Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật Tuần VI Mùa Thường Niên Năm B (Mc 1,40-45) | Giáo Phận Phú Cường

Chúa Giêsu chữa lành cho người bị phong cùi để tỏ bầy vì lòng thương yêu nhân lành, Chúa đến để cứu giúp kẻ tội lỗi trong chương trình cứu chuộc nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi...

CHÚ GIẢI TIN MỪNG
Chúa Nhật Tuần VI Mùa Thường Niên Năm B
TIN MỪNG: Mc 1,40-45

Noel Quesson - Chú Giải

Có người bị phong hủi đến gặp gỡ Đức Giêsu... và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.

Theo lối hành văn Sê-mít cổ xưa, mà người ta gọi là “gom kết" lại, thì trang Tin Mừng của Mác-cô trên đây được đóng khung trong hai câu giống nhau. Ở đầu trình thuật ông diễn tả một bước chân của cá nhân. Kết thúc trình thuật, ta thấy nhiều người đến từ khắp nơi.

Đức Giêsu, là chính Thiên Chúa đến gặp gỡ con người. Nhưng con người, cũng phải đến gặp gỡ Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin dẫn con đến gặp gỡ Chúa.

Anh ta quỳ xuống van xin rằng : "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch".

Đừng quên chúng ta mới ở chương đầu của Tin Mừng

Mác-cô. Con người đó thật là mạnh dạn . . . hay anh ta đã có một lòng tin phi thường. Anh ta làm một cử chỉ, thưa gửi vài lời. . . Đó là những gì mà người ta thường chỉ có thể làm và nói với một mình Thiên Chúa.

Thực tế vào thời đó, bệnh phong hủi vẫn còn là một thứ bệnh không thể chữa trị được. Việc chữa lành người phong hủi là một thứ kỳ công giống như việc phục sinh một người chết. Đó là một trong những "dấu chỉ" của thời Thiên sai (Mt 11,25 - Lc 7,18-22). Thái độ khiêm tốn phủ phục của người phong hủi biểu lộ lòng tin của anh nơi Đức Giêsu. Đúng vậy, có những tình huống mà cách cầu cứu duy nhất là "kêu xin" Thiên Chúa, Đấng làm chủ tất cả, ngay cả những gì con người không thể thực hiện được : "Thưa Ngài, Ngài muốn là Ngài chữa tôi được khỏi bệnh”. Đó là một lời nguyện xin cần được lặp đi lặp lại .

Động lòng thương trước người đó...

Ở đây bản thảo Hy Lạp giữa hai từ : "splagknisteis" có nghĩa là động lòng thương, xốn xao lòng dạ, cảm động đến tận tâm can, và "orgisteis" có nghĩa là "nổi giận". Thiếu gì dịp Máccô đã sử dụng rất chính xác từ "nổi giận" nhưng ở đây thật là khó giải thích : Trường hợp một kinh sư, khó chịu trước kiểu nói trên, có lẽ ông ta đã làm giảm nhẹ ý nghĩa. Nhưng vì cả hai "câu dịch" đều có trong bản thảo, nên suy nghĩ về hai ý nghĩa, tưởng là không vô ích. Tại sao Thánh Thần, Đấng linh hứng Kinh thánh, lại không có thể đi đến mức đó, nghĩa là có thể sử dụng những sai lầm của những người sao chép Kinh thánh để nói với ta ? Dù sao, qua hai từ trên, chúng ta cũng nhận thấy một "phản ứng rất nhân bản" ! Việc nhập thể của Thiên Chúa thật là "hiện thực", đi tới tình trạng chấp nhận cả

những tình cảm của con người tầm thường như thế : xót thương, giận hờn. Lạy Chúa. Xin tạ ơn Chúa vì đã muốn cảm nghiệm những cảm xúc của chúng con và đã bày tỏ cách công khai những diễn biến tình cảm đó. Nổi giận . . . " Thực ra điều đó ý nghĩa gì ? Riêng tôi , tôi thấy ở đó phản ứng tự nhiên của Thiên Chúa trước nỗi đau khổ của con người". Đức Giêsu nhìn thấy tận mắt một khuôn mặt đáng thương bị các vết thương mưng mủ làm biến dạng. Và Người không thể chịu nổi điều đó, Người nổi giận. Đừng quên rằng, Đức Giêsu là Chính "Thiên Chúa hiện hình cụ thể". Qua thái độ biểu lộ tính khí trên, Đức Giêsu muốn nói với ta rằng, Thiên Chúa lên án định mệnh khắc nghiệt của con người, luôn bị bệnh tật tác hại trên thân xác. Phẫn nộ, đó cũng là phẫn nộ của biết bao người, nhưng trước "vấn đề sự dữ", họ chỉ biết chống đối mãnh liệt nhất đến nỗi phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.

