Clock-Time

Chúa Giải Tin Mừng - Chúa Nhật III Phục Sinh C

Tin mừng Ga 21:1-14: Ong Phêrô buồn, vì Người hỏi tới ba lần : "Anh có yêu mến Thầy không ?". Ông đáp : Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy". Đức Giêsu bảo : "Hãy chăm sóc chiên của Thầy".
SUY NIỆM TIN MỪNG

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH - NĂM C

NGÀY 05-5-2019

 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
CHÚA HIỆN RA BÊN BỜ HỒ TIBÊRIAT (Ga 21,1-9)

Đa số các nhà phê bình nhất trí cho rằng chương này là một phụ chương được thêm sau khi phúc âm hoàn toàn chấm dứt; một số khác cho rằng chính tác giả phúc âm đã soạn thảo ra nó, vì chương có những nét đặc biệt của Gioan (ngôn ngữ, bút pháp, ngữ vựng...). Đúng vậy, nhưng người ta cũng thấy những yếu tố xa lạ với Gioan và gần với Lc hơn (có những con số; x. phép lạ hóa bánh, Lc 9,10-17). Hãy thận trọng khi giải thích những con số này vì cách tường thuật cuộc đánh cá kỳ diệu và việc hóa bánh ra nhiều rất khác nhau. Ngoài ra, vì có khá nhiều thành ngữ không thuộc Gioan, nên người ta nhìn nhận là không phải chính Gioan viết, nhưng là một môn đệ của ông viết thêm vào, dựa trên những câu chuyện của chính Gioan kể lại. Có lẽ phụ chương này được thêm vào nagy từ đầu. Thật vậy, người ta thấy nó trong tất cả mọi thủ bản và được nhiều tác giả Kitô giáo đồng thời với chính phúc âm được xuất bản, nghĩa là được phổ biến trong các giáo đoàn. Hình như tác giả phúc âm đã chết vào thời đó (c.21-23); toàn chương nói về ông như nói về một người khác (21,7:ekeinos, người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến ấy). Đàng khác ngôn ngữ thần học thường thấy trong các văn tập của Gioan ở ấy đã nhường chỗ cho việc mô tả các nhân vật và tương quan của họ trong Giáo hội. Người biên soạn bản văn này chú ý nhiều đến chi tiết cá nhân. Bản danh sách trong 21,2, việc nhắc đến nguồn gốc của Mahanael (ông từ Cana đến) và việc nói đến 2 con ông Giebêđê (mà phúc ân thứ tư đã cố tình tránh né) cho thấy điều đó. Và cách giải thích quyền tối thượng của Phêrô trên Gioan minh chứng rõ ràng có sự can thiệp của một biên tập viên khác hằng muốn làm nổi bật giá trị của phúc âm, hằng muốn cho người ta biết rằng tác giả đã xuýt trở thành nhân vật điều khiển Giáo hội. Theo ý kiến nhiều người thì phần kết luận (cc.24-25) là do một người môn đệ đặc trách việc xuất bản viết, phúc âm gia không phải là tác phẩm phần kết luận đó, vì ông chính là môn đệ dấu yêu mà trình thuật cuối cùng nói đến.

Như thế, vì thiếu chứng cớ rõ ràng dựa trên ngôn ngữ và văn thể, toàn bộ dữ kiện và chiều hướng chung của bản văn cho phép nghĩ rằng chương 21 là công trình của môn đệ đặc trách việc xuất bản. Việc Gioan đã kết thúc phúc âm ở 20,30-31 bênh vực cho kết luận này của chúng ta. Tưởng cũng nên lưu ý rằng bất xác thực tính này (non-authenticité) không ảnh hưởng gì đến linh hứng tín của chương 21; tuy nhiên bất xác thực tính đó không phải tuyệt đối, vì trình thuật này dựa trên cơ sở những gì chính tác giả phúc âm kể lại.

Đoản văn ghi chú các tông đồ bắt được 153 con cá trong mẻ lưới lạ lùng. Phải nghĩ gì về con số lạ lùng này ? Có thể người ta vì tò mò, đã đếm xem số lượng... Tuy nhiên ở đây không chỉ có việc ghi lại cách chính xác số cá bắt được. Các giáo phụ đã đưa ra nhiều giả thiết, trong đó lối giải thích của thánh Jêrôme dễ chấp nhận nhất: các nhà vạn vật học thời xưa biết được 153 loại cá. Thực ra, một biểu hiện không hề có cơ sở trong CƯ như thế mà lại được ghi nhận trong phúc âm Gioan, kể cũng hơi lạ. Dù sao, nếu thánh Jêrôme có lý, thì ý nghĩa của con số này trùng phùng với thành ngữ "đủ mọi thứ cá" trong dụ ngôn về Nước Trời (Mt 13,47). Giáo hội phải hội tụ trong nước mình tát cả mọi dân tộc, như mục tử chân chính qui tụ trong đàn mình mọi con chiên đến từ chuồng khác ngoài Israel (10,1b), như Con Người kéo lôi tất cả mọi người vào trong mẻ lưới cánh chung (x.12,32; 6,44). Vì thế, phải liên kết đề tài biểu tượng này với các chi tiết liên quan đến chiếc thuyền duy nhất và chiếc lưới không bị thủng.

Một câu hỏi, lặp lại ba lần "Phêrô, con có mến Ta không ?" xem ra được nhấn mạnh bù lại ba lần chối Chúa, hầu hết các nhà chú giải đều nhất trí như thế. Nhưng chỉ sau lần hỏi thứ ba, mới nghe Chúa Giêsu thôi nói với Phêrô: "Hãy chăn nuôi đàn cừu của Ta", như thể ngầm bảo rằng ông đã được tha. Vậy tại sao lời uỷ nhiệm này được trao cho ông ba lần luôn ?

Nhiều nhà chú giải nhấn mạnh: việc lặp lại này nhằm tăng thêm phần long trọng cho khung cảnh. Theo Bultmann, việc long trọng lặp lại như thế gợi lên "một tập tục tế tự hoặc một tập tục pháp lý có tính cách ma thuật". Còn P. Gaechter đề nghị cách giải thích sau: như những công thức luật pháp cổ xưa thường không được viết ra nhưng phải được lặp lại ba lần trước những nhân chứng. Cũng thế, lời uỷ nhiệm chính thức được trao ban cho Phêrô cũng có giá trị pháp lý nhờ lặp lại ba lần trước các nhân chứng. Để minh chứng cho ý kiến này ông đưa ra nhiều ví dụ rút từ luật giá thú xứ Palestine và nhắc lại công thức ba lần đã được dùng đến khi Abraham nhận căn động của Makpéla để chôn xác Sara (St 23,3-18). Ngoài ra, có thể kể thêm trường hợp luật dòng thánh Biển Đức, thế kỷ thứ sáu, buộc phải đọc lời khấn ba lần. Nói tóm lại, tâm thức luật pháp chung chung của cổ thời giúp ta dễ dàng hiểu lời uỷ nhiệm ba lần được lặp lại này. Việc lặp lại có ý nói rằng Phêrô chính thức được giao phó nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Đức Kitô.

Ba lần Chúa Giêsu hỏi và ba lần Phêrô trả lời tạo nên tâm điểm của trình thuật: địa vị Phêrô và môn đệ dấu yêu có đủ mọi cơ may được phong làm người lãnh đạo: các con ông Giêbeđê (được đó có Gioan) và mẹ các ông đã chẳng ngần ngại xin những chỗ tốt trong Nước Trời sao ? (Mc 10,35-41)

