹn; Ngày nay chúng ta vẫn còn tiến bước cách rất chậm trên con đường này..và chúng còn sống trong tình trạng "nữa mù nữa sáng" khá lâu. Lạy Chúa, xin mở mắt cho chúng con!

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

Chúa chữa người mù ở Bết-xai-đa.


Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại việc Đức Giê-su chữa lành cho một người mù ở Bết-xai-đa để làm nổi bật quyền ban ánh sáng của Đức Giê-su và nỗ lực của Người giúp các môn đệ mở mắt ra.

TÌM HIỂU:

22 "Đức Giê-su và các môn đệ đến Bết-xai-đa …":

- Đức Giê-su và các môn đệ đi đến đâu, người ta kéo nhau đến đó. Điều này chứng tỏ ảnh hưởng của Người lan rộng, và đồng thời cũng nói lên nhu cầu con người cần đến Thiên Chúa.

- Quả vậy, cử chỉ người ta dẫn một người mù đến và nài xin Đức Giê-su sờ vào anh ta để cứu chữa, đã chứng tỏ điều ấy.

- Mù về thể xác biểu lộ sự mù tối về đức tin.

23-25 "Người cầm lấy tay anh mù, đưa ra khỏi làng …":

Cách chữa người mù được sáng mắt ở đây cũng giống như Chúa đã chữa trị cho người câm điếc (Mc 7,32-37), nhưng cử chỉ hữu hình của Đức Giê-su ở đây có tính nghi thức mà chúng ta thấy được lập lại trong bí tích Rửa Tội.

Qua những việc làm mở mắt cho người mù, chúng ta nhận thấy Chúa từ từ khơi dậy lòng tin của anh ta vào Người: Từ việc thấy mờ mờ và đến việc thấy tỏ tường mọi sự, diễn tả việc tin vào Chúa cách yếu ớt, đến tin nhận Người là Đấng Cứu Thế.

Điều này được áp dụng vào việc Chúa giáo huấn cách tiệm tiến để mở con mắt đức tin cho các môn đệ:

- Người mù thấy ánh sáng dần dần, điều đó cũng chỉ cho thấy các môn đệ cũng tin Chúa dần dần.

- Đức Giê-su cầm tay người mù và dẫn ra khỏi làng và hỏi anh ta có thấy gì không? Điều này cũng diễn tả Đức Giê-su đem các môn đệ ra riêng, Người dạy dỗ họ theo Người và Người cũng hỏi các môn đệ "Các con nghĩ gì về Thầy?"

- Người mù nhìn thấy sự vật nhưng không phân biệt rõ. Cũng vậy, các môn đệ nhận thấy Đấng Cứu Thế trong con người Đức Giê-su, nhưng đức tin của họ chưa phân biệt rõ tất cả chiều kích Con Thiên Chúa trong Người.

- Đức Giê-su hỏi cặn kẽ người mù, đặt tay trên anh và cuối cùng anh trông thấy rõ ràng. Đức Giê-su cũng nhẫn nại với các môn đệ, Người làm thế nào mà cuối cùng họ nhận biết nơi Người là Đấng Cứu Thế như lời thánh Phê-rô đại diện đã tuyên xưng: "Thầy là Đấng Ki-tô" (8,29).

26 "Người cho anh về nhà và dặn: Anh đừng có vào làng …":

Nơi con người, với ba giác quan: thấy, nghe, nhìn là những giác quan rất quan trọng, nó giúp con người có thể liên lạc được với thế giới bên ngoài và với tha nhân. Chúa chữa khỏi bệnh mù và cho người mù về nhà là để nói lên rằng, Chúa Cứu Thế đến cứu vớt con người khỏi cảnh cô đơn và trao trả cho con người quyền liên đới với vũ trụ và tha nhân.

Vì sứ vụ cứu thế của Chúa chưa thuận tiện được phổ biến nên Người không cho người mù này nói ra.