Động lòng thương...". Kiểu nói này ta có thể hiểu ngay. Thực vậy, Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa vô cảm, dửng dưng. . . nhưng là một Thiên Chúa dễ bị thương tổn một Thiên Chúa cùng chịu khổ với nhưng người đau khổ, một Thiên Chúa mang trên mình những thương tích của chúng ta (Is 53,5). Đấng "làm cho Thiên Chúa hiện diện cụ thể nói cho ta biết tấm lòng trìu mến của Thiên Chúa đối với bệnh nhân. Vậy khi nào chúng ta mới chấp nhận thế giới này, như thực trạng hiện nay của nó, không thể "hoàn hảo" được ? Chỉ có mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chỉ có mình Thiên Chúa là hoàn hảo. Thế gian không phải là "Chúa”. Thế gian không thể hoàn hảo. Thiên Chúa đã không thể làm khác hơn là tạo dựng một thế gian "không phải là Chúa nếu không Người đã không làm được điều gì cả, và Người có thể sẽ muôn đời cô đơn. Do đó, Người đã quyết định tạo dựng con người, được ghi dấu ấn "hữu hạn", rõ ràng “không phải là Chúa". Và như thế, con người phải gánh chịu những rủi ro về tình trạng sức khỏe suy sụp, với khả năng nguy hiểm trỏ thành phong hủi, điên khùng, khi các nhiễm thể hoạt động lệch lạc. Cần phải có can đảm nhìn thẳng vào "thế gian này". Nhưng, nếu Thiên Chúa tạo thành một tạo vật mang dấu tích hạn hẹp và bất toàn. . . thì Người chỉ tạo dựng nó trong chương trình là một ngày kia sẽ ban cho nổ sự sống thần thiêng của Người.

Đối với Thiên Chúa, con người chưa hoàn hảo, vì chưa được sống lại, chưa được thần hóa. Và sự dữ tác hại con người ; đã làm cho Người" nổi giận" , đã khơi dậy "lòng thương xót" của Người. Do đó, Đức Giêsu chữa lành một số người bệnh, như là một "dấu chỉ" báo hiệu Ngày cánh chung, lúc đó mọi sự "sẽ được hoàn tất" (Rm 8,18).

Đức Giêsu giơ tay đụng vào anh tay…

Chúng ta lại có dịp suy nghĩ đến "bàn tay". Ở đây, đối với một người phong hủi, một người "không ai được sờ động đến", thì cử chỉ của Đức Giêsu phải mang một ý nghĩa đặc biệt vì không ai được sờ chạm, ôm ấp, vuốt ve họ bao giờ cả. Luật đã cấm như thế. Ngay cả, khi một ai đó tiến lại sát kề họ, họ cũng phải kêu to lên để người khác lánh xa : "Nhơ ! Nhơ !": Thế mà ở đây, Đức Giêsu lại dám phá đổ một điều cấm kỵ nguy hiểm đó : Người đụng chạm đến người phong hủi.

Người bảo : "Tôi muốn, tôi cho anh được khỏi bệnh".

Đức Giêsu cứu chữa, nhờ một "cử chỉ" và "bằng một lời phát biểu : Đó là nguyên lý để cử hành mỗi bí tích. Chúng ta là những tạo vật có thể xác, và chúng ta cần đến những cử chỉ trên thân xác. Khi chịu phép rửa, nước đổ :ên trán chúng ta, thì một lời cũng được đọc lên nói rõ ý nghĩa của cử chỉ đó. Trong Bí Tích Thánh Thể, khi bánh ban sự sống chạm đến tay và liên hệ đến thân xác ta; thì đồng thời cũng có một lời đọc nêu lên ý nghĩa : “Mình Thánh Đức Kitô".

Tôi cũng có thể dành một chút thời gian để suy ngẫm về lời phát biểu : "Tôi muốn !”. Ở đây, một lần nữa, người dịch đã làm giảm nhẹ ý nghĩa bản văn chính thức bằng tiếng Hy Lạp của Máccô (thật là đáng tiếc !). Người phong hủi đã không nói : "Nếu Ngài muốn điều đó", nhưng là nếu Ngài muốn". Và Đức Giêsu cũng không đáp lại : "Tôi muốn điều đó", mà là "Tôi muốn". Điểm quan trọng muốn đề cao ở đây, không phải là đại danh từ "điều đó", những quyền năng thuộc nguyên ý muốn của Đức Giêsu... nghĩa không nhấn mạnh đến điều mong muốn.