Nếu Phêrô đã chiếm chỗ nhất, đó không phải là vì công lao của ông. Ba lần Chúa Giêsu hỏi rõ ràng là dư âm của ba lần ông chối Chúa. Ông đã thề theo Chúa Giêsu cho đến chết, dù các người khác chối bỏ Người... (Mc 14,29). Và giờ đây, ông bị tra vấn về tình yêu và lòng trung tín của ông:"Con có mến ta hơn những người này không ?", câu hỏi đầu tiên là vậy. Để hướng dẫn kẻ khác, phải chứng tỏ có một tình yêu lớn hơn. Chúa Giêsu hoàn toàn không muốn khơi lại niềm đau xa xưa. Nhưng Phêrô hãy biết rằng việc ông được quyền tối thượng không do công lao của ông. Mọi trình thuật về ơn gọi, trong CƯ cũng như trong TƯ, luôn đi theo lời xác quyết tính cách bất xứng của đương sự (15,16). Khi Chúa hỏi Phêrô có yêu mến Ngài hơn những người khác không, câu hỏi này nhắm đến tương lai nhiều hơn là quá khứ. Phêrô không được chọn vì đã yêu nhiều. Các sự kiện quá khứ đều phủ nhận điều đó; chỉ có Gioan, vì yêu nhiều hơn nên mới dám đến đứng dưới chân thập giá sau khi đã chạy trốn. Nhưng vì một khi được chọn, ông phải từ đó yêu nhiều hơn những kẻ khác.

Vì là người lãnh đạo, từ nay, theo chân Chúa Giêsu Phêrô phải đi trước đoàn chiên (13,36). Xưa kia vì quá tự tin, ông đã tuyên bố có thể theo Chúa cho đến chết. Ông sẽ có cơ hội thực hiện điều đó. Khi trích một châm ngôn bình dân, Chúa Giêsu báo cho Phêrô biết một ngày kia ông sẽ chết tử vì đạo. Lúc còn trẻ, người ta có thể tự mặc áo, thắt nịt, như Phêrô đã làm lúc nãy (21,7). Nhưng khi về già, sẽ bị người khác áp chế. Cũng vậy, Phêrô sẽ giăng tay để người khác thắt lưng. Hình ảnh này nói lên việc mất tự do, chứ không nói đến hình thức cụ thể của việc Phêrô tử đạo; truyền thuyết ghi nhận đã bị đóng đinh.

Lời bí ẩn mà Chúa Giêsu đưa ra có được Giáo hội giải thích như là lời tiên báo về cuộc tử đạo của Phêrô. Chính tác giả cũng gợi lên cách giải thích này (12,33; 18,32). Nhờ việc tử đạo, Phêrô sẽ tôn vinh TC. Từ ngữ tôn vinh ở đây không có cùng một ý nghĩa như trong trình thuật Tử nạn của Chúa Giêsu (13,31; 17,1). Nhờ cái chết, Chúa Giêsu mạc khải cho mọi người thấy vinh quang của Cha Ngài và một cách nào đó trở nên lăng kính của vinh quang TC. Nhờ việc tử đạo, Phêrô tuyên xưng vinh quang hay thần tính của TC, khi thực hiện thánh ý của Ngài (1P 4,16). Trong lúc chờ đợi, Phêrô chỉ cần đi theo Chúa Giêsu (10,4; 12,26). Con đường này đương nhiên đưa ông đến cuộc tử đạo (12,26.36).

KẾT LUẬN 

Giavê, mục tử Israel (Ez 34,11-12; Tv 23) đã cho Chúa Giêsu trở nên mục tử tốt lành và đích thực (Ga 10,116; 1P 5,4). Từ đây chính Phêrô sẽ thay mặt Đức Kitô thi hành quyền chăn dắt hữu hình: ông trước hết rồi đến những người kế vị ông.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

1. Người mục tử nhân lành săn sóc đàn chiên mình mà chúng ta đã biết mà phúc âm đã trình bày, đó chính là Đức Kitô; tuy nhiên Phêrô hôm nay được giao phó một công việc thật đặc biệt: coi sóc để mỗi con chiên được ăn đầy đủ. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu đây là của ăn đã được Chúa Giêsu đưa ra, của ăn chính Ngài thiết lập và không thể thiếu: Mình và Máu Ngài. Với Thánh Thể, còn có của ăn Lời chúa đi kèm nữa. Nếu Chúa Giêsu vẫn là mục tử tối cao, thì Phêrô đặc trách về lương thực và an toàn thiêng liêng của đàn chiên.

Trong cách Chúa Giêsu trao phó sứ mệnh Ngài cho vị thủ lãnh đầu tiên của Giáo hội, chúng ta có thể tìm thấy hai bài học:

- Nếu Phêrô và qua ông, những đấng kế vị, có bổn phận nuôi dưỡng thì chúng ta phải biết chạy đến với các Ngài. Có lẽ bổn phận đầu tiên của chức tư tế, qua đoạn phúc âm này, là bảo đảm của ăn thiêng liêng phát triển và giữ gìn Giáo hội.

