Clock-Time

Suy niệm tĩnh tâm Linh mục Giáo phận tháng 02 năm 2016

Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ vắng mặt: Người luôn luôn tìm đến chúng ta
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA ĐƯỢC BIỂU TỎ TRONG PHỤNG VỤ
 
Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông sắc Misericordiae vultus đã viết: “Chúa Giêsu Kitô là dung nhan lòng thương xót của Thiên Chúa Cha. Mầu nhiệm đức tin Kitô giáo xem ra được trình bày một cách chính xác trong câu nói ấy. Trong Chúa Giêsu thành Nazareth, lòng thương xót của Thiên Chúa Cha trở nên sống động và rõ ràng, và đã tìm thấy tột đỉnh điểm của nó”[1]. Khuôn mặt của lòng thương xót đó luôn tiếp tục tỏ bày cách sống động trong đời sống Giáo Hội, đặc biệt qua Phung vụ. Thánh Công Đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Chúa Kitô luôn hiện diện trong Giáo Hội, nhất là trong các hoạt động Phụng vụ. Người hiện diện trong Hy tế Thánh lễ, vừa ở nơi con người của thừa tác viên, khi ‘chính Đấng xưa đã tự hiến mình trên Thập giá, nay cũng đang dâng hiến nhờ tác vụ của các linh mục’, vừa hiện diện cách vô cùng nhiệm lạ dưới hình bánh, hình rượu trong bí tích Thánh Thể. Người hiện diện trong các bí tích nhờ quyền năng của Người, đến nỗi, khi có ai cử hành bí tích Rửa Tội thì chính là Chúa Kitô đang rửa tội. Người hiện diện trong lời của Người, vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo Hội. Sau hết, Người hiện diện khi Giáo Hội khẩn cầu và hát thánh vịnh, như chính Người đã hứa: ‘Nơi đâu có hai hoặc ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ’ (Mt 18,20)”[2].

Quả thật, qua Phụng vụ lòng thương xót của Thiên Chúa luôn được tỏ bày cho nhân loại, bởi chính nơi Phụng vụ như là không gian của cuộc gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô, nhờ cuộc gặp gỡ này con người nhận được ơn cứu độ do bởi lòng thương xót Chúa trao ban, nói như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI: Qua Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa ngàn trùng cách xa giờ đây xuất hiện gần kề bên ta. Ngài là sự hiện diện đích thật của Đấng vĩnh cửu nơi trần gian này[3]. Sự hiện diện này không nhằm thể hiện quyền uy của Đấng toàn năng vượt trên hết mọi loài, nhưng là một sự hiện diện để tỏ bày một tình yêu không thể cân đo đong đếm qua việc Ngài tự hiến trọn vẹn cho nhân loại, nhờ đó ta thấy được ý nghĩa của cuộc sống. Vâng, chính nhờ cái chết tự hiến của Đức Kitô trên Thập Giá mà cuộc đời tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn, vì không có gì ý nghĩa hơn  cho cuộc đời khi biết mình được Thiên Chúa yêu thương bằng một tình yêu vĩnh hằng và không bị vẩn đục bởi mọi toan tính ích kỷ. Chính từ sự tự hiến của Đức Kitô trên thập giá mà chúng ta đọc được lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho nhân loại, bởi nhờ sự tự hiến đó, Ngài đã nâng con người lên khỏi kiếp nô lệ của sự chết và cứu độ họ.

Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ vắng mặt: “Người luôn luôn tìm đến chúng ta - qua những con người mà Người soi sáng; qua Lời của Người, trong các bí tích, đặc biệt
là bí tích Thánh Thể. Trong Phụng vụ của Hội Thánh, trong lời cầu nguyện, trong cộng đoàn sống động của các tín hữu, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa, cảm nhận sự hiện diện của Người và học cho biết nhận ra Người trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Người đã yêu chúng ta trước và tiếp tục yêu chúng ta trước”[4]. Tình yêu đó không chỉ dừng lại nơi khuôn mặt của Đức Kitô, nhưng còn được đồng hóa với những người khốn cùng: những người đói, những người khát, người xa lạ, người trần truồng, người bệnh và cả những người đang ở trong ngục tù: "Mỗi lẫn các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).

1. Sự hiện diện của lòng Chúa xót thương trong việc cử hành Phụng vụ.

 Phụng vụ Kitô giáo không chỉ là con đường dẫn tới việc tôn thờ Thiên Chúa, nhưng còn là nơi để gặp gỡ Đức Kitô, khuôn mặt của lòng thương xót, bởi chính “nơi” để cử hành Phụng vụ đích thật không là đền thờ được xây cất bằng đá, mà chính là con người Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể (Logos incarnatus), chính Logos đã đi vào trần thế, mặc lấy một thân xác và trở nên giống mọi thân xác. Người đã mang lấy trong thân xác mình mọi đau khổ và hy vọng của nhân loại, tất cả tiếng rên xiết của thụ tạo và dâng tất cả về cho Thiên Chúa[5]. Chúa Kitô đã thực hiện điều đó trong chính thân xác được hiến tế trên thập giá và sự phục sinh của Người. Thật vậy, sự phục sinh của Chúa đã biến thân xác trần thế của Người trở thành thân thể sống động, chính thân thể này đã bước vào trong ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa và trở thành nơi tôn thờ Thiên Chúa đích thực[6]. Điều mà Người đã tiên báo: “các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Ngay chính tại nơi Đền thờ này, việc tôn thờ Thiên Chúa được cử hành, và ngôn từ được cất lên không là ngôn từ nào ngoài ngôn từ Phụng vụ của Giáo Hội được dệt lên từ Lời Thiên Chúa (Dei Verbum), Lời đã mặc lấy xác phàm. Chính từ ngôn từ này, Phụng vụ Giáo Hội đã tỏ bày lòng thương xót của Thiên Chúa trở nên hữu hình trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô. Thật vậy, ngôn từ Phụng vụ không gì hơn là tuyên xưng Đức Kitô là Con Thiên Chúa, “Đấng mà trong sự phục sinh của mình, đã có kinh nghiệm triệt để về lòng thương xót, tức là về tình thương của Chúa Cha mạnh hơn sự chết. Và cũng chính Đức Kitô ấy, Con Thiên Chúa, lúc ở cuối hạn kỳ và theo một ý nghĩa nào đó vượt trên hạn kỳ sứ mệnh cứu thế của mình, lại tự mặc khải mình là nguồn mạch khôn cạn của lòng thương xót, của tình thương, tình thương mà trong viễn cảnh lịch sử cứu chuộc trong Giáo Hội sau này phải không ngừng tỏ ra mạnh hơn tội lỗi. Đức Kitô Phục sinh là hiện thân trọn vẹn dấu chỉ sống động của lòng thương xót: dấu chỉ của ơn Cứu chuộc vừa mang tính lịch sử vừa mang tính cánh chung. Trong tinh thần này, Phụng vụ mùa Phục sinh mới đặt lên môi chúng ta những lời Thánh vịnh: Misericordias Domini in ternum cantabo, ‘Tình thương Chúa đời đời con ca tụng’”[7].

Vì thế, việc Giáo Hội cử hành Phụng vụ, nhất là cử hành Thánh lễ là để hiện tại và hiện diện hóa lòng thương xót Chúa liên tục qua mọi thời đại cho tới khi Chúa đến (x. SC 47). Việc hiện diện của Chúa Kitô cách bí tích không phải là sự hiện diện mang đặc tính tượng trưng, nhưng là hiện diện thật, vì chỉ có sự hiện diện như thế lòng thương xót của Thiên Chúa mới thể hiện cách trọn hảo và phù hợp với bản tính của Thiên Chúa, Đấng hiện hữu cách tuyệt đối và trọn hảo. Dĩ nhiên sự hiện hữu đích thật của Chúa không được hiểu là sự hiện diện thể lý trong không gian với ba chiều kích cao, rộng, dài. Giả như Chúa Giêsu hiện diện qua việc cử hành Phụng vụ với  “thể xác” trước phục sinh, thì sự hiện diện này mang nhiều khiếm khuyết, nó không thể nào trình bày một sự hiện diện hoàn hảo và như thế lòng thương xót của Chúa cũng bị giới hạn trong một thân xác hữu hạn. Nếu sự hiện diện chỉ được nhìn đến qua sự hiện hữu của một xác thể, thì quả thật chúng ta không thể nào gặp gỡ được lòng thương xót của Thiên Chúa, vì thân xác là ranh giới phân chia chúng ta với người khác, và nó làm cho chúng ta trở nên xa lạ với người khác; không chỉ có thế, thân xác còn là vật cản để chúng ta không thể nhìn thấy chính mình và cũng như không thể đụng chạm tới “cái tôi” của người khác, và vì thế chúng ta mãi xa lạ với nhau[8]. Sự hiện diện của Chúa trong Phụng vụ là sự hiện diện của một thân xác đã vượt qua giới hạn của cái chết để tiến tới phục sinh. Chính thân xác phục sinh không còn bị giới hạn bởi ranh giới của cái tôi tạo ra ngăn cách, khép kín với người khác, nhưng nó trở thành cái cầu dẫn tới sự hiệp thông. Với thân xác phục sinh Chúa đã hiện diện trong một hữu thể tự mở ra, tự trao ban, vượt qua mọi giới hạn để kiến tạo sự gặp gỡ thâm sâu[9] và qua đó chúng ta có thể chạm tới được lòng thương xót của Chúa.

Công đồng Vaticanô II đã minh định: “Chính nhờ Phụng vụ, nhất là trong Hy tế Tạ ơn, mà công cuộc cứu chuộc chúng ta được thực hiện” (SC số 2), cho nên, việc cử hành Phụng vụ là hiện diện hóa công trình cứu chuộc của Đức Kitô, một công trình thể hiện lòng thương xót của Thiên Chúa cách cụ thể, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Thập giá được dựng trên núi Sọ và là chỗ Đức Kitô đối thoại cuối cùng với Chúa Cha, thập giá ấy xuất hiện từ chính trung tâm của tình thương mà Thiên Chúa theo ý định đời đời đã dành cho con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Ngài. Thiên Chúa, như Đức Kitô đã mặc khải, không phải chỉ có tương quan chặt chẽ với thế gian trong tư cách là Đấng Tạo hóa và là nguồn mạch tối thượng của hiện hữu, Ngài cũng là Cha: Ngài kết hợp với con người mà Ngài đã gọi vào hiện hữu trong vũ trụ hữu hình, bằng một liên hệ còn sâu xa hơn liên hệ tạo thành. Chính tình thương không những tạo thành cái tốt, mà còn cho tham dự vào cả cái tốt, tham dự vào cả sự sống của Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần. Thật vậy, kẻ đã yêu thương thì muốn tự hiến chính mình”[10].

2. Lòng thương xót của Thiên Chúa hiện diện qua thừa tác viên cử hành Phụng vụ.
Thừa tác viên thông thường của việc cử hành Phụng vụ, nhất là Phụng vụ các bí tích chính là linh mục thừa tác. Người linh mục được chọn vì việc cử hành Phụng vụ này. Đức Bênêđictô XVI trong Thông điệp Sacramentum caritatis đã khẳng định: “Giáo Hội dạy rằng, việc thụ phong linh mục là yếu tố thiết yếu cho việc cử hành bí tích Thánh Thể thành sự”[11] và “chỉ linh mục, chứ không phải người nào khác, theo truyền thống Giáo Hội xác định, chủ sự toàn bộ việc cử hành Thánh Thể, từ lời chào mở đầu cho đến phép lành kết thúc”[12]. Như vậy, chức Linh mục thừa tác và Thánh Thể có mối tương quan chặt chẽ quyện lẫn vào nhau, đến nỗi không thể tách rời khỏi nhau được. Do đó, khi cử hành Thánh Thể, người linh mục như hiện tại hóa Hy lễ Thập giá, hiện tại hóa việc trao hiến hoàn toàn của Chúa Kitô cho nhân loại, qua việc Người trao nộp chính mình và đã đổ máu mình ra vì yêu thương con người.

Do đó, việc cử hành Phụng vụ không còn là nghĩa vụ phải chu toàn, nhưng đó thuộc về bản chất của đời sống người linh mục. Cử hành Phụng vụ không là những hành vi lập lại một biến cố, hay là một thực hành theo thói quen, nhưng đó chính là một hành vi làm cho lòng thương xót của Thiên Chúa qua Đức Kitô được biểu tỏ và hiện diện cách sống động, cụ thể. Thật vậy, được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, khi cử hành Phụng vụ, được hành động nhân danh Chúa Kitô là Đầu (in personna Christi capitis), người linh mục phải trở thành dấu chỉ của lòng thương xót Chúa.

Như là tác nhân sống động cho buổi cử hành Phụng vụ, người linh mục phải làm sao để người tham dự chạm tới được lòng thương xót của Chúa, vì vậy nghi lễ mà linh mục cử hành phải được thực hiện cách sốt sắng cả bề trong lẫn bề ngoài, đồng thời tránh đi sự vội vàng và cẩu thả. Việc chủ tọa nghi lễ Phụng vụ và việc làm cho nghi lễ đó sống động đòi hỏi phải có một đời sống nội tâm dồi dào, phải có trái tim của người mẹ, một tấm lòng bao dung của người mục tử, và phải dọn mình cẩn thận mỗi khi cử hành.
Người linh mục khi trao ban Mình và Máu Chúa Kitô, không là trao ban thân mình Chúa Kitô lịch sử, nhưng là trao ban Chúa Kitô nhập thể, chết và sống lại, hay nói cách khác một dung mạo của lòng thương xót Chúa, tức là trao ban một hiện thực tình yêu của Thiên Chúa, một hiện thực của lòng thương xót. Cho nên, như là tác viên của lòng thương xót, người linh mục phải trở thành hiện thực điều mà linh mục trao ban, nhờ đó sự sống được tiếp tục tuôn tràn, niềm vui được phục hồi. Thật vậy, khi dâng Hy tế Thánh Thể, người Linh mục không đơn thuần là dâng Hy tế Thập giá của Chúa Giêsu, nhưng còn là hiến dâng chính thân mình, bởi con người hiện thân của Chúa Giêsu không thể tách rời khỏi Người. Đức Hồng Y Fulton Sheen đã có lý khi đưa ra nhận định: “Khi truyền phép chúng ta treo Chúa lên Thập giá, lẽ nào chúng ta chỉ dự như là khán giả trước một thảm kịch, mà lý ra chúng ta
được chỉ định đóng vai chính ?”[13]. Do đó, lời biến thể hóa bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Giêsu cũng là lời biến thể hóa cuộc đời linh mục trở thành dấu chỉ của việc trao ban sự sống Thánh Thể. Là dấu chỉ, người linh mục không làm nhiệm vụ chuyển trao cách thụ động, nhưng trong sự chuyển trao này có máu thịt của người linh mục, máu thịt được đúc kết bởi một tình yêu hiến dâng cho Giáo Hội - hôn thê của Chúa. Bởi, khi dâng Hy tế Thánh Thể, người linh mục không cử hành nhân danh chính mình, nhưng nhân danh Chúa Kitô mà người linh mục là hiện thân. Và như thế, cũng là nhân danh lòng thương xót của Chúa để linh mục tiếp tục thể hiện.

Như là thừa tác viên của lòng thương xót, người linh mục không bao giờ chán nản, bỏ cuộc trong việc thi thành nhiệm vụ phục vụ loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa, nhất là qua việc cử hành Phụng vụ, để qua Phụng vụ người ta gặp được một vị Thiên Chúa nhân lành và hay thương xót. Sự hiến thân phục vụ cho lòng thương xót luôn mời gọi người linh mục khám phá liên tục, không ngơi nghỉ những phương thế hữu hiệu mang lại an bình cho con người. Lời yêu thương cứu độ được tỏ bày phù hợp với tâm thức của thời đại luôn là đối tượng của việc khám phá này. Đây không là chuyện đơn giản, nhưng là công việc đòi nhiều hy sinh, nhiều khi đổ cả máu đào. Thế giới chỉ có thể nghe tiếng gọi yêu thương nếu người linh mục dấn thân phục vụ nhằm “nắn đúc những quan hệ giữa người với người, trong một tinh thần rất trân trọng những gì thuộc về con người và tình anh em đối với nhau”[14].

Lòng thương xót của Thiên Chúa được hiện diện hóa trong Phụng vụ, cần được tuôn trào ra trong cuộc sống. Như Đức Kitô, Đấng đã mạnh dạn đồng bàn với bọn thu thuế và tội lỗi, Người sẵn sàng giơ tay đụng đến người phong cùi để chữa lành, Người lên tiếng bênh vực kẻ bị áp bức, như người phụ nữ ngoại tình, Người thẳng thắn phê bình kẻ giả hình, Người tiếp xúc với “dân ngoại” mà không chút dè dặt, thì người linh mục cũng phải nỗ lực làm cho thế giới loài người ngày càng mang tính người hơn “khi chúng ta đưa vào trong mọi quan hệ hỗ tương giữa người với người sự tha thứ theo Tin Mừng; sự tha thứ cho thấy rằng trong thế giới tình thương mạnh hơn tội lỗi. Hơn nữa, tha thứ là điều kiện trước tiên của sự hòa giải, chẳng những trong các tương quan giữa Thiên Chúa với con người, mà còn trong những tương giao giữa người với người. Một thế giới nếu trong đó người ta loại trừ sự tha thứ, thì sẽ chỉ là một thế giới công bằng lạnh lùng và bất kính, để mỗi người nhân danh nó mà đòi hỏi những tư lợi đối với kẻ khác; như thế, mọi ích kỷ tiềm tàng trong con người sẽ có thể biến đổi đời sống và xã hội ấy thành một hệ thống: cá lớn nuốt cá bé, hoặc thành một đấu trường cho người ta thường xuyên xung đột lẫn nhau”[15].

Kết

Khi cử hành Phụng vụ, thừa tác viên không chỉ dừng lại ở việc trình bày lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người, nhưng còn phải làm cho việc cử hành đạt tới cùng đích của Phụng vụ, bởi “Phụng vụ là chóp đỉnh mà mọi hoạt động của Hội Thánh vươn tới, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào tất cả sức mạnh của Hội Thánh” (GLHTCG, số 1074), vì
thế, như là thừa tác viên của lòng thương xót, người linh mục phải làm cho lòng thương xót của Thiên Chúa được hiện thực trong chính đời sống của mình. Linh mục không chỉ là người trình bày lòng thương xót Chúa, nhưng còn phải là dấu chỉ của lòng thương xót đó, linh mục phải trở thành biến cố của việc hiện tại hóa lòng thương xót Chúa. Người linh mục không chỉ trình bày lòng thương xót qua việc cử hành Phụng vụ, nhưng “còn được kêu gọi ‘có hành động thương xót’ đối với kẻ khác: Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Trong những lời này, người linh mục nhận ra một lời mời gọi phải hành động và phải cố gắng thực hành lòng thương xót[16]; đặc biệt qua Thánh Lễ, người linh mục cử hành về lòng thương xót của Thiên Chúa được tỏ bày trong lịch sử cứu độ mà Giáo Hội phải hàm ơn, về niềm hy vọng mà Giáo Hội hướng tới, về việc Chúa đến, nhờ đó Giáo Hội được biến đổi; đồng thời trong việc cử hành này người linh mục trình bày những gì mình là hay những gì mình phải là: chứng tá cho lòng thương xót của Thiên Chúa mà Đức Kitô loan báo, nỗ lực sống chứng tá này trong sứ mệnh phục vụ tha nhân qua hai hình thức: chứng tá bằng lời rao giảng và bằng hành động.

Việc cử hành Phụng vụ không gì hơn là hiện tại hóa một tình yêu lớn lao vô vị lợi mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Cử hành một tình yêu ngập tràn lòng thương xót, nơi tình yêu không chỉ là hy sinh nhưng trước nhất phải là sáng tạo bắt nguồn từ lòng thương xót. Vì là lòng thương xót nên tình yêu luôn có những sáng kiến diệu kỳ. Vì yêu, Thiên Chúa tạo dựng con người; vì yêu, Thiên Chúa cho Người Con duy nhất xuống thế cứu chuộc; vì yêu, Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể để ở lại với con người. Lòng thương xót là thế đấy, luôn làm nẩy sinh những điều mới lạ để biểu tỏ tình yêu, và những sáng kiến của tình yêu luôn biểu lộ tính độc đáo của lòng thương xót, nguồn mạch tuôn trào sự sống và niềm vui. Chính trong lòng thương xót nơi tình yêu mà có sự hy sinh. Thường thì người ta hay nhắc đến hai chữ hy sinh khi nói đến tình yêu, nhưng như vậy chưa đủ, bởi có những hy sinh nhưng thiếu vắng yêu thương. Có những người hy sinh thời giờ, tiền bạc, sức lực cho người khác, nhưng tim họ lạnh căm, không có chút hơi ấm của nhịp đập yêu thương. Hy sinh chỉ thực sự mang trọn ý nghĩa khi nó được thực hiện bởi sáng kiến phát xuất từ tình yêu. Sáng kiến tình yêu thúc đẩy chúng ta hành động ngoài những tính toán theo logic của nhân loại. Người môn đệ Đức Kitô luôn được thúc đẩy yêu thương, cũng có nghĩa là luôn được thúc đẩy nẩy sinh những sáng kiến để thực thi yêu thương trong các lãnh vực của cuộc sống nhân trần này. Những sáng kiến nhiều khi dám liều, dám hóa điên hóa dại với mục đích làm cho con người khám phá ra niềm vui của Tin Mừng, nhận ra Đức Kitô để kiến tạo một cộng đoàn sống trong tình huynh đệ đích thực, không kỳ thị phân chia, không phân cách bởi những vị thế trong xã hội, bởi tình trạng sang hèn, giàu nghèo.[17] Sáng kiến yêu thương này còn có thể “khôi phục cuộc hành trình gặp gỡ con người tại nơi họ đang sống: trong những thành phố và các gia đình, tại nơi họ làm việc”. Bởi “bất cứ nơi đâu có con người, Giáo Hội đều được kêu gọi hãy đến với họ và mang cho họ niềm vui Tin Mừng, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa”[18].
 
XÉT MÌNH.

1- Qua Thánh lễ, lòng thương xót của Chúa được hiện tại hóa để nhờ đó con người được tha thứ và được cứu rỗi. Như là thừa tác viên của lòng thương xót Chúa, khi cử hành Thánh lễ, chúng ta có làm cho nghi lễ đó sống động từ đời sống nội tâm dồi dào của chúng ta và được chúng ta dọn mình cẩn thận mỗi khi cử hành để người tín hữu nhận ra lòng thương xót của Chúa nơi chính Thánh lễ chúng ta cử hành?