Ngay tức khắc, chứng phong hủi biến đi, và anh ta được khỏi bệnh...

Câu nói trên phản lại bối cảnh văn hóa của thời đại, là Máccô lúc đó đang viết Tin Mừng. Đối với một người Do Thái, bệnh phong hủi là một "hình phạt của Thiên Chúa", Đấng đã phạt My-ti-am, chị của Môsê (Ds 12,9).

Gêhadi, đầy tớ của Ê-li-dê (2V 5,27), Ô-di-a, ông vua đầy tham vọng (2 Sb 26,16). Bệnh phong hủi là chứng bệnh gây sợ hãi, đến nỗi có người kinh sợ dù chỉ nhìn thấy một vết loang lỗ trên tường. Vì thế, sách Lê vi đã dành cả hai chương nói về bệnh này. Chứng bệnh làm cho mặt và tay chân người bệnh thối rữa, chứng tỏ sự khủng khiếp của nó. Người ta coi đó như súc tác hại của ma quỷ. Nói đúng ra, người bị phong thủ không được sống thông hiệp với kẻ khác, bị loại ra khỏi cộng đoàn (Lv 13,1-6) .Trong chứng bệnh làm ung thối con người như thế, người ta coi đó là "biểu tượng" của tội lỗi. Như thế, ai mà không bị phong hủi ! Và ai sẽ cứu chữa ta khỏi chứng bệnh ác độc đó ? Thưa, đó là nhờ sự “tiếp cận" và "lời" của Đức Giêsu. Lạy Chúa Giêsu Kitô, nhờ Mình Chúa xin cứu chữa tâm hồn con người hôm nay. Hiện nay, vẫn còn hàng triệu người trong các nước thuộc Thế giới thứ ba mắc bệnh phong hủi.

Và giữa chúng ta trong những xã hội tân tiến, vẫn cần tìm kiếm những bàn tay và những tấm lòng để thực hiện tác động "chữa lành" của Đức Giêsu đối với biết bao người nghèo khó : Đó là những người không có vẻ đẹp và ngoại hình lôi cuốn cái nhìn của kẻ khác, đó là những kẻ bị gạt ra khỏi-xã hội chúng ta, những trẻ em khuyết tật, những người mắc bệnh nan y.

Người nghiêm giọng đuổi anh ta đi ngay.

Đó là câu dịch chính xác theo đúng bản văn của Máccô (nhưng ta cũng thấy có kiểu dịch làm giảm nhẹ ý nghĩa : "Người cho anh ta ra về với lời cảnh giác nghiêm trọng"). Nếu tôn trọng bản văn, thì Giêsu được giới thiệu cho ta ở đây, không phải là hạng người "nhu mì", mà các bức ảnh thuộc thế kỷ trước đã trình bày cho ta, nhưng là một con người đầy cương nghị .

Coi chừng, không được nói gì với ai cả.

Như Đức Giêsu đã truyền cho quỷ phải im lặng, Người cũng đòi buộc kẻ được ơn lạ phải im hơi lặng tiếng, kiểu nói rất mạnh : "không gì hết" , "không với một ai cả " .

Đó là “bí mật thiên sai" nổi 'tiếng, đã được Máccô lặp đi lặp lại tới 10 lần trong Tin Mừng của ông. Do đó, hầu như Đức Giêsu tránh làm phép lạ, vì thường bị người ta hiểu lầm ! Người Do Thái (và cả chúng ta nữa !) dễ mong đợi một Đấng Mêsia theo kiểu trần gian. Từng đám đông tuôn đến với hy vọng rằng, Đức Giêsu có thể mang lại cho họ hạnh phúc đời này, Người có thể giải quyết những vấn đề thuộc sức khỏe, hay khôi phục nền độc lập có tính chính trị. Đúng vậy, đối với Đức Giêsu, làm phép lạ thật là nguy hiểm ! Điều đó có thể làm hỏng sứ vụ của Người, hay có thể làm cho người ta hoàn toàn hiểu sai ý nghĩa. Các phép lạ có thể làm cho nhiều người tưởng rằng, Nước Thiên Chúa chỉ bao gồm một thứ hạnh phúc tầm thường. Đúng ra, công cuộc cứu độ thực sự việc cứu rỗi triệt để, mà Đức Giêsu trình bày, chỉ có thể được hiểu tường tận dưới ánh sáng tử nạn và phục sinh của Chúa. Cần phải chờ đợi đến lúc đó để không còn lầm lẫn nữa về bản chất của công cuộc "giải phóng" con người, mà Đức Giêsu chủ động thực hiện ! Còn những việc chữa bệnh chỉ là cách loan báo sự sống lại .