- Cũng như Phêrô, tất cả chúng ta đều có chức vụ phải thi hành, vai trò nắm giữ để phục vụ tha nhân . Dù chức vụ khiêm tốn hay hào khoáng, quan trọng hay tầm thường, hiệu lực hay không đáng kể, cũng chẳng sao. Có lẽ hôm nay chúng ta nên suy nghĩ về cách thức chúng ta đã thi hành công việc: có đúng như Chúa Giêsu đòi hỏi Phêrô, nghĩa là làm vì yêu, trong tinh thần phục vụ và vô vị lợi hay không ?

Chính vì Phêrô xác quyết yêu mến Chúa, nên được Chúa trao phó đoàn chiên cho. Và chính vì đàn chiên được trao phó cho mình mà Phêrô phải lệ thuộc và vâng lời.

Nếu Phêrô được trao công việc này là vì ông yêu Đức Kitô. Việc ông phục vụ tha nhân sẽ được nung nấu không phải là vì lòng ham danh cầu lợi, nhưng vì lòng tín trung với tình yêu Đức Kitô. Tình yêu với Đức Kitô thanh tẩy ý hướng phục vụ tha nhân của ông.

Khi phục vụ tha nhân vì yêu Chúa, ông can đảm dấn thân trong con đường lệ thuộc, vâng lời. Đa số các nhà chú giải thấy trong dụ ngôn kỳ lạ của Chúa Giêsu lời tiên báo việc tử đạo của Phêrô vào cuối đời. Nhưng người ta cũng thấy trong đó lời tiên báo: cuộc đời Phêrô, vì ngày càng bận bịu phục vụ tha nhân, sẽ được thúc đẩy bởi một sự vâng lời đến nỗi ông bị chiếm đoạt hoàn toàn.

Đây là một sự lệ thuộc chặt chẽ giữa tình yêu Chúa, việc phục vụ tha nhân là sự từ bỏ chính mình, tất cả những gì mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi Phêrô, thủ lãnh Giáo hội. Do đó, được trao ban quyền bính, với sứ mạng thiết lập một sứ mạng mới, Phêrô phải tuân hành trong sự vâng phục thánh linh. Ông được chính Chúa bảo vệ khỏi cám dỗ thống trị anh em. Khỏi quyến rũ áp đặt một quyền lực tôn giáo, khỏi tham vọng mưu đồ địa vị cá nhân.

"Người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến mới nói cùng Phêrô: "Chúa đó" (c.7). Theo văn mạch, người môn đệ nhận ra Đức Kitô không phải vì nhìn thấy Chúa trực tiếp, nhưng vì thấy phép lạ Chúa làm. Truy nhiên không phải ai cũng nhận ra; bản văn cho thấy chỉ một mình môn đệ Chúa Giêsu yêu mới có được sự minh mẫn mà các tông đồ khác không có.

Đối với chúng ta cũng thế: việc nhận ra Chúa Giêsu, sự khám phá ra hiện diện của Ngài, trước tiên không nằm trong tầm trí giác bén nhạy và tức khắc, nhưng được thực hiện nhờ việc giải thích biến cố trong đó biểu lộ hiệu lực của Lời Ngài và hiệu năng của công việc chúng ta dựa trên "Lời Ngài" (Lc 5,5). Chỉ một mình môn đệ Chúa Giêsu yêu mến mới có thể làm được điều ấy, bởi vì sự vắng mặt lâu của thày, sự nặng nề của công việc mà thói quen dễ thất vọng đã không dập tắt trong ông cái nhìn của tình yêu. Khi mà các môn đệ khác chỉ thấy một sự may mắn bất ngờ, thì ông lại khám phá ra sự can thiệp của Đấng phục sinh. "Ông thấy và ông tin" (20,8). Ngược với Tôma muốn thấy và sờ đến trước khi tin, ông không cần một minh chứng rõ ràng, nhưng đức tin và cái nhìn trở nên một nơi ông: điều ông thấy mạc khải cho ông Đấng ông tin, vì Đấng ông tin làm cho ông thấy. Và chúng ta, những Kitô hữu, sự phục sinh của Đức Kitô có thâm nhập và biến đổi cuộc đời chúng ta, có canh tân cùng tinh luyện cái nhìn của chúng ta về các biến cố không ? 


Noel Quession - Chú Giải

 
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Ga 21:1-9

Sau đó, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển hồ Ti-bê-ri-a, Người tỏ mình ra như thế này. Ong Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ong Simon nói với các ông : "Tôi đi đánh cá đây". Các ông đáp : "Chúng tôi củng đì với anh".

Công cuộc Phục sinh cần được thực hiện giữa đời thường. Các nhân chứng đầu tiên không phải là những siêu nhân. Họ lại hoạt động với nghề cũ. Họ tiếp tục đánh cá ở Biển hồ. Tất cả là bảy người, đều đã sống với Đức Giêsu. Nhưng Đức Giêsu không hiện diện ở đó nữa. Chúng ta cần ghi nhận một chi tiết, Phêrô đóng vai chủ động khởi xướng. Đó là một biểu tượng đầy ý nghĩa.

Mọi người ra đi, lên thuyền nhưng đêm đó họ không bắt được gì cả.

Đánh cá vào ban đêm là một cách thông dụng. Đó là nét thực tế, mang tính lịch sử. Nhưng ở đây, ta cũng có thể nhận ra một ý hướng của người thuật chuyện : trong cảnh mù tối. . trong đêm khuya . . . họ đã mất giờ vô ích . Một mẻ lưới không bắt đưđẹ con cá nào. Chúng ta cũng thường gặp như thế trước những lo lắng về gia đình, nghề nghiệp, xã hội, giáo hội. Đêm tối đời tôi là gì ?

Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận đó chính là Đức Giêsu.

Bảy người đang sống trên "biển nổi sóng", giữa cảnh mù tối. Đối với người Xê-mít, biển là nơi các thế lực ngầm, các lực lượng âm phủ, thù nghịch, thường gieo khiếp hãi. Còn Đức Giêsu đang đứng trên đất liền, trước ánh sáng của một ngày mới lên . . . nét tương phản cố ý để minh chứng rằng, kể từ nay Đức Giêsu ở một bến bờ khác ? Người vừa mới trải qua một cuộc vượt biển và đang hiện diện ở phía bên kia, đang chờ đợi ta ở đó ! Nhưng họ không nhận ra Người ! Trên bến bờ đời đời.

Hôm nay, Ngài cũng luôn chờ đợi chúng ta như thế.

Đức Giêsu nói với các ông : "Này các chú, không ăn gì ư ?". Các ông trả lời : "Thưa không". Người bảo các ông : "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, anh em sẽ bắt được cá". Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.

Đức Giêsu biết rõ, đêm tối của họ đầy thất vọng và nao núng. Người chia sẻ tình trạng khổ cực của họ. Người chủ động giúp đỡ họ. . . ngay lúc họ đang bối rối lo lắng. Còn tôi, tôi có thể nghe thấy gì, nếu tôi biết lắng nghe tiếng nói của Người vọng đến từ "bờ" bên kia ?

Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với ông Phêrô : "Chúa đó". Vừa nghe nói "Chúa đó" ông Simon - Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển.

Phêrô nhảy xuống biển. Ong bơi vội vã. Ta biết Phêrô là thế ông là một con người xung động. Nhưng, cũng như trong cảnh đến thăm mồ Chúa, tại Giêrusalem, Gioan vẫn là người phát hiện ra trước Phêrô. Ong sống "yêu thương", nên ông đoán định theo trực giác. Nhận biết một người, chính là một công việc của tình yêu.

Do đó, đức tin luôn liên hệ với tình yêu. Đức Giêsu Phục sinh không biểu lộ mình ra với những kẻ thù nghịch, những đối phương. Người không có ý định khuất phục họ. Người không thích bá chủ, chiếm hữu và hiển thắng họ ! Nếu bạn tìm kiếm Chúa với tình yêu, Người sẽ tỏ hiện ra với bạn, trong một cuộc gặp gỡ đầy tinh tế và chân thành. Bạn hãy kiếm tìm dung mạo Người, sự hiện diện của Người.

Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

Đây là một chi tiết rõ ràng, như chữ ký xác thực của một nhân chứng.

Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa.

Đức Giêsu bảo các ông : "Đem ít cá mới bắt được tới đây ! "

Đây cũng là một chi tiết nữa, rất khác thường, và do đó đầy tính biểu tượng. Chính. Đức Giêsu đã chuẩn bị một "bữa 'ăn" cho họ. Không phải bữa ăn họ chờ đợi, do nỗ lực sửa soạn của họ. Đó là một bữa ăn đã được dọn sẵn ! Họ được kêu mời cứ việc tham dự, bằng cách tăng cường những hải sản mà họ vừa mới đánh bắt được, theo lệnh truyền của Đức Giêsu. Thực ra, chính Đức Giêsu đang nuôi dưỡng họ.

Ta biết tầm quan trọng của "bữa ăn" trong những lần hiện ra sau biến cố Phục sinh : vào chiều tối Thứ Năm Thánh Đức Giêsu cũng đã "phục vụ" các bạn hữu của Ngài như thế. Ngày nay cũng vậy, đối với các Kitô hữu, việc bẻ bánh và chia bánh luôn là một dấu chỉ đặc biệt sự hiện diện của Chúa Phục sinh. Vâng, Đức Giêsu đang ở trên một bến bờ khác và chờ đợi chúng ta, để chia sẻ cho ta sự sống mới trong một mối hiệp thông mà bữa ăn Thánh Thể là biểu tượng.

Ong Simon - Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con.

Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách.

Sau trực giác yêu thương của Gioan, con người chiêm niệm… bây giờ đến thái độ dấn thân của Phêrô, con người hoạt động. Đó là hai vai trò cần thiết để xây dựng Giáo hội, được coi như "tấm lưới" không bị rách. Cũng như trong đoạn văn diễn tả "chiếc áo của Đức Giêsu không bị xé rách" (Ga 19,24). Ở đây ta gặp lại sự ám chỉ Giáo hội cần phải được giữ gìn khỏi mọi ly giáo và chia rẽ.

Đức Giêsu nói : "Anh em đến mà ăn". Không ai trong các môn đệ dám hỏi : "ông là ai", vì các ông biết rằng đó là Chúa.

Nhận xét đơn sơ trên đây giúp ta bước sâu vào "mầu nhiệm". Cuộc Phục sinh đã khiến Đức Giêsu, người bạn thân và kẻ đồng hành với họ hôm qua Đức Giêsu Nadarét sống trong một trạng thái hoàn toàn khác... Rõ ràng đúng là Người, nhưng đồng thời không phải như người hôm qua. Người đã trở nên "O kiirios, Đức Chúa !". Và trong trường hợp này, từ đó mang một ý nghĩa mạnh nhất. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng !

Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông, rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ sau khi chỗi dậy từ cõi chết. 

Đây là bữa ăn thực sự. . . đồng thời , cũng là bữa ăn mầu nhiệm.

Chúng ta hãy nhớ lại diễn tả dài của Đức Giêsu về Bánh ban sự sống, chiếm gần hết chương sáu Tin Mừng theo thánh Gioan, sau khi Chúa dùng "năm chiếc bách lúa mạch và hai con cá nhỏ", từ trong túi ăn của một cậu bé trên bờ hồ Tibêriát, để biến hóa ra nhiều…

Vâng, hiện nay Đức Giêsu đang ở "trên bến bờ khác" , trên một vùng đất khác, để trao ban cho ta "lương thực từ trời " Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian" (Ga 6,33). "Tôi là Bánh hằng sống. . . Thịt Tôi thật là của ăn . . . Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời…." (Ga 6,51-55-58).

Chúng ta cũng nên nhớ rằng, vào thời gian mà thánh Gioan viết trình thuật Tin Mừng trên đây, các Kitô hữu thường dùng hình ảnh con cá làm biểu tượng cho Đức Giêsu. Thực vậy, từ "con cá" (tiếng HyLạp là iktus) gồm năm chữ đầu các từ định nghĩa Đức Giêsu :
Lèsous Kristos Théou Unios Sôter

Giêsu Kitô Thiên Chúa Con Đấng cứu độ

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simon Phêrô : "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?". Ong đáp : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. Người nói : "Hãy chăn dắt chiên của Thầy".

Trong cuộc đối thoại trên bãi biển, đã ba lần vang lên những lời hỏi thừa thế, Đức Giêsu biến đổi anh thuyền chài đó trở thành người mục tử. Người thông truyền cho Phêrô quyền điều khiển Giáo hội. Đừng quên rằng, vị Mục tử duy nhất là chính Đức Giêsu. "Tôi chính là Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên" (Ga 10,11). Giờ đây Đức Giêsu phải ra đi.. Người. không còn hiện diện "bằng xương, bằng thịt" nữa. Người trao cho Phêrô trách vụ phải tiếp tục sứ vụ của Người trên thế giới và trong lịch sử. Nhưng eác chiên vẫn là chiên của Đức Giêsu : "Hãy chăn dắt chiên của Thầy".

Lần thứ hai... rồi lần thứ ba, Đức Giêsu lại hỏi : "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không ?".

Ong Phêrô buồn, vì Người hỏi tới ba lần : "Anh có yêu mến Thầy không ?". Ông đáp : Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy". Đức Giêsu bảo : "Hãy chăm sóc chiên của Thầy".

Bị hạch hỏi tới ba lần, Phêrô cảm thấy đau xót khi liên tưởng tới ba lần ông chối Thầy. Đó là thái độ cực kỳ tế nhị của Đức Giêsu. Người không hề nhắc lại với Phêrô về tội lỗi của ông ! Người chỉ yêu cầu ông ba "lần biểu lộ tình yêu ! "Anh có mến Thầy không ?": Câu hỏi đó, ngày nay đức Giêsu cũng đang đặt ra cho chính tôi. Trong thinh lặng, tôi lắng nghe câu hỏi trên : "'Này anh X. . . anh có yêu Thầy không ?". Tôi hãy thay tên X bằng tên riêng của tôi.

Tôi sẽ trả lời ra sao ? Tôi không thể dựa dẫm vào câu trả lời của kẻ khác. Chính tôi đang được để ý và hỏi han….

Như thế, người đã phạm tội nặng nhất, kẻ đã trói Đức Giêsu vào ngày Người bị kết án và chịu khổ hình (thật là một tội khủng khiếp !) hoàn toàn được phục hồi trong tương quan thân mật và yêu thương. Và Đức Giêsu lại ủy thác cho con người tội lỗi đó, trách nhiệm trọng đại nhất trong toàn thể lịch sử nhân loại. Oi, tình yêu thật là quan trọng ! Tình yêu phải trở nên khuôn thước cho hành động. Quyền bính trong Giáo hội, tác vụ trong Giáo hội, là một phục vụ, một tình yêu : cần phải phục vụ yêu thương anh em mình (Mc 9,35 ; Ga 13,4-16)... nhưng trong chính tác động đó, cũng là phục vụ yêu thương Đức Giêsu. . . Đó là một trong những nguồn gốc mầu nhiệm của đời độc thân tận hiến.

Thật Thầy bảo thật cho anh biết : "Lúc còn trẻ anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn". Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : "Hãy theo Thầy". 

Anh chị em, chúng ta hãy suy niệm dụ ngôn nhỏ bé cuối cùng của Đức Giêsu : Về tuổi trẻ như biểu tượng của tự do và hoạt động ("Anh đi đâu tùy ý")... và tuổi già như biểu tượng của sự gò bó và thụ động ("một người khác sẽ thắt lưng cho anh"), nghĩa là sự từ bỏ triệt để của tuổi già đầy yếu đuối khiến ta không thể tự mình ăn mặc được nữa)... Thái độ thụ động, đành phải chấp nhận này, cũng là cách thế thuận theo của Đức Giêsu trên thập giá . " Đó là hoạt động cuối cùng của con người khi chỉ còn biết phó mình trong bàn tay của một Đấng khác : đó chính là tác động yêu thương. Thái độ này không làm giảm thiểu hay làm mất thể diện Thiên Chúa, nhưng là tôn vinh Người. Đối với Đức Giêsu, cái chết là hoạt động cuối cùng.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn