Clock-Time

Suy Niệm Chúa Nhật - Chú Giải Lễ Thánh Gia Thất

Chúa Giêsu đã sinh ra trong một gia đình, mà lại là một gia đình nghèo. Ngài cũng có cha mẹ như bao trẻ thơ khác, như mỗi người chúng ta. Và cha mẹ Ngài cũng là những người lao động, phải sống bằng mồ hôi nước mắt như hầu hết các gia đình khác.

CHÚ GIẢI KINH THÁNH


LỄ THÁNH GIA - NĂM B

Lc 2: 22- 40



Học viện Piô Giáo hoàng  - Chú Giải




CÂU HỎI GỢI Ý

1 Khi viết”Họ phải được thanh tẩy”(c.22), Lc nói về ai? Theo luật Môisen, Chúa Giêsu có buộc phải được thanh tẩy không?

2. Lc nhấn nạnh đến khía cạnh nào của nghi thức này:  đến việc thanh tẩy Maria hay đến việc trình dâng Chúa Giêsu? Tại sao?

3. Tại sao mọi con trai đầu lòng phải được chuộc lại?

4. Đâu là ý nghĩa thành ngữ “sự an ủi của Israel"

5. Trong đoạn văn đây, Lc đề cập đến mấy lần hoàn tất các quy định của luật Môisen? Làm sao giải thích chuyện này, biết rằng ông viết cho độc giả gốc ngoại đạo? 

6. Làm sao giải thích c.35 về lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn Maria?

7. Làm cách nào đặt giai thoại này vào trong thần học của hai chương đầu nói về thời thơ  ấu của Chúa Giêsu?

1. Phần cuối cùng trong Tin Mừng thời thơ ấu theo Luca được làm thành bởi hai giai thoại có chung một khung cảnh là Đền thờ Giêrusalem. Chắc đây không phải là sư  ngẫu nhiên Tin Mừng đã được khai mào bằng một trình thuật có khung cảnh là Đền thờ: việc truyền tin cho Dacaria và chấm dứt bằng nhữg tiếng liên quan tới Đền thờ: Họ (các Sứ đồ) hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa'' (24,53). làm như vậy Lc muốn cho thấy con người của Chúa Giêsu là Đền thờ có liên hệ mật thiết với nhau.

Chủ ý của Lc trong đoạn văn này là nói tới việc Hài nhi Giêsu đến trong Đền thờ Giêrusalem- Phần đầu của trình thuật mô tả cho ta cơ hội. Cơ hội này là cái tập tục Do thái truyền buộc mọi phụ nữ, sau khi sinh con 40 ngày, phải”đem lên trước cửa Trường Tao phùng (Lều hội họp) cho tư  tế một con chiên 1 tuổi để làm lễ thượng tiến và một bồ câu non hay chim cu để làm lễ tạ tội”(Lv 12,6).”Nhược bằng không thể sắm được một con chiên thì y thị sẽ lấy hai chim cu hay hai bồ câu non”(Lv 12,8). Đây là điều mà Luca ghi lại cho ta về

Maria (2.24) Tuy nhiên bản văn của ông có một điểm dị thường. Ông nói đến ngày mà theo luật Môisen, họ phải được thanh tẩy”(2,22). Thế nhưng luật Môisen chỉ đề cập tới người đàn bà. Điều này cho ta thấy chuyện duy nhất làm bận tâm Lc là sự hiện diện không những của Maria, mà còn của Giuse và của Chúa Giêsu tại Ciêrusalem nữa. Kiểu nói như được rút ngắn lại. Bản văn đúng ra phải ghi thế này:”Khi dến ngày mà theo luật Môisen, Maria phải được thanh tẩy, thì họ đón Người lên CỊiêrusalem".

Ngoài điểm dị thường trên, Lc còn thêm hai điểm đặc biệt nữa. Trước hết là về luật buộc Cha mẹ phải thánh hiến cho Thiên Chúa môt cậu trai đầu lòng. Đây là một luật có từ thời xa xưa, liên hệ đến súc vật cũng như con người (Xh 13,1). Nó  nói lên việc Thiên Chúa được quyền dành riêng cho Ngài của đầu mùa của mọi vật sống. Chính bản văn Xuất hành này đã được Luca trích ra (2,23). Và theo thói quen, cha mẹ sẽ chuộc lại đứa trẻ ( Xh 13,13) Nhưng đây Lc không nhắc đến quán lệ này. Trái lại. Ông nói đến việc trình dâng Hài Nhi, việc mà luật. Chẳng hề đề cập tới. Tuy vậy Lc vẫn cho rằng việc trình dâng này phù hợp với lề luật (2,23 và 27). Hình như ở đây Lc đã lẫn lộn (hay cố ý nhập làm một) việc thánh hiến và chuộc lại các trẻ đầu lòng? mà luật có buộc và không bao hàm chuyện phải đến Đền thờ với việc cha mẹ Chúa Giêsu, trình dâng Người tại Đền thờ cho Thiên Chúa, dịp họ đến đó để thanh tẩy Maria. Rõ ràng là đối với Lc, điểm chính yếu là việc trình dâng đứa trẻ. Giuse và Maria đem Chúa Giêsu lên Giêrusalem để trình dâng Người cho Chúa (2,22). Như đã nói, việc trình dâng này chẳng hề là một điều luật buộc. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực của nó?

2. Trên phương diện lịch sử thì đây hẳn là một sáng kiến của cha mẹ Chúa Giêsu, có liên hệ không phải với một quy định chung, song với tính cách riêng của đứa trẻ. Maria và Giuse biết rõ Người thật là”thánh”(x. 1,35 ), rằng Người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa một cách siêu tuyệt. Việc trình dâng đứa trẻ tại Đền thờ là dấu họ thừa nhận sự thánh hiến đó. Chúa Giêsu không cần phải được thánh hiến, Người đã được thánh hiến trong chính mình rồi. Người thuộc một loại như Đền thờ, vì bóng (mây) từng biểu trưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đền thờ, đã bao trùm lấy Ngươi kể từ lúc đầu thai.

Nhưng Lc đã tô điểm, trình bày lại sự kiện lịch sử vừa nói để làm nổi bật tính cách tư tế của Chúa Giêsu. Và điều này liên hệ với thần học của ông một cách mật thiết. Và cũng từ dó nhiều điểm khác trong bản văn sắp được sáng tỏ. Trước nhất là chính hạn từ”trình dâng". Chữ paristanai không phải đã được Lc chọn cách vô ý. Chữ này đã được Cựu ước đặc biệt dùng khi nói về các tư t.ế và Lêvi”túc trực trước thánh cung”(Đnl 17,12; 18,5). Thành thử chữ”trình dâng”(présentation) có một ý nghĩa tư tế hoàn toàn. Nó nhằm cho thấy Hài nhi Giêsu là thượng tế của Giao ước mới. Đây là chủ đề sẽ được khai triển trong thư  Do thái về sau (9, 11-14.). Ngoài ra, cũng chính trong cùng bối cảnh tế tự, chữ paristanai còn chỉ việc tiến dâng một của lễ nào đó. Vì thế nó lại có một ý nghĩa tế lễ. Như ta thấy trong Rm 12,1: anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động cho Thiên Chúa". Như vậy, Chúa Giêsu được trình bày vừa như là vị tư tế dâng lễ, vừa như là hy lễ được tiến dâng lên.

Tuy nhiên, cũng chính trong tương quan với bối cảnh tế tự vừa nói mà chúng ta sẽ giải thích các điểm dị thường đã nhận thấy trong, bản văn Luca. Các điểm này không xuất phát từ sự sơ xuất, bất cẩn của tác giả, nhưng từ những chủ ý rõ rệt. Lc sử dụng các dữ kiện lịch sử theo cách thức làm nổi bật cái ông muốn trình bày. Chẳng hạn như câu trích dẫn Xh 13,2 (mà chúng ta đã bảo là có liên hệ với một quy khoản không được đề cập tới trong giai thoại) đã được giữ vì có ý niệm”thánh hiến”, ý niệm mà tiếng Hy lạp diễn tả qua câu”sẽ được gọi là thánh hiến (hagios=thánh) cho Thiên Chúa". Thành thử chẳng có một ám chỉ nào đến điểm cốt yếu của quy khoản cả, tức là sự chuộc lại đứa bé. Điều này cho thấy Lc không quan tâm đến việc chu toàn quy khoản của lề luật. Sau cùng, việc dâng làm hy lễ (thusia) một cặp chim cu hay bồ câu, là việc thực ra gắn liền với nghi thức thanh tẩy, thì được đặt liên hệ với việc trình dâng. Hầu làm nổi bật hơn nữa tính cách tế tự và tư tế của việc này. 

