Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng – Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ (Lc 23,33-43)

Lễ Đức Kitô Vua là một ngày lễ rất gần đây bởi vì lễ này đã cử hành lần đầu tiên năm 1925. Những canh tân phụng vụ thời nào cũng có. Thật vây, việc cử -hành thật sự vương quyền của Đức Giêsu là ngày lễ Thăng Thiên : Nhưng, trong Chúa nhật cuối cùng này của năm phụng vụ, chúng ta chiêm niệm "Triều đại của Thiên Chúa" đến từ từ xuyên qua, lịch sử và đạt đến sự thực hiện viên mãn vào thời cách chung...

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

NGÀY 20/11/2022

Noel Quesson - Chú Giải

Lễ Đức Kitô Vua là một ngày lễ rất gần đây bởi vì lễ này đã cử hành lần đầu tiên năm 1925. Những canh tân phụng vụ thời nào cũng có. Thật vây, việc cử -hành thật sự vương quyền của Đức Giêsu là ngày lễ Thăng Thiên : Nhưng, trong Chúa nhật cuối cùng này của năm phụng vụ, chúng ta chiêm niệm "Triều đại của Thiên Chúa" đến từ từ xuyên qua, lịch sử và đạt đến sự thực hiện viên mãn vào thời cách chung.

Để mừng lễ Đức Kitô Vua chúng ta, một cách rất nghịch lý, Giáo Hội đưa ra cho chúng ta cảnh tượng mà Đức Giêsu khai mạc triều đại của Người : ngai vàng của Người là thập giá. . Vương miện Người là một vòng gai làm đổ máu khuôn mặt Người. . . lễ phong vương của Người là một “danh hiệu " của việc kết án tử được đóng đinh bên trên đầu Người. “Đây là vua dân Do Thái !... hai chứng nhân, hai nam tước của Người, là hai tên gian phi bị kết án với Người.

Nghịch lý cao cả của Tin Mừng ! Vua ư ? phải ! Nhưng chắc chắn không như cách hiểu của những người hoặc muốn đứng về phe Người để hoan hô tôn phong Người hoặc là những đối thủ của Người để lên án Người. . . Vua "theo cách của Thiên Chúa " !

Khi đến nơi gọi là "Đồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian Phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng : "Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm". Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người. Dân chúng đứng nhìn…

Vậy đây là đinh điểm !

Đó là "đỉnh núi" của Tin Mừng. Sau "Núi Bát Phúc" nơi Đức Giêsu lần đầu tiên công bố sứ điệp của Người. . . sau "Núi Ta-bo" nơi Đức Giêsu biến hình và nhận sự tấn phong của Chúa Cha : "Đây là Con Ta. Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người !"... Đây là đỉnh điểm thứ ba và cao siêu của Tin Mừng. Ở cổng vào thành phố Giê-ru-sa-lem và gần cổng Ep-ra-im, trong một nơi khai thác đá cũ những thợ khai thác đá còn để lại tại chỗ một tảng đá cứng hơn chỗ khác, một khối đá biệt lập cao khoảng 5 mét. Đối với mọi người, đó là "Gôn-gô-tha", từ này có nghĩa là cái sọ (tiếng Hy-lạp là Kranion ; tiếng La-tinh là Calvanô) vì hình dạng của tảng đá. .Một truyền thuyết lâu đời cho rằng đó là cái sọ của A-đam được chôn cất mãi mãi ở đó ! Đỉnh núi ấy của Tin Mừng là một ngọn "núi trọc", một ngọn núi “cô độc". Một nơi buồn thảm : một miếng đất nhỏ xíu, cao hơn mặt đất dùng để đặt giá treo cổ những tử tội, gần con đường có nhiều người đi qua, để mọi người có thể nhìn thấy các tội nhân bị hành hình và lấy đó mà làm gương !

Thật vậy đám đông đang ở đó... và nhìn... ao ước nhìn ! Ở đây, Luca dùng một từ rất có ý nghĩa: Ngài không dùng từ "đám đông", nhưng dùng từ' "dân chúng" (tiếng Hy-lạp là saos), một từ thường dùng để chỉ "dân Thiên Chúa". Cũng từ ấy dùng để nói "toàn dân say mê nghe Người giảng dạy trong Đền Thờ" (Lc 19,48) trong lúc mà các thượng tế và kinh sư cả các thân hào trong dân tìm cách giết Người (Lc 19,47). Luca thường ghi nhận rằng đối với Đức Giêsu, "dân chúng” khác với các thân hào (Lc 20,1 -20,45 - 21,38)

“Và dân húng đứng nhìn" như biến cố làm họ chán ngán. Sự im lặng của dân chúng rất ấn tượng. Dân chúng ít-ra-en hiền lành không còn hiểu gì cả. Họ đã chờ đợi Đấng Mêsia như một "ông vua", một vua Đa-vít mới. Trong lịch sử của họ, vương quyền không kéo dài được bao lâu và các ông vua của họ, không phải thiếu nhưng không có được tầm cỡ của vua Đa-vít và Sa-lô-môn ; nhưng đó là thời kỳ huy hoàng của ít-ra-en. Từ nhiều thế kỷ, họ đã không ngừng mơ ước có một vị vua là Đấng Mê-si-a, hưng thịnh, chiến thắng kẻ thù làm vị thẩm phân của Thiên Chúa. Vâng họ cứ ngỡ rằng Đức Giêsu đến để "phục hưng vương quyền của ít-ra-en". Họ đã thử tôn Người lên làm vua" : Người lại tránh né (Ga 6,15 ; Lc 19,38). Và giờ đây, Người kia kìa, bị kết án tử hình !

Dân chúng đứng nhìn"

Các thủ lãnh buông lời cười nhạo : “Hắn đã cứu người khác thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn".

Khác với những người dân đen đang đứng nhìn, đã hẳn, ngạc nhiên, đau đớn và thất vọng... Các thủ lãnh cười nhạo và buông lời thách thức. Thách đố của họ là Đức Giêsu hãy tỏ vương quyền của Người là Đấng Mê-si-a. Đấng được Thiên Chúa xức dầu là một danh hiệu vương đế bởi vì các vua Ít-ra-en được gọi như thế, và quả thực đã “thánh hiến" bởi dầu thánh, (Chrême) làm họ trở thành những Đức Kitô (tiếng Hy-lạp Christos dịch từ tiếng Mê-si-a trong tiếng Do Thái). Nếu Đức Giêsu là Đức Kitô, Đấng được tuyển chọn .(từ này lấy trong sách Isai-a 42,1) nếu Người là Cứu Chúa của thế gian trước tiên Người phải tự cứu lấy mình.

Những lời gào la chế nhạo ấy là tiếng vang của những lời ma quỷ cám dỗ trong sa mạc lúc Đức Giêsu bắt đầu đời sống công khai của Người (Lc 4,3). . . cũng là tiếng vang của những lời chê trách mà các người đồng hương Na-da-rét đã nói với Người : "Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình" (Lc 4,23) Trong thế giới hiện đại của chúng ta, "những kẻ thế thạo Thiên Chúa" không còn lớn tiếng như thế, nhưng chẳng phải vẫn luôn có cùng một vấn - đề , cùng một lời khinh chê : "Thiên Chúa phải tỏ mình ra đi, cho người ta thấy ! Phải hiện ra đi, nếu Người hiện diện ! Và câu trả lời của Thiên Chúa vẫn luôn là câu trả lời của Đức Giêsu : Người im lặng và không can thiệp vào bình diện các sự vật trần thế mà Người để chúng ton tại hoàn toàn tự lập. . .Người không biện hộ cho mình. . . Người để cho mình bị lên án là bất lực và không hiện hữu... Đức Giêsu, cũng như Thiên Chúa, không bao giờ nhượng bộ sự cám dỗ để "hành động vì mình", sử dụng sự Toàn Năng của mình chỉ vì chính Mình.

Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói : "Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi !"

Đó là những binh sĩ La Mã, những dân ngoại trong đoàn quân xâm lăng ; họ dùng từ “vua" mà họ nhìn thấy ghi phía trên đầu Người. Một sự chế giễu cao siêu lại một lần nữa nhắm vào kẻ bị loại trừ đó, bị treo trên thập giá... thở khò khè chờ tắt thở !

Phía trên đầu Người, có bản án viết : "Đây là vua người Do Thái"

Nghi lễ lên ngôi của các ông vua bao gồm một bản phong vương : một Thượng tế nhân danh Thiên Chúa ban cho nhà vua "danh hiệu” của vua, như người ta thấy trong Thánh Vịnh 109 : "Ngày đăng quang con nắm tuyển thủ lĩnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh con".

Ở đây bên trên "ngai vàng" ứng biến là thập giá, bản án dùng làm bản phong vương, giống như Lời của Chúa Cha tấn phong Con Người trên sông Giođan ngày Người chịu phép rửa : "Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con" (Lc 3,22). Trong Tin Mừng thánh Luca, bản án trên thập giá không được trình bày như một "lời lên án". Đức Giêsu đã được giới thiệu như một ông vua, nhưng "Nước Người không thuộc về thế gian này" (Ga 18,36). Trong một sứ vụ của Người, Người đã hết sức cẩn thận không cho người ta giải thích sứ vụ của Người theo nghĩa chính trị . Vương quyền của Người được thiết lập ở trần thế nhưng không cạnh tranh với "các vương quốc hoặc hệ thống chính trị trần thế". Thập giá ấy, ngai vàng ấy, danh hiệu ấy đã làm tan tành mọi niềm hy vọng hoang tưởng" của chủ nghĩa Đấng Mê-si-a vua dân Ít-ra-en.

Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người : "ông không phải là Đấng Kitô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với !"

Câu chuyện của Luca được xây dựng theo kiểu bi kịch, trong sự căng thẳng tăng lên dần : dân chúng đứng "nhìn"…các thủ lãnh "cười nhạo”…lính tráng "chế giễu” …những tên gian phi "nhục mạ " ….

Luật của Môsê đòi phải có "hai chứng nhận" để mọi hành động trở thành hợp pháp. Như thế, các chứng nhân của việc tôn phong Chúa : Biến hình là hai nhân vật chính của Cựu ước. Môsê và E-li-a (Lc 9, 28.36). Hai chứng nhân của sự sống lại sẽ là hai người lữ hành dễ thương và bí hiểm trên đường trở về Em-mau (Lc 24,18), trước đó ít lâu là hai chứng nhân không kém huyền bí của Ngôi Mộ trống (Lc 24,4). Nhưng ở đây, hai chứng nhân cho sự lên ngôi ở Núi Sọ chỉ là hai tên cướp tầm thường. Đức Giêsu, vị vua bị nhạo báng đến cùng !

Đức Giêsu, vị vua của ngày thứ Sáu Tuần Thánh là một vị vua bị bóp méo xuyên tạc mà người ta ngần ngại chỉ ra như một người bị nhạo báng, trần truồng, bị khạc nhổ và đầy những vết thương đẫm máu, hai bên có hai tên gian phi….

Nhưng tên kia mắng nó : "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái !"

Trong tiếng ồn ào của sự khinh bỉ chung, đây là một tiếng nói yếu ớt và nghèo nàn dám nói chen vào. Chính Đức Ma-ri-a ở dưới chân thập giá đã nghe được và đã thuật lại cho Luca, là người duy nhất đã kể lại cho chúng ta. Luca vị thánh sử của lòng "nhân hậu” và của những "người nghèo hèn" đã phải vui mừng đặc biệt về việc này. Triều Đại của Đức Ki tô, Nước Thiên Chúa chỉ mở ra cho những người "hối cải". Đối với Đức Kitô, cách thực thi vương quyền của Người trên mọi người, kể cả những kẻ thù của Người, chính là ban cho họ dn tha thứ (Lc 23, 34.43)... một sự tha thứ không hạn chế ? Để vào được Nước Chúa, không cần điều lớn lao là "công chính". Người tội lỗi cũng có chỗ trong Nước Chúa với một điều kiện duy nhất : đón nhận ơn tha thứ mà Thiên Chúa lúc nào cũng ban cho chúng ta. Người đầu tiên sống sự hòa giải hoàn vũ này là một "kẻ cắp", kẻ đã biết nhận ra tội lỗi của mình và đồng thời công bố sự vô tội của Đức Giêsu.

Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu : "ông Giêsu ơi khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” Và Người nói với anh ta : "Tôi bảo thật anh hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng".

Đức Giêsu đúng là “Ađam mới", giúp nhân loại về lại địa đàng đã mất. Chia sẻ "cùng một nỗi khổ cực như Đức Giêsu, chết, đó là bắt đầu "sống với Đức Giêsu”.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

“Lạy Ngài, khi nào về Nước-Trời xin Ngài nhớ đến tôi”(Lc 23,35-43).

I. Ý CHÍNH :

Tin-Mừng hôm nay ghi lại biến cố Chúa bị đóng đinh vào thập gia, trong biến cố này có những chi tiết nói lên tính cách Vương quyền của Chúa Giê-su.

II. SUY NIỆM :

1. “Các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa”:

Sau khi đóng đinh Chúa Giê-su, những kẻ chống đối Chúa cảm thấy thoả lòng căm phẫn và thốt lên những lời mỉa mai chế nhạo Chúa.

Ở đây các thủ lãnh tôn giáo nhạo bán Chúa Giê-su bằng cách nại đến việc Chúa Giêsu tự xưng là Vua Thiên Sai. Nếu ngài là Đấng đươc sức dầu của Thiên Chúa (tước hiệu của Vua) là người Thiên Chúa tuyển chọn (tước hiệu Thiên Sai tức là Đấng Cứu Thế) như Ngài nói thì hãy tự cứ lấy mình đi.

Lời nhạo bán này như một cơn cám dỗ, tương tự như những cơn cám dỗ khác, như khi Người bị ma qũy cám dỗ sau 40 này ăn chay (Lc 4,3) như khi Người ở Nagiaret quê hương của Người (Lc 4,23) và bây giờ cơn cám dỗ cuối cùng trước khi được tôn vinh

2. “Quân lính đều chế diễu Người ..”:

Quân lính cũng nhạo báng khi chúng đưa dấm chua cho Người uống. Dấm đây là thứ rượu chua mà lính Lamã thời ấy quen dùng, có lẽ muốn liên tưởng đến Thánh Vịnh 69,22 mà Thánh Luca viết là dấm: “Con khác chúng cho uống dấm chua”.

3. “Nếu ông là vua dân Do Thái hãy tự cứu mình đi”:

Đây là một lời nhạo báng, nhưng cũng là lời nhạo báng có tiúnh cách cám dỗ Chúa Giê-su, vì nếu quả thật Chúa Giê-su là vua thật theo kiểu trần thế thì Chúa Giê-su phải tự cứu mình để làm chứng. Nhưng Chúa Giê-su không phải là vua theo kiểu trần thế nên Người đã không bị xa ngã vì lời nhạo báng này.

4. “Phía trên đầu Người …người này là vua dân Do Thái”:

Đây là lời châm biếm sâu sắc của Phalitô (Ga 19,15; 19,22) cũng như tục lệ Việt Nam xưa, người Do Thái quen làm bản ghi rõ tội nhân đã can phạm tội gì. Chính người Do Thái truy tố Chúa Giê-su về tội xưng vương. Nhưng ngờ đâu tấm bản án này lại là tấm bia rao báo trước sự vinh hiển của Chúa Giê-su.

5. “Một trong hai kẻ trộn bị đóng đinh”:

tên trộm dữ này cũng châm biếm và nhạo báng Chúa Giê-su như một vị vua giả, y nghĩ rằng ơn cứu rỗi mà y muốn xin thì ông này không thể thực hiện được, vì ông cũng chỉ là một Người sắp chết như một tên tử tội mà thôi.

Những lời nhạo báng của các thủ lãnh, của bọn lính, của tên trộm dữ, cũng như tấm bảng treo trên thập giá lại là những lời nói lên Vương quyền của Chúa Giê-su, vì Vương quyền của Người không nhằm mục đích phục vụ cá nhân như người ta khiêu khích và thách thức Người, nhưng là Vương quyền Người thiết lập để thu góp tất cả mọi người vào đó nhờ cái chết của Người trên thập giá.

6. “Đối lại tên kia mắng nó rằng …”:

Thái độ của người trộm lành là thái độ của một người biết đón nhận ơn cứu độ. Thái độ này được biểu lộ qua việc :

+ Biết kính sợ Thiên Chúa : “Mi cũng chịu đồng một bản án mà mi không sợ Thiên Chúa sao?”.

+ Biết ăn năn thống hối các tội đã phạm: “Phần chúng ta như thế này là đích đáng”.

+ Biết tin nhận vào Chúa Giê-su : “Còn ông này có làm điều gì xấu đâu”.

+Biết tin nhận vào đời sống đời sau, sự sống trong Vương quyền của Chúa Giê-su: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”.

Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do Thái, của bọn lính, của bản án treo trên thập giá cũng như của tên trộm dữ. Vương quyền của Chúa Giê-su được nhắc đi nhắc lại và nhất là lời tuyên xưng của người trộm lành: “Khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi” đã nói lên Vương quyền của Chúa Giê-su : Một Vương quyền không cai trị bằng sức mạnh biểu dương : “Tự cứu mình và cứu chúng tôi”, nhưng bằng cái chết để thu góp mọi kẻ tin nhận vào Vương quyền của Người.

7. “Ta bảo thật ngươi : Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”:

 Câu trả lời của Chúa Giê-su nói lên tính cách Vương quyền của Người.

+ “Ngày hôm nay” : đây là một việc thực hiện ngay tức khắc, chứ không là một việc xảy ra sau khi Chúa Kitô phục sinh hoặc vào ngày thế mạt.

+ “Trên thiên đàng” : chỉ nơi tuyệt diệu hạnh phúc, nơi những người công chính qui tụ chung quanh Chúa Giê-su vinh hiển. Vì chính được sống thân mật với Chúa Giê-su là thiên đàng rồi.

+ “Với Ta” : đây là điểm then chốt chính yêú. Hạnh phúc hứa ban cho người trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Chúa Giê-su, mà anh đã chia sẻ số phận của Người trên thập giá.

Vương quyền của Chúa Giê-su xem ra có thể bị huỷ hoại vì các lời thoá mạ lăng nhục thì giờ đây, được Chúa Giê-su tỏ hiện. Người thi hành cách riêng của Người, cách hoàn toàn thần linh : không phải bằng cách xuống khỏi thập giá nhưng bằng cách kéo mọi người lên cùng Người.

Chính vì vậy thay vì xin phép lạ được xuống khỏi thập giá ngay lập tức, người trộm lành thống hối xin Đấng mà anh ta đã nhận biết quyền năng trong một thế giới cao siêu, đừng quên anh. Anh tuyên xưng niềm trông cậy vào sự Phục Sinh tương lai.

Và cuộc chinh phục của vi Vua bị đóng đinh, lan rộng đến tên sĩ quan, ông tôn vinh Thiên Chúa khi nói: “Ông này thật là một Người công chính” (Lc 23,47) : Đến đám đông dân chúng “Đều đấm ngực và lui về” (Lc 23,48) và sau cùng đến với tất cả những ai qua muôn thế hệ sẽ tin vào Người.

III.ÁP DỤNG :

A/ Áp dụng theo Tin-Mừng :

Qua bài Tin-Mừng được suy niệm vào ngày Chúa nhật cuối cùng của niên lịch phụng vụ hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc lại một lần nữa việc tôn xưng Chúa Giê-su là Vua, để nhờ đó mỗi người chúng ta biết xác tín lại sự suy phục của mình đối với Chúa Kitô bằng niềm tin, cậy, mến Chúa và bằng nếp sống đạo theo tinh thần và gương sáng của Chúa Kitô.

B/ Áp dụng thực hành :

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :

a. xem việc Chúa làm:

+ Chúa Giê-su nhịn nhục trước những lời lăng nhục …Noi gương Chúa, chúng ta can đảm chịu đựng những sự xúc phạm của những người chung quanh để theo chân Chúa lập công đền tội và duy trì tinh thần hiệp nhất và bác ái với tha nhân.

b) Nghe lời Chúa nói :

+ “hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”: Chúa hứa với người trộm lành có lòng thối hối và tin nhận vào vương quyền của Chúa. Chúa cũng thực hiện lời hứa này đối với tất cả những ai có lòng hoán cải đời sống và tin phục vào Chúa trong niềm tin cậy mến Chúa.

2. Nhìn vào những người lăng mạ Chúa :

 Họ khiêu khích thách thức Chúa và họ đòi hỏi Chúa theo ý họ muốn. Khi cầu nguyện mà chúng ta nằng nặc đòi hỏi Chúa thực hiện theo ý muốn của mình, đó là chúng ta thách thức Chúa. đó là lý do Chúa không nhận lời chúng ta cầu nguyện.

3. Nhìn vào người trộn lành:

Muốn được Chúa hứa ban phúc thiên đàng, chúng ta cũng phải bắt trước người trộm lành biết thống hối tội mình, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa và nhất là biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau./.

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN

Địa chỉ: Số 06, Tôn Đức Thắng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Copyright © CHỦNG SINH KHÓA 10