2- Đức Kitô đã mặc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa Cha qua lời của Người. Chúng ta, những linh mục cử hành lời Chúa, chúng ta có dành những giây phút thinh lặng để suy ngắm Lời, từ đó chúng ta chiêm ngắm được lòng thương xót của Thiên Chúa và biến lòng thương xót thành phong cách sống của chúng ta?

3- Lòng thương xót của Thiên Chúa không dừng lại trong việc cử hành Phụng vụ, nhưng cần được hiện thực trong bối cảnh của cuộc sống, chúng ta, những thừa tác viên của lòng thương xót Chúa, chúng ta có mang lấy trái tim với nhịp đập của Tin Mừng, để loan báo lòng thương xót Chúa, và để làm cho lòng thương xót này thấu đạt đến với mọi trái tim và lòng trí của tất cả mọi người?

4- Thánh Thể là tột đỉnh của việc Chúa mặc khải và lòng thương xót, chúng ta có để cho hành động yêu thương này của Thiên Chúa được tiếp tục biểu tỏ trong đời linh mục của chúng ta qua sự dấn thân phục vụ cho đàn chiên cách quảng đại, chấp nhận tiêu hao chính mình?
 

HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU

Vào ngày 25-12-2015, đoàn xe của tổng thống Erdogan, Thổ Nhĩ Kỳ, đi ngang qua cây cầu Bosphorus, Istanbul đúng lúc đó thì có một người đàn ông đứng bên ngoài lan can phía ngoài cây cầu và mặt quay ra vịnh. Các vệ sĩ hộ tống ông Erdogan đã xuống xe, tiếp cận hiện trường và tiến gần người đàn ông trên và nói rằng tổng thống đang đợi ở trong xe phía đằng kia và anh nên đến gặp ông ấy. Trong khi người đàn ông vẫn di chuyển dọc lan can bên ngoài thành cầu, vẻ mặt rất bối rối, thì các vệ sĩ tiếp tục thuyết phục ông ta rằng: “Đúng, đúng là ngài tổng thống đang đợi anh ở phía đằng kia!”.

Cuối cùng, người đàn ông trên đã trèo vào bên trong cầu và nhóm vệ sĩ đưa thẳng anh ta tiến về phía chiếc Mercedes màu đen của ông Erdogan, chỗ các vệ sĩ đang vây quanh. Lúc mở cửa xe ra, ông Erdogan ngồi trên xe và đang nói chuyện điện thoại. Anh này nảy sinh ý định tự tử sau khi gặp bế tắc trong chuyện gia đình. Ông Erdogan đã thuyết phục người đàn ông này nên bỏ ý định tự tử và hứa sẽ giúp đỡ anh ta, theo thông báo của Văn phòng tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó ít phút, người đàn ông trên còn hôn lên tay ông Erdogan để từ biệt. Một chút hy sinh dừng xe, mặc dầu công việc bề bộn, một lời động viên cảm thông xẻ chia, ông Erdogan đã cứu một mạng người đang đi tìm cái chết vì thất vọng.

Phụng vụ Giáo Hội chính là niềm hy vọng cho con người đang đối diện với một cuộc sống đầy bất an do hận thù chủng tộc, tôn giáo, mưu đồ chính trị, v.v. Bởi chính nơi Phụng vụ lòng thương xót của Chúa được tỏ bày cách cụ thể sống động. Thế nhưng, cho dẫu Phụng vụ thánh vẫn
được cử hành thường xuyên trong đời sống Giáo Hội, nhưng sao vẫn còn đó bao nhiêu thất vọng, sợ hãi làm chùn chân người tín hữu? Tệ hại hơn nhiều người tín hữu còn tỏ ra nhàm chán và bỏ việc cử hành Phụng vụ.

Có thể, người linh mục, như là thừa tác viên của lòng thương xót, mới chỉ dừng lại nơi việc cử hành mà thiếu một dấu chỉ sống động của lòng thương xót, dấu chỉ đó chính là sự lắng nghe và  lòng vị tha, Đức Phanxicô trong bài huấn từ ngày 17/3/2013 đã kể:
 “Tôi nhớ, vào năm 1992, khi còn là Giám mục, tôi đi dâng lễ tại một nhà thờ cho các bệnh nhân. Trong Thánh lễ này tôi cũng giải tội cho một số người. Cuối Thánh lễ, tôi đứng dậy vì tôi phải ban bí tích thêm sức. Lúc đó, có một người phụ nữ lớn tuổi tới gần tôi, bà rất khiêm nhường. Tôi nhìn người phụ này và nói với bà:

 “Thưa bà, bà có muốn xưng tội không?”
Bà đáp: “Thưa có”.

 “Nhưng nếu bà không có tội…”.

Và bà trả lời tôi rằng: “Tất cả chúng ta đều có tội”.

“Nhưng có lẽ Thiên Chúa sẽ không tha thứ cho chúng ta”, tôi nói.

 Bà đáp lại: “Chắc chắn Thiên Chúa tha thứ tất cả”.

“Nhưng làm sao bà biết, thưa bà?”, tôi hỏi lại.

 “Vì nếu Thiên Chúa không tha thứ cho chúng ta, thế giới này sẽ không tồn tại”.

Nghe những lời đó, tôi định hỏi bà rằng: “Bà ơi, nói cho tôi biết, phải chăng bà học ở trường đại học Gregoriana”. Bởi vì, đây chính là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Một sự khôn ngoan nội tâm về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta đừng bao giờ quên lời này: Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta, không bào giờ! Và vấn đề của chúng ta là gì? Thưa, vấn đề là chúng ta chán nản, chúng ta không muốn, chúng ta không mong muốn sự tha thứ. Ngài không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ! Thiên Chúa là người cha yêu thương luôn tha thứ. Ngài có một trái tim đầy lòng thương xót dành cho tất cả chúng ta. Và chúng ta cũng cần học và thương xót người khác.”
Đó chính là cách sống để được sống.
 
Lm Antôn Hà văn Minh
Chánh xứ Giáo xứ Lái Thiêu

[1]Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông sắc Misericordiae vultus, 11.4.2015, số 1.
[2] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium (SC), số 7.
[3] X. Joseph Ratzinger, Ein fuerhrung in das Chirstentum, Koesel 2005, tr. 71.
[4] Đức Bênêđictô, Thông điệp Deus caritas est, 25.12.2005, số 17.
[5] X. Joseph Ratzinger, The Spirit of the Liturgy, NXB Ignatius, San Francisco 2000, tr. 47
[6] X. Joseph Ratzinger, The Spirit of the Liturgy, NXB Ignatius, San Francisco 2000, tr. 43.
[7] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in misericordia, 30.11.1980, số 8.
[8] X. Joseph Ratzinger, Gott ist uns nah, NXB Sankt Ulrich, Augsburg 2001, tr. 80.
[9] X. Joseph Ratzinger, Gott ist uns nah, NXB Sankt Ulrich, Augsburg 2001, tr. 82.
[10]  Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in Misericordia, số 7.
[11] Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis, số 23.
[12] Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis, số 53.
[13] Fulton Sheen, Life of Christ, NXB Hardcover 1958, Kim Thông dịch với tựa đề: “Linh mục Thời đại mới”, tr. 21.
[14] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in misericordia, 30.11.1980, số 14.
[15] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in misericordia, 30.11.1980, số 14.
[16] X. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in misericordia, 30.11.1980, số 14.
[17] Hà văn Minh, Linh mục – Hồng ân cho Nhân loại, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2010, tr.112.
[18] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Bài giảng khai mạc Năm Thánh Lòng Thương xót, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Rôma, 8.12.2015.