Thàntl thử đoạn văn của Lc có thể tóm tắt như sau. Ở nền tảng có một dữ kiện lịch sử là việc Maria lên Giêrusalem  để cử hành nghi thức thanh tẩy. Và nhân dịp này, Chúa Giêsu được cha mẹ Người thánh hiến cho Thiên Chúa, để  xác nhận rằng con mình thuộc về Thiên Chúa thực. Đàng khác cũng có quy khoản chuộc lại con đầu lòng, mà Giuse đã hoàn tất trong những hoàn cảnh khác. Lc thu nhận các dữ kiện này của truyền thống và chỉ giữ lại những yếu tố nào khả dĩ giúp cho ông trình bày Chúa Giêsu là Đấng Messia tư tế thôi. Ông đặc biệt làm nổi bật các hạn từ”trình dâng". thánh hiến cho Thiên Chúa",”dâng hy lễ". Đây là một trường hợp mà Lc không biên soạn theo lối chú giải, nhưng trực tiếp sử dụng các sự kiện lịch sử có liên quan đến các kỷ niệm đã được bảo tồn trong môi trường Nadarét.

3. Nhưng còn hạn thế nữa , Lc 1.5-2,22 cung cấp cho ta một thời biểu liên tục: đây là một sự kiện đặc biệt  mà chắc chắn không chỉ phát xuất từ mối ưu tư muốn chính xác trên phương diện lịch sử. Khi Gioan, trong phần đầu Tin mừng của ông (1,29.35.43; 2,1), đã tính tháng ngày cái tuần lễ tiên khởi của đời sống công khai Chúa Giêsu (tuần bắt đầu với phép rửa của Gioan Tẩy giả và chấm dứt với việc tỏ hiện vinh quang”trong 2,11) thì hoàn toàn chỉ vì giá trị biểu tượng của con số 7 và vì muốn nhấn mạnh ý nghĩa cánh chung của tiệc cưới trong đó Chúa Giêsu ban một thứ rượu nho nhiệm mầu) chứ chẳng phải vì ưa ngày thánh chính xác như chúng ta hiện nay Cũng một ý tưởng như vậy khi ông nhấn mạnh thời biểu 7 ngày sau hết của Chúa Giêsu ( 11, 55; 12. 1.12; 13, 1; 18,28, 19,14.31.42; 20,1). Vậy một khi đã xét đến thời đại của văn thể như thế, chúng ta phỏng đoán được rằng tác giả Tin mừng thời thơ ấu cũng đã có một ưu tư như Gioan. Ông đã muốn liên kết việv tỏ hiện từ đầu của thiên sứ Gabriel trong Đền thờ với việc tỏ mình của Chúa Giêsu cũng trong Đền thời đó: liên kết bằng một con số đầy ý nghĩa nói lên ý nghĩa mầu nhiệm của biến cố thứ hai.

Chúng ta tính xem thì sẽ thấy rõ. Có 6 tháng (Lc 1,26 và 36) kể từ khi truyền tin cho Dacaria đến lúc truyền tin cho Maria, tức 180 ngày nếu tính 30 ngày mỗi tháng theo thói quen Thánh kinh; 9 tháng từ khi truyền tin đến sinh nhật, tức 270 ngày; 40 ngày từ Sinh nhật đến lúc trình dâng Chúa Giêsu cho Thiên Chúa (Lv 12,3). Tổng cộng là 490 ngày (180+270 140) tức 70 tuần lễ.

Thế mà theo lời tiên tri của Đn 9,21-24, thì sau 70 tuần, Israel sẽ phải được thanh tẩy khỏi lỗi lầm và cung thánh đền thờ Giêrusaleln sẽ được thánh hiến lại. Lời tiên tri này, viết theo văn thể khải huyền, nhắm đến việc xúc phạm Đền thờ dưới thời Antiochus Epiphane IV và đến việc tái hiến thánh và thánh và cung hiến nó sau cuộc chiến thắng của Giuđa Macahê. Nhưng sau đấy, lời tiên tri thường xuyên được giải thích trong Do thái giáo như một sấm ngôn thiên sai. Hình như  Lc, qua việc thiết lập một thời biểu kỹ lưỡng, đã muốn liên kết lời tiên tri với việc trình dâng Chúa Giêsu. Một cuộc khảo sát chăm chú bản trình thuật của Lc xác nhận rằng ông đã có ý hướng này thực. Tuy nhiên, vì cuộc khảo sát đòi hỏi một phân tích khá tỉ mỉ, nên xin độc giả tham cứu tác phẩm nổi tiếng của R Laurenlin (Structure et théologie de Luc 1-2. Paris. Gabalda. 1957, tr.50-56). Kết luận công việc phân tích của mình, tác giả Laurentin bảo: qua việc song chiếu với Đn. Lc muốn cho thấy việc Chúa Giêsu vào Đền thờ khai mào việc cư ngụ có tính cách cánh chung của”Vinh quang”(Simêon gọi Chúa Giêsu là Vinh quang Israel) Giavê, việc cư ngụ mà bao ngôn sứ  đã từng tiên hứa.

Đàng khác, việc song chiếu này còn được xác nhận bởi lời tiên tri Ml 3, lời tiên tri nhắm đến Gioan Tẩy giả và vai trò tiền hô của ông mà Luca đã trích nguyên văn khi tường thuật cuộc truyền tin cho Dacaria. Lời tiên tri đó viết như thế nào”Này Ta sai thần sứ của Ta để vén đườg bạt lối trước nhan Ta. Và thình lình sẽ đến nơi đền thờ của Người vị Chúa mà các ngươi tìm kiếm”(Ml 3,1 ). Ở đây cũng vậy, có nhiều chi tiết minh xác sự song chiếu giữa bản văn Malaki là bản  văn Luca (x. Laurentin, tr.56-60). Thành thử nếu nghiên cứu kỹ lưỡng, ta sẽ thấy rằng: việc Chúa Giêsu vào Đền thờ dịp trình dâng là dấu thực hiện nhiều sấm ngôn tiên báo việc Giavê long trọng tiến vào Đền thờ Ngài khi chấm dứt thời kỳ trông đợi Đấng Messia. Vì thế ta hiểu tại sao ông Simêon. khi thấy Vinh quang Giavê rồi, liền tuyên bố là giờ đây mình có thể chết. Đó là ý nghĩa cuối cùng của kinh nunc dimittis, bài  thánh ca cánh chung tuyệt hảo.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Theo luật Môisen": người ta có thể thắc mắc tại sao Luca nhấn mạnh quá nhiều đến việc Thánh Gia hoàn tất các nghi thức Do thái. Nếu nhớ Luca là môn đệ của Phaolô, ta sẽ tìm ra được lý do tuyệt diệu trong suy tư sau đây của thư Galata:”Khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài, sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền Lề luật, để giải phóng những kẻ ở dưới quyền Lề luật, ngõ hầu ban quyền nghĩa tử: cho ta. Và bởi vì anh em là nghĩa tử, nên Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Ngài đến trong lòng anh em, chính Thần khí kêu lên: Abba, Cha ơi! Cho nên anh em không còn là nô lệ, nhưng là con; mà nếu là con, thì cũng là kẻ thừa tự thể theo (ý của) Thiên Chúa”(14,4-7). Bản văn này làm sáng tỏ Tin mừng thời Thơ ấu cách lạ lùng thật. Vì chẳng có nơi nào cho thấy rõ ràng Chúa Giêsu thật là Con Thiên Chúa, sinh bởi người nữ; chẳng có nơi nào mà Tin mừng nhấn ngạnh mãnh liệt việc Người tuân giữ các quy khoản Lề luật như đoạn văn hôm nay.

"Họ phải được thanh tẩy": Theo luật Môisen trong Lv 12 thì sau khi sinh con trai, người mẹ trở nên ô uế trong 7 ngày xét theo luật phụng tự (nghĩa là không được chạm đến vật gì đã thánh hiến cũng như tham dự phụng vụ tại Đền thờ) và tiếp đó phải ở riêng trong nhà 33 ngày nữa. Sau thời gian thanh tẩy theo nghi thức ấy bà phải đến Đền thờ dâng một của lễ. Người ta ngạc nhiên khi nghe thánh sử bảo: Họ phải được”thanh tẩy", vì chỉ mình người mẹ là cần chuyện này mà thôi. Có thể giải thích như sau: họ phải được thanh tẩy. Nghĩa là việc thanh tẩy này có liên can tới họ; thanh tẩy là điều bắt buộc đối với một mình người mẹ do việc sinh con ra, là việc sinh nở thì vừa liên hệ tới bà mẹ và liên hệ tới đứa bé. Người

ta cũng có thể ức đoán rằng Lc quan niệm lễ nghi thanh tẩy như được thi hành trong thực tế, nghĩa là có kèm theo nghi thức trình dâng đứa trẻ. Nếu thế thì đây là một lễ nghi tại Đền thờ trong đó Maria dâng các lễ tế tiên liệu cho việc thanh tẩy, đồng thời lợi dụng cơ hội để trình dâng Hài Nhi Giêsu. Nhưng dù sao chắc một điều là Giuse không dính dáng gì đến việc”họ được thanh tẩy", vì Lề luật chẳng hề buộc người chồng  phải thanh tẩy.