Nhưng lo đi trình diện tư tế, và vì anh đã được khỏi bệnh, thì hãy dâng của lễ như ông Môsê đã truyền để làm chứng cho người ta.

Đức Giêsu truyền cho người được ơn lạ phải im lặng, không được lộ chuyện với dân chúng, đồng thời Người cũng trao cho anh trách nhiệm phải đến gặp các tư tế. Đây là việc rất cần thiết, để có thể tái hội nhập vào xã hội. Nhưng hơn nữa, Đức Giêsu còn muốn mở mắt các tư tế ở Giêrusalem là những người sẽ kình chống Người kịch liệt. Cho họ dấu chỉ thiên sai qua việc chữa lành người phong hủi, để họ sẽ không có lý do nào biện minh khi họ kết án Người. (Ga 15,22).

Nhưng vừa ra khỏi đó, anh ta đã vội công bố và tung tin ấy ra; đến nỗi Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi vắng vẻ ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.

Đối với Mác-cô. “Lời" được công bố trên đây là một thuật ngữ, được ông sử dụng tới 10 lần khác nhau trong Tin Mừng : đó là Phúc âm là Tin Mừng. Dù bị Đức Giêsu ngăn cấm, nhưng ta thấy người được cứu chữa", khi đến lượt mình lại trở nên "kẻ cứu độ" người khác. Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta có công bố Lời Chúa không ? Một lần nữa, ta chiêm ngắm tình yêu Đức Giêsu dành cho bầu khí cô tịch, cho nhưng "nơi hoang vắng". Người thực sự là hình ảnh của Thiên Chúa, một Thiên Chúa kín mật, một Thiên Chúa không gây ồn ào, một "Thiên Chúa ẩn giấu”.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch"

BÀI TIN MỪNG : Mc 1, 40 - 45

I . Ý CHÍNH :

Chúa Giêsu chữa lành cho người bị phong cùi để tỏ bầy vì lòng thương yêu nhân lành, Chúa đến để cứu giúp kẻ tội lỗi trong chương trình cứu chuộc nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi .

II . SUY NIỆM :

Bài Tin Mừng hôm nay nối tiếp bài Tin Mừng tuần trước, tiếp tục tỏ bày sứ mạng Chúa cứu thế của Đức Kitô .

1 / " Có một người bệnh cùi ... " :

+ Theo luật Do thái, những ai mắc bệnh cùi không được sống trà trộn trong dân chúng vì bệnh này là bệnh nan y và hay lây . Vì vậy số phận của họ đã khổ vì bệnh hoạn lại còn khốn nạn hơn vì tình trạng cô đơn .

+ Các nhà luật sĩ coi bệnh này như là hình phạt bởi tội .

+ Người bệnh nói đây thấy mình không còn phương nào để khỏi, sự hy vọng duy nhất là ở Chúa Giêsu, và anh tin như vậy, nên anh đã bất chấp luật lệ chạy đến Chúa Giêsu .

+ Van xin Chúa Giêsu : van xin là thái độ tha thiết cần đến, biểu lộ một niềm tin tưởng vào tình thương và quyền năng của Chúa Giêsu, vì xin ai thì tín nhiệm vào người đó và sẵn sàng cho điều mình xin .

+ Và quỳ xuống : đây là thái độ khiêm nhường và thống hối vì tỏ ra sự bất lực của mình trước mặt Thiên Chúa .

2 / " Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch " :

Đây là thái độ khiêm nhường tin tưởng phó thác, vì người này có một tâm trạng sẵn sàng đón nhận ý Chúa " Nếu Ngài muốn" thay vì đòi hỏi Chúa chữa theo ý mình .

Chính thái độ này đã làm siêu lòng Chúa và vì thế Chúa đã động lòng thương .

3 / " Chúa giơ tay đặt trên người ấy và nói " :

Việc đặt tay biểu lộ ý nghĩa : qua nhân tính của Chúa Giêsu trong việc đặt tay, con người được tiếp xúc thần tính của Người và do đó được nhận lãnh ân sủng là sức sống của Người thông ban cho .

Chính vì vậy mà bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch .

4 / " Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh " :

Thánh ý của Chúa là muốn mọi người được cứu rỗi . Việc chữa lành bệnh cùi là thể hiện thánh ý của Thiên Chúa .

