Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng – Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh Năm C (Ga 13,31-35)

Sự bình an của Đức Giêsu được diễn tả trong một câu nằm giữa hai phó từ : giờ đây. . . sắp sửa . Những động từ ở đầu câu thuộc thời hiện tại (nhằm diễn tả một tình trạng bất định theo tiếng Hy Lạp, nghĩa là thời gian của "các vật chưa hoàn tất"), và những động từ ở cuối câu thuộc thời tương lai...

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT V MÙA PHỤC SINH NĂM C

NGÀY 15/05/2022

Noel Quesson - Chú Giải


Từ đây cho đến hết Mùa Phục sinh, chúng ta sẽ đọc một số trích đoạn “cuộc nói chuyện cuối cùng của Đức Giêsu” vào chiều Thứ Năm Thánh, hôm trước ngày Người "ra đi" : đó là di chúc tinh thần của Ngài.
 
Khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói...
 
Ta có cảm tưởng rằng, Đức Giêsu được tự do, Người có thể bắt đầu bày tỏ một số tâm sự . . . như thể sự  hiện diện của kẻ phản nộp đã bít cứng cổ họng Người, khiến không có dịp thốt nên lời.
 
Khi chúng ta nghĩ đến những nỗi cô đơn thương đau, những khó khăn trong mối quan hệ, những tình trạng chặn nghẽn tâm lý, đôi khi ngăn cản chúng ta không thể nói hết những gì' cần phải diễn tả... lúc đó ta hãy nghĩ đến Đức Giêsu, vì trong thân phận con người, Người đã thấu cảm những tình huống đau thương như thế.
 
Khi chúng ta chịu đựng những xung đột giữa người đời, trong các nhóm, những chống đối và hiểu lầm. . . chúng ta hãy nghĩ đến Đức Giêsu, vì Người cũng đã chịu đựng những điều như thế. Chiều hôm đó, bầu khí trong nhóm đang tụ tập chung quanh bàn ăn với Người, trở nên bi thiết : một người trong họ vừa bước ra ngoài... để phản bội nhóm. Đó là thái độ quá quắt của kẻ "không có ,tình yêu” : tố cáo bạn hữu, ruồng bỏ một người mà mình đã trải qua nhiều năm tháng kết tình kết nghĩa.
 
Đức Giêsu không phải là không có khả năng thông cảm mọi khó khăn của ta. Người đã sống những khốn khó đó.
 
Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người .
 
Đức Giêsu luôn hoàn toàn thanh thản. Trong tình trạng nguy kịch phải đường đau, Người vẫn giữ được một sự bình an siêu phàm. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sự bình an đó.
 
Sự bình an của Đức Giêsu được diễn tả trong một câu nằm giữa hai phó từ : giờ đây. . . sắp sửa . Những động từ ở đầu câu thuộc thời hiện tại (nhằm diễn tả một tình trạng bất định theo tiếng Hy Lạp, nghĩa là thời gian của "các vật chưa hoàn tất"), và những động từ ở cuối câu thuộc thời tương lai. Toàn thể một thái độ tinh than tiềm ẩn đằng sau cấu trúc ngôn ngữ trên. Trong giây phút hiện tại, giây phút đầu tiên của cuộc Thụ Khổ mà Giua đã mở ra…Đức Giêsu đã nghĩ đến kết quả của tiến trình sắp được thể hiện qua biến cố Phục sinh. Như thế, niềm hy vọng đã giúp ta cảm thấy trước những gì vẫn còn ở trong tương lai ! "Tôi nghĩ rằng : những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta" (Rm 8,18). Cũng như Đức Giêsu, ngay từ bây giờ, giữa đau khổ hiện tại, tôi có thể đã nếm cảm được thứ hạnh phúc vô biên đó, sẽ được thể hiện cách trọn vẹn, mãi mãi nhưng muộn hơn, sau này.
 
Giờ đây, Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người.
 
Chúng ta trở lại mạc khải đáng ngạc nhiên trên đây, khiến ta có dịp bước sâu vào "nội tâm của Đức Giêsu. Tiến trình cuộc Thương khó vừa mới được mở ra, do thái độ bước ra ngoài của "kẻ trao nộp Đức Giêsu”. Do đó, ngay tức khắc, đối với Đức Giêsu , vinh quang của Người đã hiện ra rồi ! Đó là sự thực. Thật là khó khăn chúng ta mới tin được rằng, thập giá đã là vinh quang của Đức Giêsu. Chúng ta có khuynh hướng dễ khóc thương trong Ngày Thứ Năm, Thứ Sáu Thánh dù rằng ngay sau đó phải vội bỏ qua để sống niềm vui rộn rã của Chúa nhật Phục sinh. Thế nhưng, chính "Đấng chịu đóng đinh" đã được tôn vinh và làm vinh quang Thiên Chúa ? Đến khi nào ta mới hết coi thập giá như một vật ghê tởm, cần phải tìm hết cách thủ tiêu ? Thực sự, nhìn theo quan điểm của Đức Giêsu, thập giá của Người, chính là vinh quang của Người ? "Không có tình yêu nào lớn hớn" (Ga 15,13). Tuy nhiên, kẻ yêu thương, theo kinh nghiệm, luôn biết rằng, tình yêu thương dẫn đến hy sinh bản thân cho người mình yêu mến. Còn kẻ chỉ biết yêu bản thân mình, sẽ không thể hiểu được.
 
Bạn có muốn biết mình thương yêu người nào không?
 
Bạn hãy tự hỏi xem bạn có thể hiến thân mình cho họ vì yêu thương không. Nhưng coi chừng, một giọng nói lừa đảo của thế giới hiện đại sẽ trấn an bên tai bạn rằng, hiến thân như thế là lầm to, bạn sẽ thành nạn nhân, sẽ mất nhân vị, bạn phải nghĩ đến mình một chút; để cho đời thêm tươi.
 
Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi.
 
Đó là những lời đầy âu yếm, những lời nói của người mẹ. Trong tất cả các Tin Mừng, đây là lần duy nhất Đức Giêsu dùng kiểu xưng hô : “Hỡi các con bé nhỏ của Thầy…”
 
Đức Giêsu phải ra đi. Người biết rõ điều đó. Người đã phát biểu thành lời. Nhưng thật đáng tiếc, Sách Bài đọc đã cắt bỏ một câu như sau : "Anh em sẽ tìm kiếm Thầy, nhưng như Thầy đã nói với người Do Thái : "Nơi tôi đi, các ngươi không thể đến được", bây giờ Thầy cũng nói với anh em như vậy . Thế giới ngày nay đang đặt nặng vấn đề sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa. Đức Giêsu biết rằng, buổi chiều mà Người đang sống với các bạn hữu của mình là buổi chiều cuối cùng. Người sắp để họ ở lại một mình, không có sự hiện diện của Người cách hữu hình, nhân loại, cụ thể... nhưng rất hữu ích ? Sẽ có thời gian vắng mặt. Nhưng rõ ràng, Đức Giêsu muốn nói lên điều gì về vấn đề này. Chúng ta hãy lắng nghe tiếp.
 
Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau.
 
Đức Giêsu phải ra đi. Nhưng Ngài loan báo cách hiện diện mới mẻ của Ngài . "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14,23). Và thánh Gioan quảng diễn như sau : "Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta" (1 Ga 4,12).
 
Vâng, tình yêu đích thực là một "sự hiện diện thực sự” của Thiên Chúa. "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ". Đức Giêsu hiện diện giữa những người cùng nhau cầu nguyện (Mt 18-20). Những gì các người đã làm (cho ăn, cho mặc, viếng thăm, săn sóc) cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là “các ngươi đã làm cho chính Ta vậy". Đức Giêsu luôn hiện diện trong mọi người đang cần đến tôi và tôi đang phục vụ (Mt 25,31-46).
 
Nếu thực là thế ! Nếu thực là "Thiên Chúa đã chết", thì sự vắng mặt của Thiên Chúa trong thế giới hiện tại chỉ là hiện tượng tình yêu đã chết". Nhưng hãy để ý, vì tiếng nói lừa dối của thế giới hiện đại không ngừng thay đổi giọng điệu với ta, qua những làn phát sóng, trong mọi thứ quảng cáo. Người ta chỉ bàn luận, chỉ ca ngợi "tình yêu”. Nhưng là thứ tình yêu nào chứ ? Éros hay Agapè, "tình yêu bản thân" hay "tình yêu kẻ khác" ? tình yêu là từ hàm hồ nhất, giả dối nhất. Khi bạn nói : "Tôi thích kẹo cao su !”… bạn có thích nó thực sự hay bạn tiêu hủy nó nhằm lợi ích cho bạn ? Khi bạn yêu một người nào đó, bạn có yêu họ theo cách đó. . . nghĩa là chỉ vì bạn hay vì họ ? Ngôn ngữ Hy Lạp ít hàm hồ hơn, vì có hai từ khác biệt nhau để diễn tả hai thực tại yêu thương đối nghịch nhau :
 
-Éros : Yêu mình... đó là tình yêu lợi dụng kẻ khác đến hủy hoại họ.
 
-Agapé : Yêu tha nhân. . . đó là tình yêu sẵn sàng hy sinh cho kẻ khác.
 
Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy thương nhau.
 
Chỉ một từ  “như” đơn giản. . . nhưng đã vạch trần mọi hình thức tình yêu giả tạo của chúng ta dễ dàng lặp đi lặp lại.
 
Yêu như Đức Giêsu ! Đó là quỳ gối xuống rửa chân cho anh em mình, một cử chỉ phục vụ thấp hèn nhất (Ga 13,14). Đó là việc Đức Giêsu vừa làm. Yêu như Đức Giêsu ! Đó là "hiến mạng sống cho kẻ mình yêu thương" (Ga 10,11-15,13). Đó là điều Người sáp thực hiện, vào ngày mai, trên thập giá.
 
Đức Giêsu nói với thánh nữ Angèle de Foligno : "Việc cha yêu con, đâu phải trò đùa". Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta đã dẫn Người đến thái độ hoàn toàn từ bỏ bản thân mình.
 
Để yêu tha nhân đúng như con người, và nhận biết họ trong chính sự "khác biệt" của họ, chúng ta cần từ bỏ quan niệm coi mình là trung tâm mọi giá trị. Đối với Thiên Chúa, tình yêu tha nhân đã dẫn Đức Giêsu chấp nhận thập giá Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nỗi yêu thương họ, trong cả khả năng thụ tạo nhầm lẫn của họ. Khả năng đó, "kẻ khác" đã chiếm hữu trong tự do của họ, để phủ nhận tôi, trở nên một địch thù với tôi, và kết án tử hình tôi!
 
Đối với Đức Gỉêsu, tình yêu không phải là cái gì cứ lặp đi lặp lại cách dễ dàng và nhàm chán đến độ vô nghĩa. Mọi người xem ra đều nói đến yêu thương. Thế mà, Đức Giêsu quả quyết, giới răn của Người thì mới mẻ. Phải, yêu như Đức Giêsu hẳn là phải rất độc đáo, rất mới lạ. Đó là một thứ luân lý mới. Người ta không khi nào biết được nơi mà tình yêu đó dẫn bạn tới.
 
Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy : "là anh em có lòng yêu thương nhau”.
 
Chỉ có ba dòng Tin Mừng, mà Đức Giêsu đã ba lần lặp lại điệp khúc : Yêu thương nhau. Sự lặp lại rất có ý nghĩa. Nhờ đó, Người đã gợi lên ba lý do bổ sung cho nhau, khiến chúng ta phải yêu thương.
 
1.Đó là lệnh truyền của Đức Giêsu : "Thầy ban cho anh em một điều răn mới".
 
2.Đó là gương mẫu của Đức Giêsu : "Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.
 
3. Sau cùng, đó là dấu chỉ Đức Giêsu : "Người ta sẽ nhận biết anh em nhờ tình yêu...".
 
Như thế, Đức Giêsu thực sự mời gọi các môn đệ tiếp tục sứ vụ của Người, lúc Người rời bỏ thế gian. Tình yêu huynh hệ là "thể thức" thực sự, giúp Đức Kitô tiếp tục hiện diện suốt dòng "Thời gian cuối cùng", mở đầu bằng cài chết của Người. Gioan đã không thuật lại việc lập phép Thánh Thể, như ta mong đợi. Nhưng bù lại, ông đã tường thuật việc rửa chân " và trao ban "giới răn mới quan trọng" như thể dưới mắt ông, Tình yêu là một tái diễn sự Hiện Diện đích thực của- Đức Kitô, cũng thực sự và hữu hiệu, như dấu chỉ hữu hình., của Bí tích Thánh Thể. Nhằm bổ sung những gì mà các thánh sử khác không nói đến, có thể nói thánh Gioan đã giảm thiểu tính thiêng thánh của nghi thức, để đề cao nội dung hơn". Theo thánh Mát-thêu, Máccô và Luca, Đức Giêsu nói : "Này là Mình Thầy sẽ bị nộp, và Máu Thầy sẽ đổ ra". Còn theo Gioan, Đức Giêsu đã nói : "Thầy rửa chân cho anh em, Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Nhưng, đó cũng chính là “sự hiện diện" có tình nghi thức và thực sự. Có một điều gì đó chất vấn mạnh mẽ các Kitô hữu khi tham dự thánh lễ. Dấu chỉ mà người ta nhận ra môn đệ Đức Giêsu không chỉ là Thánh lễ. "Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy : là anh em có lòng yêu thương nhau".
 
Nhờ những điều kiện nào, để người ngoài Kitô giáo có thể đọc được dấu chỉ này ? Làm sao dấu chỉ này chỉ dành riêng cho những giây phút các Kitô hữu quy tụ giữa bốn bức tường của Giáo hội ? Chắc chắn Đức Giêsu đã nói đến một dấu chỉ được trao gởi trong đời thường : đó là dấu chỉ duy nhất  mà " mọi người " có thể nhìn thấy. Trong những điều kiện đó, chúng tá của Kitô hữu chỉ có thể được nhận biết nếu chúng ta quan tâm đến những trách nhiệm lớn lao của thế giới hiện nay : công lý, hòa bình, đói khổ, phẩm giá con người. Bí tích Thánh Thể sẽ "dẫn" chúng ta tới phố xá, các văn phòng làm việc, những nẻo đường đời, tới trường lớp và đại học ta đang theo đuổi tới mọi nơi ta đang phục vụ".

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

“Thầy ban cho các con điều răn mới,

là các con hãy thương yêu nhau”.

BÀI TIN MỪNG : (Ga 13,31-33a. 34-35)

I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng hôm nay là một đoạn được trích trong bài Từ Biệt của Chúa Giê-su, nói về việc Chúa Giê-su ban cho các môn đệ giới luật mới, luật yêu thương nhau.

II. SUY NIỆM :

1. “Khi Giuđa ra khỏi phòng tiệc”:

Có lẽ Giuđa ra khỏi phòng tiệc sau lúc rửa chân và trước lúc thiết lập Bí tích Thánh Thể. Chính lúc này Chúa Giê-su mới có thể nói một cách cởi mở về số phận của Người và đồng thời trăn trối những điều quan trọng cho các môn đệ.

2. “Bây giờ Con Người được vinh hiển” :

- “Bây giờ” diễn tả ý nghĩa vào chính lúc Chúa Giê-su chịu nạn chịu chết để chuộc tội cho nhân loại. Chính hành vi Giuđa bước ra khỏi phòng tiệc là cử chỉ nói lên việc Giuđa quyết định phản nộp Thầy mình, chính lúc đó Chúa Giê-su cooi như là khởi sự cuộc khổ nạn của Người.

-  “Con người được vinh hiển” : Chúa Giê-su coi việc Người chịu chết trên Thánh Giá như một chiến thắng : chiến thắng Satan. Và vì vậy Người cho biết Người sẽ bước lên Thập giá trong tư thế một kẻ chinh phục (Ga 3,14; 8,28; 12,32-34). Và như vậy, cho đến khi ấy, đời Chúa Giê-su chỉ là một sự chuẩn bị, “Bây giờ” mới là lúc bắt đầu thảm kịch cứu rỗi.

- “Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người” :

Chúa Giê-su đã tôn vinh Chúa Cha bằng cách “Vâng lời cho đến chết và chết trên cây Thập giá” (Ga 4,34; 17,4).

3. “Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người” :

Nếu Chúa Giê-su làm vinh hiển Thiên Chúa Cha bằng cái chết của Người trên Thập giá, thì đáp lại, Chúa Cha sẽ ban cho Người vinh hiển sau khi Người chịu nạn chịu chết, bằng cách cho bản tính loài người chịu đau khổ của Người được thông phần vinh quang rực rỡ bản tính của Thiên Chúa.

4. “Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con …”:

Vì sắp phải lìa xa các môn đệ, nên Chúa Giê-su đã tỏ ra cho các ông biết cuộc biệt ly tạm thời này bằng những lời lẽ rất thân thiết.

Kiểu nói “các con yêu quý” diễn tả một tâm tình thắm thiết đầy tình thương yêu của Chúa Giê-su đối với các môn đệ của Người.

5. “Thầy ban cho các con điều răn mới …” :

Đây là ý muốn của Chúa Giê-su tỏ bày cho các môn đệ trước khi ra đi chịu chết, Chúa Giê-su nói những lời này trong tư thế của một sư phụ nói lời trăn trối trước khi ra đi (Mt 24, 45-51) và trong tư thế một Người Cha hằng lo lắng bảo đảm hạnh phúc cho con cái mà ông sắp từ giã. Nếu các môn đệ thực hiện thì luật yêu thương này sẽ đền bù cho các ông sự mất mác không còn được thấy Thầy cách khả giác nữa và làm cho các ông xứng đáng gặp lại Người.

“Điều răn mới” : Chúa Giê-su muốn so sánh với luật tự nhiên mà Môisen đã thừa nhận khi dạy phải yêu thương tha nhân như chính mình (Lv 19,18). Nhưng tình yêu tha nhân theo luật này có tính cách tiêu cực vì chỉ nhằm tránh những gì có thể gây ra thù oán hoặc nếu có hành động tích cực thì lại mang tính cách vụ lợi : làm cho tha nhân những điều mình muốn thôi. Chính Chúa Giê-su đã nhiều lần sửa lại luật này cho hoàn hảo hơn : “Xưa … nhưng nay Ta bảo …” (Mt 7,12; 19,9; 22,39-40).

6. “Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng hãy yêu thương nhau” :

Với luật mới này, Chúa Giê-su còn thêm nhiều điều trong những đòi hỏi của tình bác ái huynh đệ : yêu tha nhân như chính mình chưa đủ, người môn đệ cần phải yêu thương tha nhân như chính Đức Kitô đã thương yêu họ, mà tình yêu Chúa Giê-su đối với chúng ta là ân cần, tận tâm, vô vị lợi (Ga 13,13-16; 15,16-19; Rm 15,13). Người đã hiến thân mình cho nhân loại đến cùng, nghĩa là cho đến chết (Ga 13,1; 15,12-14). Thánh Gioan đã ghi rõ ràng : “Chính điều này mà Ta nhận ra được lòng yêu mến : Là Đấng ấy (Đức Kitô ) đã thí mạng mình vì chúng ta, nên ta cũng phải thí mạng mình vì anh em (1 Ga 3,16).

7. “Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy” :

Bác ái của người môn đệ Chúa Giê-su theo luật mới này phải có tính cách cụ thể, rõ ràng đến nỗi tự nó cho thấy họ là môn đệ của Chúa Giê-su ngay cả đối với những người chưa biết gì về Ki-tô Giáo (Ga 14,31; 17,21; 1Ga 2,7-11; 20,21).

Luật yêu tha nhân theo kiểu Chúa Giê-su đã yêu nhân loại là luật riêng của Chúa, nên cứ dấu đó mà người ta nhận ra môn đệ chân chính của Người. Và như vậy, tình yêu tha nhân được truyền dạy chỉ có thể được thực hiện giữa những người tin vào Chúa Giê-su Ki-tô. Đó là tính cách mới mẻ của luật mới này.

III. ÁP DỤNG :

A. Áp dụng theo Tin-Mừng :

Giáo Hội muốn dùng bài Tin-Mừng hôm nay để nhắc nhở chúng ta về luật yêu thương nhau và đồng thời và đồng thời cũng gây cho chúng ta ý thức về bổn phận phải yêu thương nhau như Chúa Giê-su đã yêu thương chúng ta, để nhờ đó chúng ta xứng đáng với danh nghĩa người Ki-tô hữu, môn đệ của Chúa Kitô.

B. Áp dụng thực hành:

Nghe lời Chúa phán:

1/Bây giờ con Người được vinh hiển : Chúa Giê-su được vinh hiển nhờ chiến thắng Satan bằng Thập Giá qua những hy sinh, hãm mình và chết đi cho tội lỗi  trong đời sống hằng ngày.

2/Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người : Chúa Giê-su làm vinh danh Thiên Chúa Cha bằng sự vâng lời cho đến chết và chết trên Thập giá. Chúa muốn mời gọi chúng ta noi theo người làm vinh danh Thiên Chúa bằng cách vâng theo ý Chúa trong mọi việc mình làm, tức là làm mọi việc và chịu đựng mọi sự vì lòng mến Chúa.

3/ Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người  được vinh hiển nơi chính mình.

càng làm vinh danh Chúa, càng được công phúc trước mặt Chúa và càng được hy vọng vinh hiển với Chúa trong Nước-Trời.

4/ “thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau”. Mỗi lần chúng ta đọc lời này là mỗi lần Chúa nhắc chúng ta nhớ lại luật yêu thương nhau, nhưng sự  yêu thương của chúng ta vẫn còn tính cách ích kỷ vì chỉ yêu theo sở thích và được mối lợi cho riêng mình. vì thế Chúa bảo ta phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta, một tình yêu hướng tha và vô vị lợi.

Cần chiêm ngắm và suy niệm cuộc đời Chúa Cứu Thế  để khám phá ra cách thể  Chúa yêu thương chúng ta và nhờ đó chúng ta biết yêu thương nhau cũng theo cách thể như  vậy.

5/ Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau. Muốn nhập đoàn quân nào phải đeo phù hiệu binh chủng đó. gia nhập đoàn quân của Chúa Kitô thì phải đeo phù hiệu của Chúa. phù hiệu của Chúa Kitô là yêu thương nhau.

Đồng phục của người Ki-tô hữu là bác ái.

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN

Địa chỉ: Số 06, Tôn Đức Thắng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Copyright © CHỦNG SINH KHÓA 10