"Và khi đến ngày, theo luật Môisen. họ phải được thanh tẩy, thì họ đem người lên Giêrusalem": Hai chữ”họ”của câu này xem ra giống nhau, nhưng văn mạch cho thấy là không phải vậy; chữ”họ”thứ nhất nhắm Maria và Giêsu, chữ”họ”thứ hai nhắm Maria và Giuse. câu văn hơi sai đôi chút. Vì Lc quá muốn gãy gọn mà lại quên lưu ý là các đại danh từ số nhiều đi liền nhau đây không chỉ cùng nhân vật. Tuy nhiên ý nghĩa cũng khá rõ ràng. Việc trình dâng Hài Nhi tại Đền thờ này không có trong lề luật. Chỉ việc chuộc đứa bé là truyền buộc thôi. Nhưng Lc chẳng hề nói qua một tiếng đến lễ nghi chuộc Chúa Giêsu đó, mà chỉ đề cập tới việc dâng trình Người. Ông lại còn nhấn mạnh đến việc trình dâng này bằng cách liên kết vào đó hai văn từ của lề luật mà thật ra chỉ liên hệ tới việc chuộc con. Làm như vậy là để mặc cho việc trình dâng một ý nghĩa long trọng: dâng hiến và thánh hiến. Thành thử đối với Lc, việc long trọng trình dâng Chúa Giêsu cho Giavê hôm nay tương đương với việc chu toàn cách thiêng liêng nguyên tắc pháp luật của Xh 13, theo đó mọi con trai đầu lòng (và nhất là Đứa Con đầu lòng này) đều thuộc về Giavê.”Một người tên là Simêon”Tên này rất thông dụng thời đó. Có kẻ đã đồng hóa ông Simêon với một giáo sĩ tên Simêon, con của Hillel và cha của Gamaliel, cả ba đều là những đại giáo sĩ ở Giêrusalem. Nhưng việc đồng hóa này không bảo đảm. Lời kinh Nunc dimittis quả cho thấy Simêon là một cụ già, song Lc chẳng quả quyết điều này một cách minh nhiên.”Niềm an ủi của Israel": Từ Is 40, 1; 51, 12; 61 ,2... từ ngữ này ám chỉ thiên sai thời đại. 

“Thánh Thần ở trên ông": Theo ngôn ngữ Cựu ước (Ds 11, 17.11 ,25.29; 2V 2, 15; Is 11,2; 41, 1; Ed 11,5), thành ngữ này muốn nói Simêon là ngôn sứ.

“Đức Kitô của Chúa": Đây là tước hiệu cổ truyền của Đấng thiên sai trong Cựu ước Hy lạp (1Sm 24,7,11; 26, 9. 11. 16.23; 2 Sm 1 , 14. 16... ) và tương đương với tước hiệu”Đấng Messia của Giavê”. Đừng lẫn lộn với thành ngữ  Kitô Chúa”(thành ngữ riêng biệt của Lc trong Tin mừng, x. 2, 11) mà người ta thấy trong Ac 4,20 bản Hy lạp) và Tv Salomon 17,36 cũng như trong Phaolô nhiều lần về sau. Tước hiệu”Kitô Chúa”này rõ ràng có một ý nghĩa siêu việt mà những đồng hóa Đấng Messia với Giavê. Nó giàu nghĩa hơn tước hiệu”Đức Kitô của Chúa".

"Cha mẹ": Vì đã nhấn mạnh nhiều đến việc đầu thai đồng trinh của Chúa Giêsu, nên Lc không ngần ngại dùng chữ.”cha mẹ Người”(x. cc. 41.43) và ngay cả”cha Người”(cc. 33.48). Các sao lục viên vẫn thường thay các hạn từ vừa nói bằng chữ Maria và Giuse để làm nổi bật sự kiện Chúa Giêsu chỉ có một Cha ở trên trời.

"Giờ đây, lạy Chúa...": Sấm ngôn nơi cc.29-32 này tương ứng với thánh ca Dacaria về Gioan Tẩy Giả trong Lc 1,67-79; nhưng thay vì cảm hứng từ các Thánh vịnh, ở đây sấm ngôn mượn lời của sách Isaia đệ nhị, phần thứ hai, và công bố rằng trong Chúa Ciêsu, ơn cứu độ đã được ban tặng. Thánh thi này đã được dùng trong kinh nguyện phụng vụ của Giáo Hội (kinh tối) từ thế kỷ V (x. Hiến pháp Sứ đồ 7,48).

"Theo lời Ngài": Các chữ này làm ta liên tưởng tới việc Thánh Thần đã mặc khải (c.26) cho Simêon biết ông sẽ được nhìn thấy Đấng Messia trước khi lìa đời.

"Anh sáng rạng soi dân ngoại": Việc cứu rỗi dân ngoại lần đầu tiên được loan báo ở đây trong tác phẩm Lc. Nhưng nó chỉ cược công bố cách minh nhiên rõ ràng từ sau mặc khải phục sinh (Lc 24,47).

“Vinh quang của Israel dân Ngài": Tước hiệu này rất đặc biệt. Nó đưa ta về đoạn Xh 40,35:”Đám mây bao phủ nhà tạm và Vinh quang Giavê lấp đầy chỗ Thần cư”. Đây là việc Vinh quang đi vào trong cung thánh; và Vinh quang chính là Giavê. Ở đây cũng vậy, cũng nói về Vinh quang trong cung thánh, nhưng Vinh quang được mạnh dạn đồng hóa với Chúa Giêsu: người là Vinh quang. Có một dấu chứng nói lên ý tưởng táo bạo này là: theo quan niệm Cựu ước, ai đã thấy Giavê (Xh 19,21; 33,20; Lv 16,2; Ds 4,20) hoặc chỉ nghe Ngài nói thôi (Xh 20,10, Đnl 5,24-26; 18,16) đều phải chết. Thế mà trong giai thoại trình dâng Chúa Giêsu đây, các thành ngữ”thấy cái chết”(2,26),”thấy Chúa Kitô của Chúa”(2,26), thấy... Vinh quang”(2,30.32) lại liên quan mật thiết với nhau. Môisen đã không vào lều tạm vì sợ chết (Xh 40,35). Simêon thấy”vinh quang”và có thể lìa trần. Theo lối chơi chữ trong bản văn, thì ông”thấy”Vinh quang đồng thời với cái chết.

“Cha mẹ người đều kinh ngạc": Lc cố ý cho thấy sau các lần mặc khải đầu tiên ở 1 ,31-35 và 2, 11. 14, cha mẹ Chúa Giêsu vẫn chưa quán triệt hết mầu nhiệm của Người.

"Người có mệnh làm cớ cho nhiều người bổ nhào và chỗi dậy trong Israel": Chúa Giêsu là nhân vật bắt ta phải quyết định chọn lựa. Trong Người hoàn tất cái sấm ngôn hình như tiềm ẩn trong các lời Simêon nói:”Đối với các người, Ngài (Giavê) sẽ là cơ hội thánh hóa, là đá vấp phạm, là thạch nham nên dịp trượt ngã cho đôi nhà Israel, là tròng lưới là là cạn bẫy cho dân Giêrusalem. Lắm người sẽ trượt nhà trên đó; chúng ngã lăn và tan xương, chúng sẽ sa bẫy và bị chụp”(Is 8, 14). Nhưng lời tiên tri sau đây cũng đúng cho Chúa Giêsu:”Này Ta đặt  trên Sion một viên đá hoa cương, viên đá góc quý giá làm nền. Ai cậy tin vào viên đá này sẽ không nao núng”(Is 28,16). Khi buộc mỗi người phải chọn theo hay chống lại người, Chúa Giêsu sẽ là dấu chỉ gây cớ vấp phạm.”Và hồn bà, một mũi gươm sẽ đâm thâu qua": Câu này từ lâu đặt ra cho các nhà chú giải nhiều vấn đề lóc búa. Một số dựa theo Origène (Reuss, Bleek...) cho rằng lưỡi gươm là sự nghi ngờ sẽ đâm thâu suốt cuộc đời Maria, nỗi nghi ngờ về lai lịch sâu xa của Quý tử; nhưng lối chú giải này không mấy phù hợp với phần còn lại của Tin mừng là xem ra là một lối giải thích có tính cách tâm lý học vô bằng cứ. Lối giải thích cổ truyền (từ paulin de no le và thánh Augustin) đã xem lưỡi  gươm chính là việc Maria hiệp thông và nỗi đớn đau của đứa con tử nạn. Lối giải thích này dĩ nhiên có thể chấp nhận, nhưng không chắc chắn. Quả thế, nó cắt đứt chuyển thông liên tục của bản văn và xem ra đưa vào đấy một dấu ngoặc (BJ  và Nguyễn thế Thuấn đặt câu nói giữa hai gạch ngang) là như  thế là ngược lại với thói quen của người sêmita. Tiếp đến, nó quá thu gọn tư tưởng vào cá nhân con người Maria, một điều xem ra ngược với nhãn giới của thánh sử, vì đối với ông cũng như đối vật mọi tác giả Tân ước, tâm lý các nhân vật không đáng lưu tâm bằng vai trò của họ trong lịch sử cứu rỗi; người ta thấy rõ điều này trong các quang cảnh của thời Thơ ấu, trong đó Maria bao giờ cũng chỉ đóng một vai trò phụ thuộc sánh với vai trò Chúa Giêsu. Sau cùng lối giải thích cổ truyền đây quá quy chiếu về đồi Canvê mà loại bỏ mọi cái khác. 

Gần đây, việc chú giải câu này đi theo một chiều hướng khác biệt. Trong Cựu ước, hình như lưỡi gươm vẫn thường được xem như là biểu tượng của sự đối kháng và chia rẽ (Ed 12. 14). Hơn nữa, Isaia lại còn bảo Thiên chúa đã biến miệng Người tôi tớ thành một”lưỡi gươm sắc bén”(49,2). Hình ảnh này đã được Khải Huyền lấy lại khi nói về Chúa Kitô (1.16; 2, 12. 16; 19, 15.21). Khi nhớ rằng viên Ky mã trong Khải huyền, mà miệng võ trang bằng một lưỡi gươm sắc bén, được gọi là”Ngôi lời Thiên Chúa”(Kh 19, 13) và khi lưu ý rằng Is 49,2 đi trước Is 49,6 là đoạn gọi Người Tôi tớ là”ánh sáng muôn dân", thì ta phải lập tức nghĩ rằng cả hai câu này đã có trung tâm trí lực khi ông viết các.32.35a và rằng lưỡi gươm phân rẽ Israel làm đôi (c.34) chính là Lời mặc khải đến trong Chúa Giêsu, lời cứu độ nhưng cũng là lời phán xét (x. Dt 4, 12). Thế mà hình như chắc là trong hai chương đầu này. Luca trình bày Maria như là Nữ tử Sion, nghĩa là Israel nhân cách hóa (x. chứng minh dài dòng của Laurentin, sđd, tr.148- 163). Theo viễn ảnh như vậy, có thể Lc còn muốn tiếp tục việc nhân cách hóa này (trong quang cảnh trình dâng Chúa Giêsu và có lẽ rằng chính vì xét như là Nữ tử Sion mà Maria đã được Simêon ngỏ lời ở c.35a: trong con người của bà. Chính Israel sẽ bị gươm của Giavê xuyên thấu.

Lối chú giải này (của Sahlin. Black, Laurentin. Boismard, Benoit...) có lợi điểm là làm cho c.35a thuần nhất với văn mạch của nó. Thay vì nằm trong ngoặc đơn, thì câu này trở thành một khâu trong chuỗi khai triển; nó t.iếp tục tư tưởng của câu trước và chuẩn bị cho tư tưởng kế tiếp theo. Chúng ta đã thấy mối liên lạc giữa c.34 và 35a: cơn khủng hoảng gây ra trong Israel bởi”dấu chỉ vấp phạm”được mô tả, theo Edêkien, như  lưỡi gươm Giavê đâm thâu tâm hồn (dân Chúa). Còn c.35b thì đưa ra một kết luận ăn khớp: thử thách gây nên do việc Chúa Giêsu đến rồi đây sẽ vạch trần bí ẩn của mọi tâm hồn khi đòi con người phải chọn lựa theo hay chống Chúa Giêsu.

Được hiểu một cách ăn khớp với nhau như thế, cc.34-35 sẽ cân xứng tuyệt vời với các cc.30-32. Lời tiên tri của Simêon phân chia thành một  bức song bình: một bên là việc chiếu soi dân ngoại và ơn cứu độ phổ quát, vốn tựng trưng cho vinh quang Israel; bên kia là cơn khủng hoảng trong chính Israel, cơn khủng hoảng sẽ khiến nhiều con cái tuyển đến ngã gục. Đó là tất cả bi kịch của lịch sử cứu rỗi, được Lc trình bày trong Tin mừng và sách công vụ; tấm bi kịch này được  Simêon loan báo ở đây cách vắn tắt nhưng vô cùng mạnh mẽ. 

Để biện minh cách tiêu cực cho lối giải thích vừa nêu, chúng ta hãy đưa ra một bắt bẻ quan trọng đối với lối giải thích cổ truyền. Trong Tin mừng Lc, chẳng có chỗ nào nói đến việc Maria hiệp thông vào số phận đau đến của Chúa Giêsu cả. Dĩ nhiên người ta có quyền giả thiết bà đã hiệp thông một cách nào đó. Nhưng nếu Lc đã muốn ngụ ý điều này khi đặt trên miệng Simêon lời tiên tri bí ẩn, thì hẳn sau đó ông đã cho thấy việc hiệp thông được thể hiện trong nhiều sự kiện rõ rệt. Thế mà Lc đã chẳng nhắc đến tên Trinh nữ trong số các người đàn bà theo dõi việc đóng đinh thập giá.

"Ngày đêm tham dự phụng tự (Nguyễn thế thuần: Bà không rời khỏi đền thánh, thờ Chúa ngày đêm)": Nét này, mà người ta còn gặp lại trong Lc 18,7; Cv 20,31; 26,7, hình như hơi lý trưởng hóa. Vì dù sao, các phụ nữ không được phép ở lại đêm trong khuôn viên Đền thờ.

"Họ trở về Galilê, đến Nadarét...": Đây chỉ là một lối tóm tắt, hoàn toàn theo kiểu của Lc. Mt cho thấy Thánh Gia đã ở lại Bêlem khá lâu (Mt 2,11), và thời hạn cuộc lưu trú này tùy thuộc vào ngày giờ gán cho cuộc thăm viếng của các đạo sĩ. dựa vào Mt 2, 16, có người bảo là hai năm. Nhưng dầu giả thiết thế nào chăng nữa, thì việc Trình dâng tại Đền thờ cũng phải xảy ra trước cuộc Hiển linh. Vì khó cho rằng Giuse, mà trong suốt thời thơ ấu của Chúa Giêsu luôn luôn tỏ ra khôn ngoan thận trọng, ai đi lôi kéo cơn lôi đình của Hêrôđê xuống trên đứa bé. Thành thử việc trở lại Nadarét mà Lc nói ở đây trước tiên giả thiết việc lui về Bêlem rồi chạy trốn đến biên giời Ai Cập (hợp với Mt 2,13-15), và trùng hợp với việc định cư tại Nadarét mà Mt 2,19-23 đã nói. 

KẾT LUẬN 

Với nhiều điển tích, nhiều ám chỉ Kinh thánh, Lc cho thấy việc Trình dâng Chúa Giêsu tại Đền thờ khai mào thời đại thiên sai, cái thời đại đã được các ngôn sứ xưa loan báo và được đánh dấu bằng việc Vinh quang của Giavê long trọng tiến vào Đền thờ.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Từ thuở ấu thơ, ngay cả khi chưa nói được. Chúa Giêsu đã hoàn tất các lời Kinh thánh. Hôm nay, Ngài thực hiện lời hứa đã ban cho Đanien (9,21-24), cho Malaki (3,1) và cho biết bao ngôn sứ khác ngày xưa. Hôm nay, trong con người trẻ bé Giêsu, chính Thiên Chúa trở lại cung thánh bị bỏ phế của Ngài. Vì, dù tội Israel thế nào chăng nữa, Thiên Chúa vẩn luôn trung thành với lời mình đã hứa. Sự thất trung của Israel chỉ làm trì hoãn việc thực hiện các lời hứa này, chứ không thể hủy bỏ chúng được. Trong cuộc đời chúng ta cũng thế. Ngày chúng ta được Rửa tội, Thiên Chúa đã nhận chúng ta làm nghĩa tử Ngài. Rồi dù chúng ta có lắm bất trung, Ngài vẫn không khi nào ruồng rẫy. Dù tội chúng ta có xua đuổi Ngài ra khỏi cung thánh lòng ta, Ngài vẫn tìm mọi cách giúp chúng ta ăn năn thống hối. Hôm nay chúng ta hãy mở rộng cung thánh chúng ta cho Ngài, hãy mời Chúa Kitô đã từ nay vinh hiển đến ở mãi trong cuộc đời chúng ta, hãy cùng với Người tận hiến bản thân cho Thân phụ chí hảo của Người, để chúng ta cũng được trở nên”ánh sáng”(2,32) chiếu soi hết mọi người sẽ gặp chúng ta.