NHẬN THỨC VÀ ÁP DỤNG:

1. Nhìn vào Chúa Giê-su:

a) Xem việc Chúa làm:

- Chúa chữa bệnh mù để bày tỏ sứ vụ cứu thế của Người, đồng thời cũng là bài học cho các môn đệ nhận ra bệnh mù thiêng liêng của các Tông Đồ cần phải được Người chữa trị bằng việc giáo dục và mạc khải của Người.

Suy niệm cách thế Chúa chữa trị bệnh mù, chúng ta nhận thức Chúa cũng chữa bệnh mù đức tin của chúng ta cách tiệm tiến. Vì thế chúng ta có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để củng cố đức tin và phát triển đức tin mỗi ngày thêm vững mạnh nhờ sự học hỏi, tìm hiểu về các chân lý đức tin, và đón nhận ơn Chúa để bồi dưỡng đức tin.

- Theo Thánh Kinh, mắt là phương thế đón nhận mạc khải, nhất là phương thế để hiểu biết. Vậy Chúa Giê-su chữa bệnh mù, là cách Chúa dạy chúng ta: chính Chúa sẽ giúp chúng ta hiểu biết Chúa về các chân lý đức tin.

- Chúa chữa bệnh mù theo cách tiệm tiến, điều này giúp chúng ta cảm phục sự kiên trì của Chúa trong giáo dục và hướng dẫn các môn đệ. Trong việc giáo dục, nhất là giáo dục đức tin, chúng ta cần có sự kiên trì theo thời gian để dạy dỗ, nhắc bảo và luyện tập mới thành công, vì thế chúng ta không được sao lãng việc giáo dục đức tin cho những người chúng ta có trách nhiệm.

- Chúa chữa bệnh mù bằng cử chỉ cụ thể: cầm tay, đưa ra khỏi làng, bôi nước miếng vào mắt, đặt tay và nói … là những nghi bên ngoài biểu lộ ý nghĩa bên trong của bí tích. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn xem những dấu chỉ hữu hình bên ngoài để nhận ra ý nghĩa bên trong của các bí tích.

b) Nghe lời Chúa nói:

-"Anh có thấy gì không?": Câu hỏi đặt ra để khêu gợi đức tin của người mù. Chúa cũng dùng những hình thức của các dấu chỉ để khêu gợi đức tin của chúng ta mỗi khi chúng ta lãnh nhận các bí tích: vì thế đón nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, chúng ta phải tuyên xưng đức tin của chúng ta cách công khai bằng cách thưa Amen trước khi chịu lễ. Amen ở đây có nghĩa là: Con tin thật như vậy.

- "Anh đừng có vào làng": có nghĩa là đừng nói với ai trong làng:

Điều này Chúa cũng dặn chúng ta không được cao rao danh Chúa trong những môi trường và hoàn cảnh không thuận tiện hoặc chưa được chuẩn bị cách kỹ lưỡng để tạo điều kiện cho người ta đón nhận Chúa.

2. Nhìn vào người mù:

- Người mù tỏ bày đức tin cách âm thầm bằng cách dễ dàng để cho Chúa làm những việc chữa trị mắt, bệnh mù cho anh; đồng thời anh cũng ngoan ngoãn để cho Chúa củng cố đức tin cho anh cách tiệm tiến.

Để đón nhận ơn cứu độ của Chúa, nhất là đón nhận ơn phúc của bí tích, chúng ta cần phải có đức tin, vì đức tin này cần phải được củng cố và phát triển bằng cách lắng nghe và thực hành những lời Chúa dạy.

- "Anh thấy tỏ tường mọi sự … ": lúc đầu người mù thấy nhưng chưa phân biệt rõ ràng. Và tiếp tục được Chúa hoạt động, anh được thấy tỏ tường mọi sự.

Đức tin lúc đầu còn yếu ớt, nhưng dần dần được củng cố. Cũng vậy, chúng ta cần củng cố đức tin bằng cách ngoan ngoãn để cho Chúa dạy bảo và mau mắn thực hành giáo huấn của Chúa.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn