Clock-Time

Người giáo dân dám ước mơ

Tính đồng nghị là bước đi cùng nhau và tham gia vào sứ mệnh Phúc Âm hóa của Giáo Hội. Do đó Giáo Hội đi ra - Giáo dân đi ra. Cần có những giáo dân được đào tạo và thúc đẩy bởi một đức tin chân thành, trong sáng bởi cuộc sống của họ đã được chạm đến bởi cuộc gặp gỡ cá vị và với tình yêu của Chúa Giêsu Kitô.

Giáo dân
Người giáo dân dám ước mơ

Giulia Paola Di Nicola - Attilio Danese

Tính đồng nghị là bước đi cùng nhau và tham gia vào sứ mệnh Phúc Âm hóa của Giáo Hội. Do đó Giáo Hội đi ra - Giáo dân đi ra. Cần có những giáo dân được đào tạo và thúc đẩy bởi một đức tin chân thành, trong sáng bởi cuộc sống của họ đã được chạm đến bởi cuộc gặp gỡ cá vị và với tình yêu của Chúa Giêsu Kitô.

“Tôi đã nói với những người trẻ - Đức Thánh Cha Phanxicô nhận xét - chúng ta cần những giáo dân có hương vị của kinh nghiệm sống, những người dám ước mơ”. Người ta nhận ra rằng Chúa Giêsu vừa là một giáo dân-linh mục, vừa là một linh mục-giáo dân. Tân Ước, một mặt, cho rằng Ngài là vị linh mục duy nhất trên thế giới, mặt khác, chứng thực rằng trong mắt những người đương thời, Ngài tự thể hiện mình là một giáo dân, một linh mục theo cách thức hoàn toàn khác với quá khứ. Trên thực tế, Ngài là dòng dõi của chi tộc Giuđa, đã ăn mặc như những người Do Thái bình thường, không phải với lễ phục thánh. Ngài mặc một chiếc áo choàng dài từ trên xuống, có lẽ do mẹ Ngài dệt và có sức thu hút đến nỗi những người lính La Mã phải rút thăm. Cũng không có chuyện Ngài vào Đền thờ để cử hành các nghi thức tư tế theo luật định. “Khi chức tư tế thay đổi thì nhất thiết lề luật cũng phải thay đổi. Điều này muốn nói đến những người thuộc các chi tộc khác, chưa hề có ai đã phục vụ bàn thờ. Thật vậy, người ta biết rằng Chúa chúng ta đã xuất thân từ chi tộc Giuđa và với chi tộc này, Môsê không nói gì đến chức tư tế” (Dt 7,12-14).

Do đó, các nhà chú giải nhấn mạnh rằng chức tư tế của Chúa Giêsu không còn được liên kết với các nghi thức như sách Lêvi (“Điều cần thiết,” nên xuất hiện một tư thế khác theo cách của Menkixêđê, chứ không phải theo kiểu của Aharon” (Dt 7,11), nhưng vì để dâng hiến chính mình: “Người đã trở nên tư thế không phải do Lề luật quy định, nhưng bởi sức mạnh của một đời sống bất diệt” (Dt 7,16).

Một cuộc sống bất diệt theo gương Chúa Kitô là cuộc sống mà mỗi tín hữu khao khát. Ngài là Đấng đã để lại cho chúng ta sự hiện diện và chức vị tư tế đích thực. Đối với mỗi tín hữu, mỗi gia đình Kitô hữu, điều quan trọng là dành sức lực đảm nhận những trách nhiệm cụ thể, ý thức được việc thực thi chức tư tế của Chúa Giêsu. Điều đó có giá trị cho mọi người được mời gọi sống đời hôn nhân, làm chứng cho sự hiệp nhất giữa họ và với Cây Nho mà chính họ hút lấy nhựa sống. Tất cả các Kitô hữu, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ đều được kêu gọi để sống hiệp nhất với hy tế của Chúa Giêsu.

Mọi người vào Nhà thờ với tư cách là giáo dân. Bí tích đầu tiên, vĩnh viễn đóng dấu căn tính của các tín hữu là Bí tích Thánh Tẩy. Nhờ đó là và nhờ xức dầu của Chúa Thánh Thần, (các tín hữu) “được thánh hiến để tạo thành một đền thờ thiêng liêng và một chức tư tế thánh” (LG 10). Sự thánh hiến cơ bản và đầu tiên có nguồn gốc từ Bí tích Thánh Tẩy. Không ai được rửa tội mà đã là linh mục hay giám mục. Tất cả đều là giáo dân khi rửa tội và đây là ấn tích vĩnh viễn không ai có thể tẩy xóa được.

Có những giai đoạn, chẳng hạn như thời kỳ coronavirus, khi người ta không thể đến Nhà thờ và lãnh nhận các bí tích. Thật thích hợp khi nhắc lại sự ngưỡng mộ của người Do Thái đối với đền thờ và Chúa Giêsu đã chỉ ra thân thể Người như đền thờ cho Thần Khí ngự: “Hãy phá hủy đền thờ này đi và trong ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại lại”. Thánh sử giải thích: “Người muốn nói đến đền thờ là thân thể Người” (Ga 2,19-21). Nếu đền thờ cũng có thể bị phá hủy như đã xảy ra sau hai thập kỷ, nếu các hoạt động và nghi lễ có thể bị ngăn cản vì bất kỳ lý do gì, thì thân thể để của Chúa Kitô sẽ tiếp tục là nhà của Thiên Chúa. Nó chỉ có thể bị phá đổ, nhưng sẽ chiến thắng sự hủy diệt. Như Thánh Phêrô viết, từ nay đền thờ đó sẽ được xây dựng bằng những viên đá sống động khác là các Kitô hữu được Thần Khí cư ngụ và làm cho có khả năng dâng hiến chính mình (x. 1 Pr 2,4-10) làm trung gian giữa thế gian và Thiên Chúa. Tất cả trở thành việc phượng tự trong Chúa Kitô, vì thân thể của Người và vì các Kitô hữu, trong những biểu hiện khác nhau của sự sống và ngay cả cái chết, đều được hiệp nhất trong Thánh Thể. Đó là chức tư tế phổ quát mới.

"Tất cả giáo dân, những người con của Giáo Hội, phải được giúp đỡ để trưởng thành, dốc hết tài năng của mình để phục vụ những sứ mạng mới trong xã hội, đối mặt với những thách đố mà thế giới đương thời đặt ra".

Các Kitô hữu, giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ cần có khả năng tiếp nối đời sống của Chúa Giêsu trên thế giới. Các gia đình Kitô hữu, được thiết lập dựa trên giao ước giữa người nam và người nữ, được Chúa Kitô chúc lành, đặc biệt thích hợp để tạo nên mối liên kết đích thực với tất cả mọi người và góp phần vào việc hoà giải thế giới với Thiên Chúa. Nhờ được đan dệt và kết nối lại mạng lưới và các mối tương quan, nhờ việc nảy xinh giao ước với những người thân cận, những người bị gạt ra bên lề đã góp phần biến đổi nhiều cá nhân, đang phân tán hay tranh cãi, thành một dân tộc và xây dựng thành một đền thờ nơi mà Chúa Kitô thích ngự trị. Thế giới đương đại của thời hậu hiện đại thúc đẩy mỗi người giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc chặt chẽ của quá khứ, không dựa vào cơ cấu nhưng luôn hoán cải. Trong lá thư gửi cho Ủy ban châu Mỹ Latin vào tháng 04 năm 2016, gửi cho Đức Hồng Y M.Quellet, Đức Thánh Cha Phanxicô phàn nàn rằng niềm hy vọng được khơi dậy bởi Công đồng, trong nhiều khía cạnh khác nhau, chưa được thực hiện có liên quan đến cách sống của Giáo Hội học: “Bây giờ tôi nhớ đến câu nói nổi tiếng ‘đây là thời đại của người giáo dân’. Nhưng có vẻ như đồng hồ đã dừng lại. Chúng ta đã sản sinh ra một tầng lớp giáo dân ưu tú, tin rằng chỉ những người làm những việc của ‘linh mục’ mới là những giáo dân dấn thân và chúng ta đã quên mất người tín hữu thường đốt cháy niềm hy vọng của mình trong cuộc đấu tranh hằng ngày để sống đức tin”.

Các gia đình thường bị ngăn cản Phúc Âm hóa. Thành quả của các Kitô hữu có thể phát triển trong những động lực cụ thể mà họ thấy mình đang sống và trong đó họ thực hiện khả năng sáng tạo và lòng bác ái của họ: các nhóm giúp đỡ nhau, các cộng đoàn liên đới, các hiệp hội hoạt động trong các lĩnh vực xã hội và Giáo Hội. Ở mọi nơi, họ có thể thúc đẩy mối quan hệ huynh đệ vì một xã hội thân thiện với gia đình. Một cặp vợ chồng hiệp nhất làm chứng cách cụ thể rằng liên đới, phẩm giá, hiệp nhất tạo nên “nền văn minh tình thương” điều mà Đức Phaolô VI rất ước mong. Việc này đòi hỏi khả năng trao ban chính mình mà không xâm phạm, hiện diện và mất hút, điều này đúng cho các gia đình cũng như cho hàng giáo phẩm.

"Các cộng đoàn giáo dục, những người sống giữa mọi người, đang khuyến khích và cổ võ cho lòng bác ái và tình huynh đệ, ước muốn sự thật, công bằng và thiện ích".

Đức Thánh Cha Phanxicô nêu rõ: “Thật tốt khi nhớ rằng Giáo Hội không phải là tầng lớp tinh hoa gồm các linh mục, những người thánh hiến, các giám mục, nhưng chúng ta đã tạo nên những con người trung thành thánh thiện của Thiên Chúa và quên rằng điều này bao hàm những rủi ro và méo mó trong chính kinh nghiệm của chúng ta, của các cá nhân và cộng đoàn, của thừa tác vụ mà Giáo Hội đã trao phó cho chúng ta”.

Lời kêu gọi khiêm tốn này thừa nhận rằng không có những công thức làm sẵn để giải quyết vấn đề và áp đặt trên những thái độ sống: “Người mục tử không cần phải nói với giáo dân phải làm gì vì họ biết rất nhiều và biết tốt hơn chúng ta. Người mục tử không phải thiết định sẵn những gì người giáo dân phải nói gì trong các lĩnh vực khác nhau”.

Cần phải thừa nhận rằng người giáo dân cần đến những hình thức tổ chức và cử hàng đức tin mới vì thực tại, vì căn tính của họ, chính khi hòa vào trung tâm đời sống xã hội công cộng, họ tham gia vào các hình thức văn hóa hóa liên tục phát sinh. Cần phải hình dung những không gian cầu nguyện và hiệp thông với những đặc tính sáng tạo, hấp dẫn hơn và có ý nghĩa hơn đối với người giáo dân. Không thể nghĩ rằng các mục tử độc quyền về các giải pháp trước những thách thức hoặc cuộc sống đương đại đặt ra.

Chỉ với sự tự do này, người ta mới có thể sáng tạo trong việc đương đầu với những thách đố của lịch sử và của Giáo Hội, ngược lại, nếu quyền tự do này không được ban cho, thì trên thực tế, nhiều người sẽ cướp lấy nó. Chúng ta cần thêm tin tưởng vào Thánh Thần: “Chúng ta tin tưởng nơi dân tộc của chúng ta, tin vào trí nhớ và ‘khứu giác’ của họ, chúng ta tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần hành động trong và cùng với họ, đó không chỉ là ‘tài sản’ của phẩm trật trong Giáo Hội”.

Thật ý nghĩa khi Đức Thánh Cha Phanxicô đã đối chiếu giữa các linh mục với những người bà và những người mẹ trong gia đình, những người vui thích nhìn thấy con cháu mình lớn lên: “Như những người đi trước, vai trò và niềm vui của người mục tử, như những người mẹ, người bà, người cha, hệ tại ở việc giúp đỡ và khích lệ những nhân vật chính của lịch sử. Không phải vì thiện ích của chúng ta, nhưng vì quyền lợi và tình trạng pháp lý. Giáo dân là thành phần của Dân Thánh trung thành với Thiên Chúa và do đó họ là những tác nhân và là người đối thoại với Giáo Hội và thế giới.

trích trong TRONG TRÁI TIM của THỜI ĐƯƠNG ĐẠI số 04 - DMA chuyển ngữ
Nguồn: Trang Tin Legio Mariae Việt Nam