Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng – Chúa Nhật Tuần IV Mùa Phục Sinh Năm C (Ga 10,27-30)

Mọi thính giả của Đức Giêsu, cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Kinh Thánh trên, đặc biệt là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ . . . trước khi quả quyết rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này : Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng... 

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT IV MÙA PHỤC SINH NĂM C

NGÀY 08/05/2022



Noel Quesson - Chú Giải

Tôi là…
 
Cần phải đặc biệt chú ý tới hai từ trên mà Đức Giêsu đã không ngần ngại sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 4,26 - 6,2ỏ '- 7,29 - 8,58 - 13,19 - 14,20 - 17,24 - 18,5 - 18~6:.) Ta cũng biết rằng, hai từ đó gợi lên kiểu viết "bốn chữ cái không phát âm được là "Tên mầu nhiệm" mà chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Môsê trong sa mạc Sinai.
 
YHVH được chuyển dịch thành YaHVeH và đọc là “Adonai", "Đức Chúa”.
 
Hơn nữa, qua nhiều câu trích dẫn như dưới đây, Tin Mừng theo thánh Gioan đã sử dụng tới ba mươi lần hai từ trên "Tôi là . . . ", kèm theo một phẩm tính :
 
- "Tôi là Bánh hằng sống" (Ga 6,35-42,48-51).
- “Tôi là ánh sáng thế gian" (Ga 8.12-9,5).
- "Tôi là Sự sống lại và là sự Sống" (Ga 11.,25 ).
-"Tôi là Cây nho thật" (Ga 15,l-5).
-"Tôi là Cửa cho chiên ra vào" (Ga 10,7-9).
-“Tôi là Mục tử nhân lành" (Ga 10,11-14).
 
Theo các nhà chú giải Kinh Thánh đúng đắn, những kiểu nói trên muốn diễn tả hữu thể thần linh của Đức Giêsu. Thánh Gioan đã viết : "Ngôi Lời đã trở nên người phàm" (Ga l,14).
 
Tôi là Mục tử nhân lành (người chăn chiện đích thực).
 
Ở đây, Đức Giêsu không chỉ sử dụng một hình ảnh đẹp dân gian và đồng quê, nhưng trước hết đó là một kiểu nói Kinh Thánh vô cùng phong phú. Trong khắp vùng Đông Phương , cổ, các vua chúa thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai Cập : "Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc" (Tv 78,52) Đavit, một trong những nhà lãnh, đạo chính trị đầu tiên của ít-ra-en, là một cậu chăn chiên tại Bêlem (1 S 17,34-35). Ong Vua lý tưởng của tương lai, Đức Miêxia, Đavit mới, cũng được loan báo như một “Mục tử” : "Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavit, tôi tớ của Ta" (Ed 34,23).
 
Mọi thính giả của Đức Giêsu, cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Kinh Thánh trên, đặc biệt là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ . . . trước khi quả quyết rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này : Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng... Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng tán loạn... Ta sẽ chăn nuôi chúng nơi bãi cỏ tốt... Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta, sấm của Đức Chúa Giavê. Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm . . . " (Ed 34,1-31).
 
Như thế, rõ ràng của Đức Giêsu cũng không thể  lầm về địa vị đó. Họ rất hiểu ý định của Chúa : "Nhiều người trong nhóm họ nói : ông ấy điên khùng rồi ? 'Kẻ khác bảo : ông nói phạm thượng, ông là người phàm mà lại tự cho mình, là Thiên Chúa" (Ga 10,20-33). Chính vì thế, họ lấy đá để ném Đức Giêsu.
 
Có lẽ chúng ta nên cầu nguyện lâu hơn dựa vào hình ảnh "Mục tử" biểu trưng này, chẳng hạn dùng Thánh Vịnh 22 : "Chúa là Mục tử chắn dắt tôi, Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tưới, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi đến dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi…".
 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang dẫn con đi….Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang chăm sóc. Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu mến con... Và cầu nguyện như thế, không phải là một kiểu cầu nguyện chủ quan, nặng tình cảm và trống rỗng: Chúng ta sẽ nhận ra, Đức Giêsu còn tiếp tục gọi lên cho ta nội dung cầu nguyện phong phú hơn.
 
Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi... Tôi biết chúng và chúng theo tôi.
 
Ngày nay, hình ảnh con cừu, hình ảnh đoàn vật dễ mang một nghĩa xấu : Đừng có u lì như  lũ cừu ? Đừng có tinh thần. đoàn vật ? Thực sự, hình ảnh của Kinh Thánh mang ý nghĩa ngược lại. Ở đây, ba động từ được Đức Giêsu nói lên, là những động từ tác động rất phù hợp với con người : nghe, biết, theo.
 
“Nghe " : đó là một trong những thái độ cốt yếu, trong tương quan giữa hai người. Biết lắng nghe, là dấu chỉ của tình yêu đích thực. Biết bao lần, ngay trong một nhóm người, ngay lúc  tụ họp chung quanh một bàn tròn, ngay trong một cuộc trao đổi mệnh danh là đối thoại, thế mà thực sự ta, chưa biết lắng nghe. Trong Kinh Thánh, các ngôn sứ không ngừng mời gọi ít-ra-en biết lắng nghe. "Hỡi ít-ra-en, hãy nghe đây ?" (Đnl 6,4 ; Am 3,1 ; Gí 7,2 ; Tv 29,3-9). Lắng nghe, đó là khởi sự của lòng tin. Thánh Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu như Ngôi Lời, Lời Thiên Chúa mà Chúa Cha muốn ngỏ cùng thế gian. "Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người" (Mt 17,5).
 
“Theo" : đó là một hành động không có gì là thụ động cả, nhưng diễn tả một thái độ tự do : dính kết toàn thân một người nào đó vào thân phận một kẻ khác. Theo nghĩa là gắn bó với... Đức Giêsu mời gọi : "Hãy theo tôi" (Ga l,42).
 
“Biết” : trong Kinh Thánh, từ này trước hết không mang một ý nghĩa tri thức. Chính tình yêu mới làm cho ta nhận biết người nào đó một cách đích thực, đến nỗi đoán được cả tâm tính họ. Sự tin mật, - hiểu biết lẫn nhau, yêu mến sâu xa, hiệp thông tâm hồn, trí não, thân xác... là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng (St 4,l).
 
Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.
 
Đây đúng là một cộng đồng sinh mệnh giữa Mục tử và đoàn chiên, giữa Đức Giêsu và "những kẻ nghe tiếng Người và theo Người"'. Đúng là- một sự liên kết vĩnh viễn.
 
Lạy Chúa, khi cầu nguyện, con cố tưởng tượng ra, thực sự con đang ở trong "bàn tay Chúa". Bàn tay mà Chúa đã giơ ra cho người bệnh để cứu chữa họ. Bàn tay Chúa đã chìa ra cho Phêrô lúc ông chìm sâu dưới lòng biển. Bàn tay đã cầm Bánh hằng sống, vào chiều Thứ Năm Thánh. Bàn tay mà Chúa đã dang rộng trên thập giá tại đồi Gôngôtha. Bàn tay bị thương tích do đinh đâm thấu qua, mà Chúa đã minh chứng với Tôma. Trong bàn tay đó, Chúa đã nắm chặt lấy con và không ai có thể cướp được con ! Lạy Chúa Giêsu xin tạ ơn Chúa.
 
Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.
 
Như thế, chúng ta. được cả "hai bàn. tay" giữ gìn.
 
Như một bé thơ được cả cha mẹ giữ gìn, và hướng dẫn trong an toàn tuyệt đối, hình ảnh đó đẹp biết bao!
 
Lạy Chúa, con muốn dùng hình ảnh trên để cầu nguyện cùng Chúa. 'Lạy Chúa Giêsu và Chúa Cha, xin giữ gìn những người con thương mến trong bàn tay của Chúa.
 
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận ra rằng, đó không phải là cảnh sắc màu mè diễn tả những "mục tử hiền lành" và các chú cừu con lông xoăn". Người mục tử Đông phương là một người du mục đáng gườm, một thứ lính chiến, có khả năng bảo vệ đoàn vật mình khỏi thú dữ... gấu hay sư tử đến để cướp đoạt một con chiên khỏi đàn (1 S 17,34-35).
 
Đức Giêsu, khi Người nói những lời đó, đã nghĩ đến cuộc giao chiến khốc liệt mà Người sẽ phải đường đầu trong cuộc
 
Thụ khổ để đối phương "không cướp được" một chiên nào khỏi tay Người. Khác với kẻ chăn thuê, thường chạy trốn trước sói dữ, Đức Giêsu sẽ phó nộp và đành mất mạng sống mình vì chiên của Người (Ga 10,12-15).
 
Cùng với Đức Giêsu, tôi có khả năng, chiến đấu để cứu sống anh em tôi không?
 
Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.
 
Thế nhung, lạy Chúa , làm sao giải thích được những hiện tượng bỏ hàng ngủ, bất trung thường thấy chung quanh chúng con, hay ngay trong đời sống chúng con ?
 
Đó là mầu nhiệm của tự do ! Nhưng một điều chúng ta cần biết, đó là không khi nào Chúa buông bỏ ! Chỉ có con người rời bỏ bàn tay Chúa. Và ngay khi con người rời bỏ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tìm liên hệ lại. "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ?" (Lc 15,4-7). Vậy chúng ta đã tự tạo hình ảnh sai lầm nào về Thiên Chúa, để nghĩ rằng Người có thể kết án những tội nhân ? Chớ gì chúng ta cần cố gắng ít phạm tội đối với Thiên Chúa yêu thương!
 
Tôi và Chúa Cha là một.
 
Các chiên của Đức Giêsu, Người nói chúng đã được Chúa Cha, Thiên Chúa trao phó cho Người. Nhưng chúng vẫn luôn ở trong bàn tay của Thiên Chúa.
 
Những kiểu nói như trên đã dẫn chúng ta bước vào một vực thẳm choáng váng, khi đứng trước con người Giêsu Nadarét : trong con người thực sự đổ, được sinh ra từ một phụ nữ, đã lớn lên, sắp phải đổ máu và bị giết đi... lại chính là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng và hành động. Đức Giêsu, chính là Thiên Chúa tự mạc khải trong tình thân hữu với con người. "Tôi và Chúa Cha là một”. Các công đồng sẽ phải nỗ lực xác định và đưa ra những quan niệm. Nhưng sẽ không khi nào có được một kiểu nói giúp ta hiểu được mầu nhiệm của con người Giêsu. Tất cả những gì đã nói, trong công thức trên, chỉ có thể phải "lắng nghe" trong đức tin : "Chúa Cha và tôi, chúng tôi là một. . . Thiên Chúa và tôi, Giêsu, chúng tôi là một. . . "
 
Đó là lý do Đức Giêsu dám quả quyết, Người “ban sự sống đời đời " .
 
Đó là lý do, như chính Thiên Chúa, Người có thể tuyên bố : "Tôi là...".
 
Đó là lý do Người đã bị buộc tội là một kẻ phạm thượng, bị người đời đóng đinh, nhưng được Thiên Chúa “minh chính hóa", bằng cách cho Người từ cõi chết sống lại.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

“Ta ban cho các chiên ta được sống đời đời”. (Ga 10,27-30)
 
I. Ý CHÍNH:
 
Bài Tin-Mừng hômnay ghi lại lời tuyên bố quan trọng của Chúa Giê-su về việc Người tự xưng đồng bản tính với Thiên Chúa Cha để trả lời cho những người Do Thái đến tranh luận với Người về chính nguồn gốc của Người.

II. SUY NIỆM :

Chúa Giê-su đang ở Giêrusalem trong dịp lễ cung hiến đền thờ. Tại đây xảy ra cuộc tranh luận với người Do Thái về vấn đề người có phải là Đấng Thiên Sai không và cuối cùng Người đã tự xưng mình là Con Thiên Chúa (lc 22-70) bằng cách tuyên bố rằng Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha trong sự hiệp thông trọn vẹn đời sống và việc làm (lc 10,22-41).

Bài Tin-Mừng hôm nay là một phần trích trong cuộc tranh luận và ghi lại lời Chúa Giê-su quả quyết Người đồng bản tính với Chúa Cha.

1 . “Chúa Giê-su nói rằng : chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”

Trước khi trả lời dứt khoác, Người đồng bản tính với Chúa Cha, Chúa Giê-su tuyên bố sự khác biệt nhau giữa người Do Thái và “Chiên của Người”, tức là những kẻ tin theo Người. Đối với những người Do Thái, những lời Người nói và những việc Người làm là các phép lạ, không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn tin. Ngược lại, chiên của Người là những người biết ngoan ngoãn đón nhận. Vì họ không cần đến nhiều dấu lạ bên ngoài để làm điều kiện cho việc đi theo Người.

Động từ “nghe” ở đây bao hàm ý nghĩa tin tưởng và đón nhận. Nghe Chúa Giê-su là tin tưởng và đón nhận Ngài.

2. “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”:

a) Tiếng “biết” ở đây bao hàm ý nghĩa chủ động, tức là do sáng kiến từ Thiên Chúa.

- Thiên Chúa biết Abraham (St 18,19) biểu lộ ý nghĩa Thiên Chúa tuyển chọn và chăm sóc Abraham.

- Thiên Chúa biết dân Người “Trong các dân tộc trên hoàn cầu Ta chỉ biết duy một mình có ngươi thôi” (Am 3,2). Ở đây có ý nói Chúa Giê-su tuyển chọn và chăm sóc các chiên của Người.

b)  Chúng theo Tôi : Tiếng “theo” ở đây bao hàm ý nghĩa liên đới trong sự lệ thuộc. Theo ai là dõi theo bước chân người đó là bước theo sát bước chân người đó. Ở đây có ý nói các chiên dõi theo Chúa Giê-su để rập theo khuôn mẫu sống của Người. Hay nói cách khác theo Chúa là đáp trả lời mời gọi của Chúa.

3. “Ta cho chúng được sống đời đời…”:

Con chiên đi theo chủ chăn thì sẽ được dẫn đến dẫn đến đồng cỏ xanh tươi bảo đảm cho sự sống. Cũng vậy, những ai thực sự đi theo Chúa, tức là để Chúa dẫn dắt, thì sẽ được bảo đảm đưa đến sự sống đời đời.

Sự sống này, một đàng không thể mất được vì đã được chính Chúa Giê-su là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống bảo đảm, đàng khác cũng không bị ai cướp đi được, vì một khi đã được Chúa chăn dắt thì không còn sợ vấn đề Người không đủ khả năng chăm sóc và bảo vệ cho đàn chiên nữa.

Ở đây muốn nói khi đi theo Chúa Giê-su thì sẽ được Người ban sự sống đời đời và được Người đảm bảo sự sống ấy cách chắc chắn không thể mất được.

4. “Điều mà Chúa Cha ban cho Tôi …”:

Chúa Cha trao ban cho Chúa Giê-su những con chiên, chúng được coi như là những món quà tặng quý giá nhất. Vì tính cách quý giá như thế nên Chúa Giê-su phải giữ gìn món quà tặng đó như Chúa Cha đã gìn giữ vậy. Ở đây cho chúng ta thấy Chúa Cha và Chúa Con cùng làm việc bảo vệ gìn giữ đàn chiên. Và như vậy Chúa Giê-su liên kết Cha Người vào công trình của Người vì Cha Người là nguồn mạch mọi ơn huệ.

5. “Tôi và Cha Tôi là một”:

Lời tuyên bố này có ý nói đến sự hiệp thông thân mật của Chúa Giê-su với Chúa Cha, và đây là một mạc khải quan trọng rõ ràng nhất về thần tính của Chúa Giê-su và mầu nhiệm sâu sa của Thiên Chúa.
Cũng cần lưu ý rằng các Thần học gia từ Tertulien đến Augustinô đã dùng lời tuyên bố này của Chúa Giê-su làm nền tảng cho việc chứng minh Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính nhưng khác ngôi vị, để chống lại lạc thuyết Ariô vốn phủ nhận thần tính của Chúa Giê-su.

III.ÁP DỤNG :

A. Áp dụng theo Tin-Mừng :


Giáo Hội muốn dùng bài Tin-Mừng này trong mùa Phục sinh để nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giê-su sau khi Phục Sinh, vẫn còn chăm sóc đàn chiên của Người và Giáo Hội, và vì vậy chúng ta phải xác tín vào vai trò hoạt động của Chúa Giê-su trong Giáo Hội và trong từng con chiên là các Ki-tô hữu.

B. Áp dụng thực hành:

a.Nhìn vào Chúa Giê-su:

1. Xem việc người làm:


- Chúa Giê-su đã lấy hình ảnh con chiên để ví người Ki-tô hữu và mục tử là chính Người để dạy cho chúng ta về sự chăm sóc của Người đối với mỗi người chúng ta. Noi gương Chúa Giê-su chúng ta phải chăm sóc nhau, nhất là những người có trách nhiệm liên đới tới tha nhân như người mục tử chăm sóc đàn chiên và lưu tâm từng con chiên.

- Chúa Giê-su đã mạc khải cho chúng ta về thiên tính của Người, để dạy cho chúng ta biết những công việc của Người làm là công việc của Thiên Chúa. Noi gương Chúa Giê-su chúng ta phải biểu lộ ý hướng ngay lành trong công việc chúng ta làm để gây nên niềm tin tưởng cho tha nhân.

2. Nghe lời Chúa nói :

- Chiên Tôi nghe tiếng Tôi : là con chiên đích thực của Chúa thì phải biết nghe Chúa bằng cách tin và đón nhận lời Chúa vào cuộc sống của mình.

- “Tôi biết chúng …” : Chúa chăm sóc những ai sống theo Người. Những ai biết chăm chỉ dõi theo Chúa bằng sự suy niệm, cầu nguyện để sống mỗi ngày một hoàn thiện “như Cha của các con ở trên trời là Đấng hoàn thiện” thì sẽ được bảo đảm sự sống đời đời.

- “Không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi” : Nhờ ân sủng của Chúa, chúng ta sẽ vượt thắng được mọi gian nan thử thách và không việc gì có thể tách rời ta ra khỏi Chúa được.

- “Cha Tôi và Tôi là một” : Chúa Giê-su mạc khải cho ta về sự hiệp thông của Chúa Cha và Chúa Con. Vì vậy ai hiệp thông với Chúa Giê-su qua các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể thì cũng được hiệp thông với Thiên Chúa. Thật là diễm phúc cho những ai biết ý thức sự hiệp thông với Thiên Chúa mỗi khi nhận lãnh Bí tích, nhất là khi rước lễ.

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN

Địa chỉ: Số 06, Tôn Đức Thắng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Copyright © CHỦNG SINH KHÓA 10