5 / " Nhưng Người nghiêm nghị bảo anh đi ngay " :

+ Thái độ nghiêm nghị của Chúa nói lên tầm mức quan trọng về điều mà Người dặn bảo người được khỏi bệnh cùi .

+ Anh hãy ý tứ đừng nói gì với ai : Chúa cấm vì sợ dân, nhất là những người lãnh đạo dân, vì chưa hiểu gì về chương trình cứu chuộc của Chúa, họ có thể bồng bột làm hỏng chương trình của Người .

+ Anh hãy đi trình diện : là người Do thái, người phong cùi phải tuân giữ luật Do thái là đi trình diện với hàng tư tế để được xác nhận là đã khỏi bệnh thật sự . Ở đây biểu lộ sứ mạng của người cùi sau khi khỏi bệnh sẽ làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt các tư tế vì việc chữa lành bệnh cùi là một dấu chỉ Thiên sai . Là những người hữu trách của dân Israel, họ phải được báo cáo về sự xuất hiện của các dấu chỉ thiên sai .

6 / " Nhưng đi khỏi người ấy liền cao rao và loan truyền " :

+ Lệnh cấm của Chúa không vì sự việc khỏi bệnh nhưng vì sợ sự sai lầm của người nghe tin về sự việc đó . Vì thế, với tấm lòng nhiệt thành biết ơn, người được khỏi bệnh không cầm lòng được nên đã loan truyền sự việc khỏi bệnh của mình ra cho những người xung quanh .

+ Từ đây mỗi lần Chúa Giêsu vào thành là dân chúng đổ xô chạy đến mong tìm lợi lộc gì cho mình . Nhưng Chúa Giêsu không đến vì ý như vậy nên Người tránh sự công khai vào các thành, Người thích ở trong " Những nơi thanh vắng" . Tuy nhiên đoàn lũ dân chúng vẫn theo đuổi Người đến tận những nơi ấy vì bị lôi cuốn quá mạnh .

III . ÁP DỤNG :

A / Áp dụng theo Tin Mừng :

1 / Chúa Giêsu đa thanh tẩy người phong cùi được sạch và cho trở lại đời sống xã hội và tôn giáo, đó là biểu hiện cho tội nhân sa ngã được phục hồi, cho kẻ chết phần hồn được sống lại .

2 / Việc chữa lành này bắt nguồn từ đức tin " Nếu Thầy muốn, Thầy có thể cho tôi được sạch" nhưng sự việc được thực hiện qua phép Bí tích :

- Chúa sờ vào anh ta ( đó là thể chất )

- và phán bảo " Tẩy sạch" ( đó là mô thức của Bí tích )

- Trong các phép Bí tích, lời nói và việc làm cũng biểu hiện một sức mạnh siêu nhiên . Sức mạnh của Thiên Chúa được thông ban cho ta qua nhân tính của Chúa Giêsu, ngày nay là Giáo Hội của Người .

3 / Bệnh phong cùi là hình bóng của tội lỗi :

+ Tội làm linh hồn ra xấu xa, tê bại, đau khổ, lương tâm cắn rứt ...

+ Chỉ có Thiên Chúa mới chữa được bệnh cùi thiêng liêng này . Ai muốn khỏi hãy bắt chước người phong cùi kia chạy đến sấp mình trước mặt Chúa xin Người chữa cho .

+ Tội được tha trong toà giải tội : một lời đọc tha tội của linh mục giải tội đem lại ơn tha thứ .

B / Áp dụng thực hành :

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu :

Chúa Giêsu đã đến tiếp xúc và đem lại hạnh phúc cho người bệnh phong cùi, thứ bệnh mà mọi người kinh tởm .

Chúng ta noi gương Chúa, đến với những người bị bỏ rơi, bị khinh miệt để an ủi, giúp đỡ, phục vụ : hãy trở nên tất cả cho mọi người, trong đời sống chung, đừng để ai trong cô đơn ...

Chúa Giêsu động lòng thương ...

Lòng thương của chúng ta đối với tha nhân phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể, chứ đừng chỉ bằng tâm tình và lời nói suông ... 

2 / Nhìn vào người bị bệnh phong :

Người này đã xé hàng rào luật lệ để đến với Chúa Giêsu .

Chúng ta cần phải xé những hàng rào ngăn cản nơi bản thân : lười biếng, ngại khó ... nơi tha nhân : sự dèm pha, ngăn cản ... để đến với Chúa .

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE SÀI GÒN

Địa chỉ: Số 06, Tôn Đức Thắng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh

Copyright © CHỦNG SINH KHÓA 10