2. Hành động của Thánh Thần có mặt khắp cả bài Tin mừng hôm nay. Chính Thánh Thần ở trên Simêon (c.25) đã mặc khải cho ông biết ông sẽ thấy Đấng Messia trước khi qua đời (c.26), đã thúc đẩy ông vào Đền thờ ngay lúc Chúa Giêsu đến (c.27). Đối với chúng ta cũng vậy, chúng ta có thể sống dưới sự hoạt động của Thánh Thần cách thường xuyên nếu chúng ta ở trong ơn nghĩa thánh và biết chăm chỉ tuân theo những thúc đẩy bên trong của Ngài. Thánh Thần cũng có thể trở nên trong chúng ta một nguồn sáng giúp ta hiểu rõ hơn đức tin và bổn phận chúng ta, một nguồn sức mạnh và năng lực thiêng liêng giúp ta can đảm sống trọn đời môn đồ Chúa, một nguồn linh ứng cho lời cầu nguyện cũng như cho cuộc sống chúng ta thường ngày.

3. Simêon và Anna đã suốt đời chờ đợi giờ được cho xem thấy Chúa Kitô. Đối với chúng ta, họ là những tấm gương hy vọng và trung tín. lòng trung tín của họ đã được ân thưởng: họ được niềm vui bồng ẵm trên tay”Ang sáng dân ngoại”,”Vinh quang Israel", đích thân Thiên Chúa. Chúng ta cũng được hồng ân như vậy mỗi lần đi rước lễ. Chúng ta hãy chuẩn
bị tiếp lấy ân sủng này trong sự trung tín mong chờ và đón nhận nó với tất cả tâm tình biết ơn như Simêon và Anna.

4. Maria và Giuse đã chấp hành hoàn hảo mọi yêu sách của Lề luật Môisen. Các đấng lại vâng phục dẫn độ còn thi hành thói quen đạo đức là Trình dâng con trai đầu lòng tại Đền thánh, một điều là luật không đòi hỏi. Sở dĩ các đấng đã đi quá Lề luật như thế, đó là vì các đấng đã tuân phục với tình yêu chứ không vì sợ hãi.

5. Maria, thụ tạo tinh tuyền nhất trong lịch sử nhân loại, đã khiêm tốn chấp hành nghi thức thanh tẩy. Phần chúng ta là những người đã bị tội lỗi làm cho ra vô cùng ô uế, chúng ta cũng hãy khiêm tốn lãnh nhận bí tích cáo giải để được thanh tẩy tâm hồn. Cho đến tận thế, Chúa Giêsu vẫn là dấu chỉ vấp phạm (c.34) vì buộc con người phải chọn lựa theo hay chống lại Ngài. Phần chúng ta, hãy làm lại việc dấn thân theo Ngài vô điều kiện. Nếu chúng ta trung thành với Ngài, thì”ân sủng thiên Chúa cũng sẽ ngự xuống”(c.40) trên chúng ta và đổ đầy cuộc đời chúng ta niềm vui và ánh sáng.

7. Maria và Giuse đã ngạc nhiên khi nghe những điều Simêon và Anna nói về Quý tử. Sở dĩ ngạc nhiên, là vì các Đấng chưa hoàn toàn quán triệt mầu nhiệm sâu xa bao phủ con mình. Dù được sống thân mật với Chúa Giêsu, các đấng cũng phải tiến tới trong đức tin. Nhưng đức tin các đấng được đào sâu vì các đấng”gẫm suy mọi sự ấy trong lòng”(2,19). Đối với chúng ta, cũng chẳng có gì lạ nếu chúng ta không hiểu hết mầu nhiệm của Thiên Chúa. Dù đã qua 20 thế kỷ, Giáo Hội vẫn luôn luôn tiếp tục đào sâu mầu nhiệm Chúa Kitô. Như  Chúa Kitô, đức tin chúng ta phải lớn lên, triển nở trong sức mạnh và ân sủng. Đức tin chúng ta, chính là sự tăng trưởng liên tục và dần dần của Chúa Kitô trong chúng ta.


 

Noel Quession - Chú Giải

Lc 2: 22-40
 

Khi đã đến ngày phải làm lễ tẩy uế theo luật Môsê... tiến dâng như Luật Chúa quy định... để chu toàn nghi thức theo Luật Chúa truyền...theo như những gì đã ghi trong luật... khi họ chu toàn nghi lễ, như thiên hạ thường làm theo luật. 

Chắc chắn, đây không phải là ngẫu nhiên mà Luca nhấn mạnh tới 5 lần (các eâu 22, 23, 24, 27? 39) về việc chu toàn lề luật. Dù là”Con Thiên Chúa”Đức Giêsu đã tuân theo lề luật của con người. Đó là nét thâm sâu và sự thật về mầu nhiệm nhập thể. Ngài không tự coi mình như”có đặc quyền". Người hành xử”như mọi người”không có gì phân biệt Người với kẻ khác. Tôi dùng thời giờ để suy niệm lâu hơn về sự khiêm hạ phi thường này, rnà Thánh Phaolô gọi là: một”cuộc làm cho mình hóa ra không", một”kénose”(Pl 2,7). Đừng tự đặt mình vào số ngoại lệ. Không nên đòi hỏi những đặc quyền. Nên thực tế chấp nhận những nghịch chướng thường có trong cuộc sống, những dịch vụ không vinh dự của thân phận chúng ta.

Cha mẹ Đức Giêsu đem Người lên Giêrusalem... vào Đền thờ.

Cuộc lên đường này mang đầy ý nghĩa. Đó là đỉnh cao của”hai chương”Luca dành cho tuổi thơ của Gioan Tẩy Giả và của Đức Giêsu. Nhưng Luca hữu ý tạo cho bước đường của Đức  Giêsu sự ngược với Gioan. Việc báo tin cho Da-ca-ri-a diễn ra trong khung cảnh trang trọng và huyền diệu của buổi lễ tế  tự nơi Đền Thánh (Lc 1,0) nhưng Gioan con trai của ông lại ẩn mình”trong hoang địa”(Lc l,80). Còn việc truyền tin cho Maria xảy ra tại làng Na-da-rét nhỏ bé tầm thường (Ga l,46), nhưng Giêsu con trai của bà lại được nhận biết như  Đấng”Mê-si-a”trong thành thánh Giêrusalem; tại Đền thờ, giữa trung tâm thành phố, nơi hiện diện kỳ diệu của Thiên Chúa (Lc 2,27; 2,37). Như thế là chúng ta dang dừng lại trước”trang cuối cùng"... kết thúc Cựu ước! Những người Do Thái, đôi vợ chồng trẻ,  đang”chu toàn lề luật Môsê”. Một cách tượng trưng, lề luật được chấm dứt với cử chỉ này sẻ không cần tới Đền thờ nữa: người ta cũng sẽ phá hủy Đền. thờ, đó là”cuộc trở lại đầy Vinh quang của Thiên Chúa giữa Dân Người”như vị ngôn sứ loan báo (Ml 3, 1-4). Nhưng Thiên Chúa đến cách đột xuất, bất ngờ biết bao”! Không khi nào Người đến như người ta chờ đợi.

Có một người tên là Si-mê-on. Ông là người công chính và sùng đạo... Lại cũng có một bà ngôn sứ tên là An-na.. Bà ở góa, đến nay đã 84 tuổi, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ”.

Không phải ngẫu nhiên mà ta thích thú nhận ra rằng, theo Luca, không phải giới có thẩm quyền như các thầy tư tế các kinh sư nhận biết Đức Giêsu.. mà là những con người tầm xoàng, nhưng kẻ nghèo khó? Qua hai người tiêu biểu cho những kẻ”bé mọn”trên đây, thì toàn thể dân chúng thuộc”nhóm người nghèo Thiên Chúa yêu thương”đã đến gặp gỡ Đấng Cứu độ của họ. Đằng khác, điều đó cũng đã được các ngôn sứ loan báo:”Ta sẽ chừa lại giữa ngươi một dân khiêm nhu hèn mọn..:”một số nhỏ”còn sót lại (Xp 3,12; Is 16.14 + 30, 17,37.4; Gr 6,9; Ge 3,5) Si-mê-on và An-na tiêu biểu cho những người nghèo. Họ đều đã già cả; thuộc hạng người mà toàn thể xã hội muốn quên bỏ không mấy trân trọng”(Kn 3,13). Hơn nữa, An-na lại là cụ già”góa bụa", nghĩa là theo ngôn ngữ Kinh thánh, là cái nghèo hiện thân, vì cụ đã mất đi tất cả những gì đảm bảo cho mình chỗ đứng trong một xã hội mà chỉ người chồng mới có quyền pháp lý. Lạy Chúa, xin biến trái tim chúng con trở nên những tâm hồn của người nghèo, để chúng con biết nhận ra Chúa, trong những dạng bề ngoài khó nghèo mà Chúa thường ẩn dấu... 

Si-mê-on ẵm lấy hài nhi trên tay... Đấng Mêsia của Chúa... ơn cứu độ dành sẵn cho muôn dân... ánh sáng soi đường cho dân ngoại... vinh quang của ít-ra-en...

Thiên Chúa ưa đột xuất, dễ gây ngỡ ngàng! Người ta mong chờ.”vinh quang",”quyền lực"! Thì Ngài lại xuất hiện trong thân phận một”trẻ nhỏ", một bé thơ thật sự khóc oe oe, chưa biết đứng thẳng, phải bồng ẵm trên tay! Chỉ có cụ già đó, tự để cho Đức tin và Thánh thần mở mắt mình! Ba lần gọi tên trong bản văn, mới có thể nhận thấy được sự khám phá ra được điều đó, cần phải trở nên khó nghèo, Đức tin là một thứ nghèo khó: người ta nhìn mà không nhận biết (Ga 20,29). ấy thế mà dưới lớp vẻ bề ngoài nghịch thường bé bỏng của em nhỏ (ta nghĩ đến”hình dạng bề ngoài”của bánh mà ta lãnh nhận...), lại chính là lễ tấn phong cách công khai của Đức Giêsu”trong Đền thờ của Người": Những tước hiệu mà hai người nghèo khó trên đây tặng cho Người , thật là ngời sáng! Đức Giêsu – gói thịt đáng thương này (và Ngôi lời đã mặc xác phàm)  lại chính là Đấng Mêsia của Thiên Chúa...”ơn cứu độ của muôn người”...”ánh sáng"...”Vinh quang"...”Sự giải thoát”Giêrusalem... Lạy Chúa, xin ban cho chúng con đức tin. 

Những lời ông Si-mê-on nói về Hài nhi làm cho cha mẹ Người ngạc nhiêm bỡ ngỡ.

Như thế, đây cũng là lời xác nhận rằng,”đức tin của cha mẹ”cũng cần phải tiến triển! Không biết lòng tin của họ ra sao, nhưng Maria và Giuse đều rất đỗi ngạc nhiên và bỡ ngỡ trước những”tước hiệu”mà ngời ta gán cho con mình. Biến cố này gợi lên lòng tin của ông bà. Mười hai năm sau, tại Đền thờ này, ông bà cũng sẽ không hiểu gì (Lc 2,48-50) và vẫn còn ngạc nhiên. Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa giúp chúng con luôn được ngạc nhiên bỡ ngỡ như thế.

Ong bà đem con lên Giêrusalem để tiến dâng cho Chúa... và dâng của lễ theo luật định.

Đó là hai kiểu nói Luca đã sử dụng để trình bày”nghi thức”mà đôi vợ chồng trẻ trên đây đã thi hành. Động từ Hy-lạp được dùng ở đây là (“parastènai":”dâng hiến"), cũng chính là từ mà Phaolô sẽ dùng để nói lên thái độ căn bản của Kitô hữu. Đừng quên rằng, Luca là thư ký của Phaolô, và các bức thư đều được viết trước các Tin Mừng. Thế nên, Luca đã chủ ý dùng một ít mang ý nghĩa.”Anh em đừng hiến thân xác anh em phục vụ tội lỗi nữa, nhưng anh em hãy hiến toàn thân để phục vụ Thiên Chúa”(Rm 6,13).”Anh em hãy hiến thi thể anh em để phục vụ sự công chính, để trở nên thánh thiện”(Rm 6,19).”Thưa anh em, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thực xứng hợp để anh em thờ phượng Người”(Rm 12,1.). 

Như  vậy, Maria và Giuse đến thi hành trước, điều mà sau này chính Đức Giêsu sẽ thực hiện trong bữa tiệc ly và trên thập giá... và mọi Kitô hữu được mời gọi thể hiện trong mọi thánh lễ: hiến dâng mạng sống của mình!”Đây là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con". Lạy Chúa, khi thông hiệp với Chúa, chớ gì con biết hiến mạng sống mình vì yêu. Để làm nổi bật hai sự việc trên chỉ là một ("tiến dâng con”và”hiến dâng của lễ"), Luca trích dẫn hai đoạn văn Kinh thánh, khi cần vẫn có thể tăng cường chiều kích”vượt qua”của trình thuật này:”Tất cả các con trai đầu lòng đều được thánh hiến dành cho Thiên Chúa”(Xh 13,2.12.15). Chúng ta hãy nhớ lại nguồn gốc của nghi thức này. Dân tộc ít ra-en làm nô lệ bên Aicập. Để chấp nhận việc giải phóng vượt qua, vua Pha-ra-ô đã phải chứng kiến mọi con trai đầu lòng thuộc xứ sở mình đều chết hết. Một của lễ chiên vượt qua ghi dấu máu nơi cửa nhà Do Thái. Và để”ghi nhớ”ngày cứu độ giải phóng này, mọi con trai đầu lòng người ít-ra-en đều thuộc về Thiên Chúa! Muốn dẫn chúng trở lại gia đình, cần phải”chuộc lại". Đó là biểu tượng lạ thường. Một vật thuộc về Thiên Chúa? Muốn dân chúng trở lại gia đình, cần phải”chuộc lại". Đó là biểu tượng lạ thường. Một vật thuộc về Thiên Chúa: là một vật được hiến thánh! 

Chính Đức Giêsu cũng được”hiến thánh”cách trọn vẹn! Và việc đó được diễn ra vào”ngày thứ bốn mươi", thời gian tròn đầy.. và sau này còn có một”ngày thứ bốn mươi”nữa, để kết thúc mùa phục sinh dẫn tới biến cố lên trời làm cho sự hiện diện hữu hình của Đấng phục sinh biến khỏi. Đúng vậy, toàn bộ Tin Mừng đang nằm ở trang này. Và một cảnh vượt qua khác cũng sẽ diễn ra”ở Giêrusalem”(Lc 24, 47-52).

Phép rửa đã thánh hiến tôi cho Chúa. Biến cố đó có ý nghĩa gì  đối với tôi không? 

Của lễ là một đôi chim gáy, hay một cặp bồ  câu non…

Thật là cảm động, phải không? Nhưng coi chừng, ta có thể biến toàn thể trình thuật trên đây của Luca thành giai thoại mất thôi! Một lần nữa, ta cần ghi nhận rằng, Luca đã không thêm bớt gì. Rõ ràng ông chỉ dựa vào những thực hành tôn giáo Do Thái hiển nhiên. Nhưng ta cũng có thể nhìn ra, tại sao Đức Giêsu lại không được miễn chước khỏi việc tuân giữ những tập tục đó. Mà thôi, đối với Luca, điều quan trọng thực sự đó là”nội dung”thần học, là”ý nghĩa”thâm sâu của các sự kiện lịch sử. Vậy ta cứ chấp nhận quan điểm của người thuật chuyện. Nào ta sẽ đọc toàn bộ bản văn mà Luca đã trích dẫn một đoạn nơi sách Lêvi (12,8):”Nếu người mẹ không đủ khả năng kiếm đủ tiền mua con vật, thì có thể dùng đôi phim gáy hay một cặp bồ câu. Đó! đúng là lễ vật của người nghèo. Maria đã không thể làm gì hơn được. Bà không thể trả tiền cao hơn! Đó là điều mà Luca nhằm gợi lên cho ta, nếu ta biết đoán ra ý người viết, và ta biết rằng toàn bộ Tin Mừng của ông sẽ là”tin vui cho người nghèo (Lc 4,18). Phải, toàn bộ Tin Mừng đã nằm ở trang này, bề ngoài xem ra đầy hình ảnh dân gian. Phúc thay những người nghèo, vì nước trời là của họ. 

Được”thánh hiến”cho Thiên Chúa... điều đó không đòi hỏi những dấu hiệu huy hoàng. Mọi người nghèo trên thế giới với áo quần rách rưới, lại”xứng đáng”với Thiên Chúa và được thánh hiến... Những người nghèo được”thánh hiến"!  Tôi có kính trọng họ không? 

Cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người ít-ra-en phải hư vong hay được ơn cứu độ, cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. 

Đức Giêsu cũng là một”dấu hiệu”, một”dấu hiệu bị chống báng”, một”dấu hiệu mà người ta có thể phủ nhận". Thiên Chúa không muốn áp đặt. Người đã trao ban tự do. Người chấp nhận”dấu chỉ tình yêu của Người có thể bị người đời chối bỏ! Péguy sẽ nói:”Những khúm núm lụy phục của kẻ nô lệ không nói lên cho Người điều gì cả". Như thế mỗi người phải tự quyết định trước trường hợp”Giêsu”Ta có thể từ chối Ngài, nghĩa là phải hy vọng, phải quỳ xuống... ta có thể đón nhận Người, nghĩa là được ơn cứu độ được nâng lên...

Ngay tại trang này, ta đã có Đấng”Thẩm phán vũ trụ”, Đấng phân chia loài người ra làm hai trong Ngày cánh chung (Mt 25-31). Lạy Chúa xin nâng con lên. Xin giúp con biết chọn Chúa.

Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê, còn hài nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh... tiến triển... 

Cuộc hành trình lên thủ đô đã kết thúc. Đôi vợ chồng trẻ lại trở về miền quê tăm tối của mình. Nhưng giờ đây, chính Thiên Chúa luôn  ở cùng. Người sắp sống tại xưởng thợ nơi gia đình. Dần dần, Người sẽ tập sống làm người. Người sẽ học đời, học đi (ban đầu có thể lao đao, rồi té xuống). Người sẽ học đọc tại trường, học nghề thợ mộc... ôi thôi! kéo cưa của cậu mới”tập sự chưa giúp được việc gì. Những, Người cứ tập tành... Người sẽ tiến bộ. 

 


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

“Con trẻ lớn lên đầy khôn ngoan”


BÀI TIN MỪNG: Lc 2: 22 - 40 

I. Ý CHÍNH: 

        Sự việc Đức Mẹ và Thánh Giuse dâng hiến Chúa Giêsu trong đền thờ là để nói lên ý nghĩa Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa qua việc Người tỏ mình ra cho ông Simêon và bà Anna, đồng thời vừa là con người qua thân phân trẻ thơ tầm thường phải tuân theo lề luật. 

II. SUY NIỆM

    1 /”Đủ ngày thanh tẩy theo luật Môisen”: 

        Theo luật Môisen thì người đàn bà sinh nở sẽ bị dơ trong bảy ngày nếu là con trai và dơ trong hai tuần nếu là con gái đồng thời phải kiêng cữ thêm 33 ngày nữa không được vào đền thánh cho đến mãn hạn để được thanh tẩy. Theo luật này, Đức Maria sinh con trai lên làm lễ thanh tẩy sau 40 ngày, vì thế gọi là đủ ngày thanh tẩy. 

    2 /”Cha mẹ Chúa Giêsu đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng”: 

        Luật dậy cha mẹ phải hiến dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa. Nghi lễ này thực hiện vào ngày lễ thanh tẩy của cha mẹ.  

    3 /”Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thuộc về Chúa”: 

        Theo luật ( Xh 15, 2 và 12 ) thì mọi con trai đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa. Vì thế phải dâng hiến cho Người. Ở đây nói lên ý nghĩa Hài Nhi Giêsu thuộc về Thiên Chúa vì được dâng hiến để được thánh hiến cho Thiên Chúa Cha.

    4 /”Và cũng dâng lễ vật cho Chúa”: 

        Theo luật ( Lv 12, 6 - 8 ) sản phụ phải dâng lễ vật để làm của lễ toàn thiêu và đền tội. Ở đây Maria dâng một đôi bồ câu, chứng tỏ ông bà thuộc thành phần nghèo. Việc dâng lễ vật này chứng tỏ Maria phục tùng lề luật cách khiêm tốn mặc dù Mẹ thụ thai và sinh con không theo lối thường. 

    5 /”Có một người tên là Simêon”:  

        Simêon là người công chính kính sợ Thiên Chúa và đang chờ đợi niềm an ủi của Israel. 

    6 /”Thánh thần cũng ở trong ông”: 

        Có những người trông đợi Đấng an ủi Israel, nhưng Simêon được Chúa Thánh Thần mạc khải cho ông biết cách đặc biệt và đoán chắc rằng ông sẽ không chết trước khi nhìn thấy Đức Kitô của Thiên Chúa, tức là Đấng Cứu thế. 

    7 /”Giờ đây, lạy Chúa, xin để cho tôi tớ Chúa đi bình an”: 

        Khi bế Hài Nhi trên tay, Simêon đã thốt lên bài ca mà ngày nay vẫn còn được đọc trong giờ kinh tối mỗi ngày. 

        Bài ca này có hai ý tưởng chính: 

             * Đối với ông, Chúa Cứu thế là nguồn vui cho ông nên ông xin Chúa cho ông được chết bình an. 

             * Đối với các dân tộc và dân Israel. Đấng cứu thế sẽ đem ơn cứu độ đến cho mọi dân tộc chứ không nguyên cho dân Israel. Ơn cứu chuộc mà Đấng Cứu thế đem đến sẽ là sự sáng muôn dân, phá tan mọi tăm tối để họ nhận thấy chân lý. 

    8 /”Cha mẹ Người kinh ngạc”: 

        Khi sứ thần hiện đến thì chưa nói rõ gì về hoạt động của Con mình nơi các dân tộc ngoại giáo, đây là lần đầu hai ông bà được nghe Simêon nói đến cho biết về hoạt động ấy thì hai ông bà đều kinh ngạc. 

    9 /”Trẻ này được đặt lên khiến cho nhiều người...": 

        Simêon tiết lộ cho Maria về cách thế người ta sẽ đón nhận Chúa Kitô. Người sẽ làm cớ cho nhiều người nhào xuống hay đứng dậy. Người sẽ là mục tiêu cho người ta chống đối, có nghĩa là: 

             + Chúa Giêsu xuất hiện, thế giới sẽ chia làm hai phe đối chọi nhau, một phe theo và yêu mến Người, một phe chống đối và ghét Người. 

             + Nhờ sự yêu ghét đó mà bộc lộ ra cái thầm kín nhất trong con người, họ là con người yêu sự thật hay gắn bó với sự dối trá và lầm lạc. 

    10 /”Về phần Bà, một lưỡi gươm...”

        Bà mẹ sẽ chứng kiến tất cả những chống đối đó. Vì thế mà người Mẹ sẽ bị đau khổ như gươm đâm thâu qua lòng vậy. 

    11 /”Lúc ấy cũng bà tiên tri Anna...”

        Bà Anna được mệnh danh là tiên tri, vì bà làm công việc uỷ lạo dân Chúa và khích lệ họ làm điều thiện. 

             + Bà là người đạo đức vì bà là người luôn phục vụ đền thờ và hằng ngày ăn chay cầu nguyện. 

             + Bà được Chúa Thánh Thần soi sáng nhận ra Đấng Cứu Tinh Israel, bà ca ngợi Chúa, Bà đi loan truyền cho tất cả những ai trông chờ ơn cứu độ Israel được biết. 

III. ÁP DỤNG: 

    A / Áp dụng theo Tin Mừng: 

        Mầu nhiệm nhập thể: Chúa giáng sinh, liên hệ mật thiết với mầu nhiệm cứu chuộc. Chính mầu nhiệm cứu chuộc mới là niềm vui trọn vẹn của chúng ta. Ai đón nhận Chúa Cứu Thế thì được toại nguyện và được bình an ra đi như Simêon. 

    B / Áp dụng thực hành: 

        1 / Nhìn vào Đức Maria: 

             Maria, thụ tạo tinh tuyền nhất trong nhân loại, đã khiêm tốn chấp hành nghi thức thanh tẩy. Chúng ta là kẻ có tội lại cần phải khiêm tốn lãnh nhận Bí tích Cáo giải để được thanh tẩy tâm hồn. 

        2 / Nhìn vào Maria và Giuse: 

             - Hai Ông Bà đã chấp hành hoàn hảo mọi yêu sách của lề luật Môisen, hai Đấng đã tuân phục luật với tình yêu chứ không vì sợ hãi. Chúng ta chu toàn bổn phận, chu toàn lề luật vì mến Chúa, chứ không phải vì sợ Chúa hoặc mất sợ linh hồn. 

             - Hai Ông Bà ngạc nhiên khi nghe Simêon và Anna nói về Hài nhi Con mình, vì Ông Bà chưa hoàn toàn thấu hiểu mầu nhiệm sâu xa về sứ mạng của Con trẻ. Bởi thế hai Ông Bà phải tiến tới trong đức tin, và đào sâu đức tin bằng cách:”Suy gẫm mọi sự ấy trong lòng”. 

        3 / Nhìn vào Simêon và Anna: 

             Hai người suốt đời sống công chính với niềm chờ mong xem thấy Đức Kitô và đã được thấy. Chúng ta đón nhận Chúa qua các Bí tích với tâm tình yêu mến và cảm tạ. 



 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Gia đình, cộng đoàn yêu thương.      
  
Hc 3,3-7.14-17a; Cl 3,12-21; Lc 2,22-40


Khi gợi lại kỷ niệm đáng ghi nhớ về gia đình của mình, Đức Cố Hồng Y Marty, nguyên Tổng Giám Mục Giáo phận Paris, đã nói:”Tôi đã bập bẹ những tiếng đầu tiên về Thiên Chúa, khi nhìn mẹ tôi và cha tôi đọc kinh cầu nguyện. Tôi đã học biết sự sống, học biết sự chết, tôi đã học biết thế nào là yêu thương trong cuộc sống hằng ngày, khi tôi giao tiếp với thân nhân và những người quen thuộc. Tôi yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Giáo Hội như đã yêu mến mẹ tôi. Tôi không học mà cũng biết người phụ nữ đó đã cho tôi sự sống và mạc khải cho tôi tình yêu”. Gương sáng của cha mẹ đã giáo dục cho con cái nhiều điều tốt.

Chúa Giêsu đã sinh ra trong một gia đình, mà lại là một gia đình nghèo. Ngài cũng có cha mẹ như bao trẻ thơ khác, như mỗi người chúng ta. Và cha mẹ Ngài cũng là những người lao động, phải sống bằng mồ hôi nước mắt như hầu hết các gia đình khác. Là Thiên Chúa, Ngài đã đến với loài người như một con trẻ, bé bỏng, cần đến sự đùm bọc, che chở của những người thân. Cũng như bao trẻ em khác, Ngài cũng bị những biến cố lớn nhỏ của gia đình và xã hội chi phối, đưa đẩy, ảnh hưởng.

Rồi những năm thơ ấu, những thời kỳ thơ ấu và thành niên, Chúa Giêsu đã sống bên cạnh Đức Maria, Mẹ Ngài và Thánh Giuse, cha nuôi Ngài. Ngài cũng đã phải tập đi, tập nói, tập đọc, tập viết. Ngài cũng đã phải học Thánh Kinh, Lề luật. Ngài cũng đã phải tập lao động với những dụng cụ như cưa, bào, đục…trên những khúc cây, tấm ván. Ba muơi năm tại Nagiarét là một chuỗi ngày bình dị, như hàng trăm gia đình cùng thôn làng, như hàng triệu cuộc sống của con người qua các thời đại.

Đó là thời kỳ ẩn dật, vì Chúa Giêsu không để lộ chân tính đích thực của mình ra cho những người chung quanh biết. Đó cũng là thời gian chuẩn bị cho quãng đời công khai của Ngài, theo nghĩa là Ngài tích lũy cho mình những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết cho việc rao giảng Nước Thiên Chúa sau này.

Dưới một khía cạnh khác, chúng ta có thể nói, đó là những năm tháng trao đổi, cho và nhận giữa Con Thiên Chúa và gia đình nhân loại, được đại diện nơi Thánh Giuse và Đức Maria. Nếu chỉ là Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế không cần phải nhận ở nhân loại một thứ gì cả. Nhưng vì Ngài là Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta, nên Chúa Giêsu đã nhận rất nhiều của những người thân, nhất là của Mẹ Maria: cưu mang, sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục. Ngài cũng đã nhận rất nhiều từ cộng đoàn Nagiarét, từ Hội đường Do thái, từ cuộc sống của những người chung quanh, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật, lao động. Chúng ta khó hình dung được những điều đó, vì chúng ta có khuynh hướng đặt Thiên Chúa ở chốn cao xa mà quên điều hệ trọng là Thiên Chúa đã làm người, đã nhập thể và nhập thế.

Chúa Giêsu đã nhận rất nhiều từ gia đình nhân loại, nhưng thực ra Ngài còn cho nhiều hơn, vì Ngài đã cống hiến tất cả cho chúng ta, cả bản thể Thiên Chúa, cả năm tháng, cuộc sống và cái chết của Ngài, một cách âm thầm, khiêm tốn vô vị lợi.

Trong cuộc sống bình dị nhưng chất chứa bao tình thương ấy, Chúa Giêsu đã sống thân mật với Cha Ngài, đã sống thảo hiếu với cha mẹ trần thế của Ngài, đã sống chan hòa bác ái với những người chung quanh. Rồi cha mẹ Ngài là những người kính sợ Thiên Chúa cũng đã sống hết mình với Thiên Chúa, tận tụy và thương yêu con cưng của mình. Giữa Đức Maria và Thánh Giuse thì thật là một mối liên hệ có một không hai trong lịch sử loài người, chắc chắn tình yêu thương đậm đà và lòng tôn kính là những nét đặc thù nhất, khiến Thánh Giuse được gọi là người công chính, còn Maria là người có phúc hơn mọi người phụ nữ.

Sách huấn ca hôm nay đã nhấn mạnh đến lòng hiếu thảo của người con đối với cha mẹ trong gia đình, khiến chúng ta dễ hình dung ra cách sống của con Thiên Chúa làm người dưới mái nhà Nagiarét. Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Côlôsê đề cập đến mối quan hệ giữa những người được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn sống thành gia đình, gia đình của Thiên Chúa: đó là lòng từ bi, nhân hậu, là khiêm cung, ôn hòa, là nhẫn nại chịu đựng, chấp nhận nhau và tha thứ cho nhau. Gia đình của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse là một gia đình đã sống trọn vẹn hơn ai hết tinh thần ấy, vì các thành viên trong gia đình thánh này đều là những tôi tớ của Thiên Chúa, trong ý nghĩa là mỗi vị và cộng đoàn ba vị đều lãnh nhận từ Thiên Chúa một sứ mạng đặc biệt. Gia đình Nagiarét là gương mẫu, là lời mời gọi đối với mỗi người chúng ta, đối với mỗi gia đình công giáo ngày nay.

Anh chị em thân mến,

Ngày nay, hơn bao giờ hết, với sự tiến bộ của ngành khoa học nhân văn và xã hội, con người càng khám phá ra chiều kích xã hội của mình và tầm quan trọng của cộng đoàn gia đình trong đời sống xã hội. Gia đình là cái nôi đầu tiên đón tiếp con người và cung cấp cho con người những điều kiện cần thiết của cuộc sống và hạnh phúc. Đối với các kitô hữu, gia đình còn mang một ý nghĩa khác nữa: đó là một cộng đoàn yêu thương phản ánh cộng đoàn của Thiên Chúa, theo gương gia đình Nagiarét. Trách nhiệm thật lớn lao của các bậc làm cha, làm mẹ. Chức năng nhiệm vụ ấy cha mẹ chỉ có thể hoàn thành được nếu biết yêu thương và tha thứ như chính Chúa Kitô đã yêu thương và tha thứ cho chúng ta. Đó là qui luật trọng yếu trong mối quan hệ giữa vợ chồng, giữa con cái và cha mẹ. Vì trong cuộc sống gia đình, con người có thể biến cuộc sống ấy thành thiên đàng hay hỏa ngục trần gian. Cuộc sống gia đình tạo cho cha mẹ những cơ hội quí báu để thực hiện tinh thần yêu thương quên mình, mưu tìm hạnh phúc cho người khác. Cuộc sống gia đình luôn luôn đòi hỏi cha mẹ phải dẹp bỏ ý riêng mình, quan điểm riêng của mình, để tôn trọng và giúp đỡ con cái phát triển về mọi mặt.

Do sự khác biệt về tính tình, môi trường giáo dục, tuổi tác và sở thích, nên chuyện xung đột, căng thẳng, là chuyện đương nhiên không thể tránh được giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Nhất là trong một vài hoàn cảnh khó khăn về kinh tế tài chính. Muốn vượt qua những cảnh xung đột, những giờ phút căng thẳng ấy, mỗi người, dù là vợ hay chồng, cha mẹ hay con cái, đều phải thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô:”Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ”.”Ai muốn làm đầu thì hãy làm tôi tớ phục vụ mọi người”(x.Mt 20,26-28). Ở đây, cha mẹ có trọng trách nêu gương cho con cái, vợ chồng có trách nhiệm làm chứng cho nhau tình yêu quảng đại và vô vị lợi của Thiên Chúa. Lời căn dặn của thánh Phaolô phải là phương châm cho các bậc cha mẹ cũng như con cái trong gia đình:”Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Đức Giêsu Kitô, và nhờ Ngài mà cảm tạ Chúa Cha”(Cl 3,17).

Như thế, gia đình kitô hữu, theo gương đời sống gia đình của Thánh Gia Thất, với tình yêu thương và tha thứ, với tinh thần phục vụ quảng đại và vô vị lợi, sẽ là ngọn đèn tỏa sáng, sẽ là cái nôi hạnh phúc và đem lại hạnh phúc cho anh em đồng bào trong xã hội chúng ta hôm nay. 

HTMV Khoá 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn