Clock-Time

CỘI NGUỒN KINH THÁNH - #Chương 01 - Nước Trời ẩn giấu

Chúng ta biết gì về những nguồn cội nhân loại của Giêsu, về nơi chốn Người đã lớn lên, về những trào lưu đã để lại trên Người. Các Phúc Âm rất kín đáo về vấn đề này. Nhưng, Giêsu cũng không phải bỗng chốc một ngày đẹp trời rơi thẳng từ trời xuống. Khi Người bắt đầu rao giảng ở Galilê, khoảng 30 tuổi, thì những thính giả biết được Người xuất phát từ nơi đâu.
SÁCH NÓI CÔNG GIÁO

Tác phẩm: Nước Trời Ẩn Giấu


Tác giả: Eloi Leclerc -Ofm
Chuyển ngữ: Nt.Trần Thị Quỳnh Giao-Fmm

 

#Chương 01 - CỘI NGUỒN KINH THÁNH




 

Thực hiện: Trang Sách nói Công giáo của Truyền Thông Giáo Phận Phú Cường
 
Đứng trước Giêsu thành Nagiaret, một con người đã khuấy động thế giới qua cuộc sống và lời huấn giáo của mình, chúng ta không thể không đặt vấn đề về nguồn gốc nhân sinh của Người. Chúng ta biết về tầm quan trọng của thời niên thiếu, về gia đình và nền giáo dục của một con người. Trở về với những rì rào đầu tiên của cảm giác, với sự thức tỉnh đầu tiên của lương tri và trí tuệ, với những kinh nghiệm đầu đời, thì đó là một chút nguồn cội bí ẩn của một cuộc sống mà chúng ta đang mong khám phá.

Chúng ta biết gì về những nguồn cội nhân loại của Giêsu, về nơi chốn Người đã lớn lên, về những trào lưu đã để lại trên Người. Các Phúc Âm rất kín đáo về vấn đề này. Nhưng, Giêsu cũng không phải bỗng chốc một ngày đẹp trời rơi thẳng từ trời xuống. Khi Người bắt đầu rao giảng ở Galilê, khoảng 30 tuổi, thì những thính giả biết được Người xuất phát từ nơi đâu. Điều làm cho họ khó biết không phải là nguồn cội nhân sinh của vị tiên tri trẻ tuổi này vì họ biết quá rõ, nhưng điều họ không hiểu nổi là sự khôn ngoan kì lạ mà Giêsu có được khi dạy dỗ với quyền năng và hành vi lạ lùng của mình. Sự khôn ngoan và quyền năng này thật không có một chút nào liên quan đến những gì họ biết. Không có tương quan nào, có nghĩa là không thể giải thích được. Người ta vẫn tự hỏi: “Sự khôn ngoan và những phép mầu này từ đâu đến với ông?” (Mt 13,54). “Phải chăng đây là con của ông thợ mộc và bà Maria” (Mc 62). “Đây phải chăng là con của ông Giuse?” (Lc 4,22). “Phải chăng chúng ta biết được cha và mẹ của Người?” (Gioan 6,42). 

Đúng vậy, Giêsu đã trải qua 30 năm trong một thị trấn nông thôn khiêm tốn, nằm ở đồi Nam Galilê, cách 105 cây số về phía Giêrusalem theo tầm chim bay. Ngày nay, thành phố Nagiaret không đưa ra hình ảnh của một thôn xóm của Giêsu. Chỉ một vài con đường nhỏ hẹp có thể làm chúng ta tưởng tượng ra những lối đi cũ kĩ. Lúc bấy giờ, Nagiaret là một ngôi làng có dân số khoảng 1500 đến 2000. Nó không có một chút danh hiệu gì là quan trọng. Thánh Kinh cũng như nhà sử gia Flavius Josèphe, là người biết rõ Galilê, đã không hề nói đến. Hơn nữa, người ta đã chẳng nói đến vùng này một cách khinh khi đó sao?: “Từ Nagiaret có gì là tốt đẹp?” (Gioan 1,46). Dân cư là những người đơn sơ, chất phác: nông dân, mục đồng, thợ thủ công. Họ sống chủ yếu ở nông thôn. Cánh đồng kế đó thì xinh đẹp và màu mỡ. Người ta trồng lúa, nho và những cây ăn trái. Nơi đó, người ta cũng không khai quật được những gì để có thể chứng minh sự giàu có. Các ngôi nhà nhỏ hình vuông kề cận nhau trong những tảng đá của đồi núi, có những hang do người ta đào mà thành. Các con đường hẹp đầy sỏi đá. Chiều chiều, khi thời tiết dễ chịu, dân làng tập trung quanh công trường. Phụ nữ đến đó để lấy nước, đàn cừu chờ đợi được uống, trẻ con chơi đùa hay gây gổ với nhau; còn đàn ông, khi chiều đến, ngồi tán dóc hay quan sát mặt trời lặn, họ nói: “Trời ửng hồng có nghĩa là ngày mai đẹp trời hoặc trời hôm nay có mây như vậy ngày mai sẽ mưa” (Mt16,2); (Lc12,54).

Chính khi ở giữa quần chúng lao động và đơn sơ này mà Giêsu đã lớn lên. Thời thơ ấu và thiếu niên của Giêsu tại Nagiaret, cũng như 10 năm đầu cuộc sống thanh niên của Người. Giêsu xuất thân từ một gia đình thủ công. Giuse là người cha hợp pháp của Người, có một xưởng mộc. Khi Giêsu đến tuổi lao động, Người cũng học nghề làm gỗ.

Như mọi trẻ con của Nagiaret, Giêsu đến trường làng và hội đường Rabin, nơi đó Giêsu học đọc, học viết, cũng như ca hát và cầu nguyện. Cùng với nhà trường, Giêsu còn có gia đình. Gia đình giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục con cái. Maria, mẹ người cùng với Giuse là một cặp tín hữu sốt sắng, gắn kết với những đòi hỏi quy tắc của luật Môse (Lc 2,22-27 39). Mỗi năm cùng với cha mẹ, Giêsu đi hành hương ở Giêrusalem. Nhờ các Ngài, Giêsu được khai tâm truyền thống phụng vụ Israen ngay từ rất sớm. Nhà chú giải Giêrêmias đã có lời ghi chú quan trọng: “Giêsu thuộc một dân tộc biết cầu nguyện”. Đúng vậy, đời sống gia đình của người Do Thái nhịp nhàng trong ngày với ba thì cầu nguyện. Sáng và chiều người ta đọc Shemà là một lời tuyên xưng đức tin vào một Thiên Chúa độc nhất: “Israen hãy nghe đây: Thiên Chúa là Chúa tể, là vị Thiên Chúa độc nhất. Ngươi sẽ yêu thương Thiên Chúa của ngươi với tất cả tâm hồn, con tim và sức mạnh của ngươi và những lời này mà ta lệnh cho ngươi ngày hôm nay sẽ được ghi khắc trong con tim của ngươi, và ngươi sẽ phải dạy cho con cái của ngươi những điều này, ngươi sẽ nói với chúng về ta dù ngươi ngồi trong nhà hay đang đi trên đường, dù ngươi nằm hay đứng” (ĐNL 6, 4-7). Lời kinh sáng chiều Shemà còn thêm kinh Tefillâh, là lời kinh thánh thi bao gồm 18 lời chúc mà câu đầu như sau: “Lạy Thiên Chúa là Thiên Chúa của cha ông chúng con, xin ca tụng Người, Chúa tể Abraham, Chúa tể Isaac và Chúa tể Giacóp, Thiên Chúa lớn lao, quyền năng, đáng sợ, Thiên Chúa cao cả là vị Chúa tể trời đất...”. Vào lúc trưa, khi 15g00, họ lấy lại kinh nguyện này với 18 lời chúc tụng.

Như vậy, ngang qua những kinh nguyện, những chỉ thị và thực hành, Giêsu ngay từ khi còn trẻ, đã học biết Thiên Chúa độc nhất, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacóp; và sau này, Giêsu còn nhớ đến những cách thức cầu nguyện này; nó đã trở thành thân mật với Người và Người sẽ lấy lại làm thành của mình như Người đã lấy kinh nguyện kết thúc phụng vụ tại hội dường, Caddîsh: “Ước gì danh Người lớn lao biết bao được vinh quang và thánh hóa trên toàn thế giới mà Người đã tạo dựng theo ý chí của mình! Ước gì Người trị vì suốt cuộc đời và mỗi ngày suốt thời gian hằng sống trị vì trên nhà Israen, ước gì sắp tới đây và cả thời gian cận kề...”. Khi lớn lên “theo tuổi tác và khôn ngoan”, Giêsu dần dần làm thành của mình truyền thống tôn giáo Israen. Người làm quen với Lề luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh. Lý trí và tinh thần của Người mở ra với viễn ảnh của thế giới và của lịch sử hoàn toàn hướng về việc đăng quang của Triều Đại Thiên Chúa. 

Giêsu không ngang qua các trường phái thần học thời của Người. Nói cách chính xác, thì Người đã không có thầy giáo. Tất cả những gì Người học hỏi, Người đón nhận nó không phải cách trừu tượng hay qua học đường nhưng qua tiếp cận với chính cuộc sống. Tại Nagiaret, người ta không biết đến những tinh hoa của những trường phái, người ta chỉ đơn sơ sống nhưng sống cách sâu xa. Niềm tin vào cuộc sống với những thực tại khiêm nhu của cuộc sống và những công việc hằng ngày. Trong tư tưởng của người thời đó nảy sinh một tương ứng hồn nhiên giữa sự vật của trần thế và của Triều Đại Thiên Chúa. Sau này, Giêsu sẽ so sánh Nước Trời với một ngọn đèn mà người ta thắp sáng để soi khắp ngôi nhà, hoặc những nấm men của người đàn bà pha trong đấu bột, đã làm dậy khối bột, hoặc những hạt giống rơi vào lòng đất và kiên nhẫn nảy mầm, dù con người có thức tỉnh hay ngủ mê. Trong lời huấn giáo của Người, những so sánh này sẽ lộ ra trong kí ức thời niên thiếu của Người. Và những hình ảnh nông thôn này sẽ cho thấy một sự nhạy bén tôn giáo mà đời sống kiên trì và êm ấm đem đến. Đối với Giêsu, Nước Thiên Chúa không đến với sự hung hăng của bão táp nhưng có một sức mạnh nhẹ nhàng của nhựa sống; nó như hình ảnh của trái đất: “Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt” (Mc 4,28).
Cũng tại Nagiaret, Giêsu học biết rằng Nước Thiên Chúa được gặp gỡ trên các nẻo đường đơn sơ và nghèo khó, trong tương giao giữa con người sống xa với ý chí muốn thống trị. Có lẽ vì nhìn thấy Maria và Giuse sống trong gia đình và làng xóm mà Người nảy sinh trong con tim và tinh thần của mình, tư tưởng cốt lõi của lời huấn giáo: “Phúc cho người có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho người hiền lành, người có lòng thương xót, người đem bình an…”. Bài thánh thi Magnificat mà Phúc Âm Luca đặt để trên môi miệng của Maria khi Mẹ viếng thăm người chị họ Elizabeth, đã nói lên rất chính xác niềm hạnh phúc về linh đạo đã có trong gia đình Nagiaret. Linh đạo này chính là linh đạo của những người nghèo của Giavê, những người Anawim.

Chúng ta ngừng ở linh đạo này đôi chút, linh đạo mà Giêsu đã được tắm gội trong đó, trong suốt những năm thời thanh niên của mình và đã thấm nhuần cách sâu xa nơi Người. Những người nghèo của Thiên Chúa như đã được diễn tả trong các thánh vịnh “là những người đại diện một kiểu mẫu hoàn hảo của con người Kinh Thánh”. Đó là nghèo khó, thiếu thốn, nhục nhã mà Israen một thời đã cam chịu như một sự dữ và lời chúc dữ. Nó đã kết thúc vào thời các tiên tri theo kinh nghiệm đau đớn nhưng phong phú của cuộc lưu đày. Cuối cùng, nó được xem như con đường đặc biệt hướng về Thiên Chúa. Người nghèo cũng thường là người bị đè bẹp, biết hướng về Thiên Chúa, kêu cầu Người trong nỗi gian truân; họ phó thác cho lòng nhân hậu và công minh của Người. Người nghèo cũng là người biết dùng sự nghèo khổ của mình để lấy đà hướng về một niềm tin cao cả hơn, và một lòng phó thác vô điều kiện. Người nghèo trở thành “thân chủ” của Giavê: người nghèo là người biết tín thác vào Thiên Chúa, và Thiên Chúa quan tâm, nâng đỡ. Như vậy, từ một trạng thái nghèo nàn vật chất với một hoàn cảnh khốn cùng, sự nghèo khó thiêng liêng qua đó, phát triển và nảy sinh một sự nghèo khó đượm lòng khiêm nhu và phó thác. Sự nghèo khó đó được chấp nhận và sống trước mặt Thiên Chúa, trở thành một lý tưởng Tôn giáo.

Sophonie là tiên tri đầu tiên đã giới thiệu sự nghèo khó dưới ánh sáng này. Đối với ông, dân tộc của đấng Mêshia được cấu thành bởi “một số dân nhỏ bé còn lại, khiêm nhu và nghèo khó, mà Thiên Chúa là sự giàu có độc nhất và cũng là nơi ẩn nấu duy nhất” (So 3,12). Giêrêmia, về phía ông, khi hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa giữa bao thử thách và bắt bớ cùng với những xúc phạm nhục nhã mà dân Israen là đối tượng, thì dân tộc đó trở thành khuôn mặt lý tưởng kiểu người nghèo của Thiên Chúa. Gương của Giêrêmia với những tâm sự của ông trở thành một ánh sáng. Thánh vịnh gia đã gợi cảm hứng từ đây: những kinh nguyện và những thi ca của người nghèo này trở thành biểu hiện hoàn hảo nhất của linh đạo của người nghèo của Giavê.
 
Làm sao diễn tả rõ ràng hơn nét đặc thù của linh đạo này? Trước hết, ngang qua một khái niệm về quyền tối cao của Thiên Chúa: Giavê là Đức Chúa; chỉ có Người là Đấng Quyền Năng. Những người nghèo của Thiên Chúa sống theo chân lý này, toàn thể bản chất của họ nghiêng mình trước thực tại độc nhất này, trong việc thờ phượng Đấng đã làm nên đất trời và là Đấng thống trị muôn dân: “Thiên Chúa thống trị muôn dân. Và vinh quang của Người ở trên cõi trời. Ai có thể giống được Thiên Chúa của chúng ta? Người trị vì trên cõi trời và nhìn xuống tận đáy sâu, trời và đất...” (Tv 113,4-6).
“Ai giống Thiên Chúa?”: Câu hỏi này diễn tả cõi thâm sâu của tâm hồn người nghèo; đối với họ, đây là cả một chiều sâu không dò thấu được; đồng thời, là cả một thú vị êm dịu cho họ. Bởi vì điều này, vừa xác định chủ quyền tuyệt đối của Thiên Chúa, vừa tương đối hóa mọi quyền lực, quyền năng và uy quyền của trần thế này. Ở đây, việc thờ phượng như một hành vi giải thoát khỏi mọi mối dây ràng buộc do những thế lực áp bức. Người nghèo của Giavê biết và tận hưởng chân lý này: chỉ có Đấng Toàn Năng là Đức Chúa, Thiên Chúa; mọi triều đại, mọi quyền năng và vinh quang đều thuộc về Người.

Do đó, đặc tính thứ hai của thái độ thiêng liêng của người nghèo Thiên Chúa là một lòng tín thác khiêm nhu và không giới hạn. Xem như ngược đời, tính siêu việt của Thiên Chúa mà người nghèo của Người ngập chìm trong đó, đối với họ, không có gì là nặng nề. Trái lại, tính siêu việt này làm cho họ đứng thẳng, trao ban cho họ phẩm giá, lòng dũng cảm và sức mạnh. Bởi vì, đây là một Thiên Chúa mà “vinh quang tận cõi trời”, một Thiên Chúa công bằng và nhân hậu, một Thiên Chúa sẵn sàng cứu vớt, gần gũi với con tim bị tan nát: “Người nâng dậy kẻ yếu hèn từ bụi đất, người lôi kéo người nghèo ra khỏi bùn lầy và đặt để giữa những vị hoàng tử, hoàng tử của dân tộc Người” (Tv 113, 7-8). Đối với người nghèo của Thiên Chúa, việc thờ phượng Người ngang hàng với lòng tín thác. Họ càng cúi mình trước Thiên Chúa, thì càng đi sâu vào lòng tín thác với Người. Họ càng cảm thấy nghèo nàn và trơ trụi trước mặt Người, thì càng cảm thấy lòng tín thác của họ thắng thế. Một lòng tín thác không dựa cậy trên những phương tiện nhân loại nhưng chỉ dựa cậy một mình Thiên Chúa, trên sự quyền năng và lòng nhân hậu của Người. Đối với họ, Thiên Chúa là vị cứu tinh duy nhất, là “nơi trú ẩn, là núi đá, là pháo đài của họ. Họ chờ đợi tất cả từ Thiên Chúa, sự giải phóng, sự công bằng, lòng nhân hậu và tình âu yếm:... dưới bóng Người con ẩn náu cho đến khi tai ương qua khỏi.” (Tv 57, 2). “... Hỡi linh hồn tôi, hãy an nhàn bên Chúa, bởi vì niềm hy vọng của tôi ở nơi Người... Vâng, Người là núi đá và ơn cứu độ của tôi, là thành lũy của tôi, tôi không lay chuyển” (Tv 62, 67). “Thiên Chúa là công minh và xót thương. Thiên Chúa của chúng ta đầy lòng trắc ẩn, Người bênh vực kẻ nghèo hèn, tôi yếu đuối Người đã cứu giúp tôi” (Tv 116, 5-6). Không gì có thể ngăn cản được lòng tín thác của những người nghèo Giavê. Ngay cả sức nặng của những lỗi lầm và nỗi khốn cùng tâm linh của họ: “Tôi đã nói: tôi sẽ thưa tội mình với Thiên Chúa và Người đã cất đi gánh nặng của tội lỗi tôi” (Tv 32,5). “... Hỡi linh hồn tôi, hãy tín thác vào Thiên Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông, hơn lính canh mong đợi hừng đông, Israen hỡi, hãy đặt niềm phó thác của ngươi vào Người. Bởi vì nơi Thiên Chúa, ân sủng và ơn cứu độ tràn đầy nơi Người. Chính Người đã cứu vớt Israen khỏi mọi lỗi lầm” (Tv 130, 6-8). Trong một Thánh vịnh, tính phó thác này hướng về ngay cả tinh thần ấu thơ. Người nghèo của Thiên Chúa tìm gặp được bình an và an nhàn trong sự phó thác của một đứa trẻ: “Lạy Thiên Chúa, tim con không còn kiêu căng. Cái nhìn con không nhắm đến sự bất khả, con không màng tới vinh quang. Tâm hồn con an nghỉ nhẹ nhàng như một đứa trẻ nằm ngủ trên lưng mẹ hiền” (Tv 131, 1-2).
Lòng tín thác khiêm nhu này rộng mở tâm hồn của người nghèo Thiên Chúa tới một niềm hy vọng của thời Meshia, được tái sinh và được thanh luyện. Đó phải chăng cũng là một đặc tính khác của linh đạo của người nghèo Thiên Chúa. Người nghèo của Thiên Chúa chờ đợi Nước Trời đến với họ, không phải như một thời đại vinh quang chính trị và quân sự, nhưng đúng hơn, trong chiều hướng của các Tiên tri, như một sự biểu lộ của công lý, bình an và nhân hậu dành để cho những người khiêm nhu và những người cơ bần nhất. Họ chờ đợi quyền lợi của những người nghèo khổ được nhìn nhận và tôn trọng, chờ đợi sự bình an và công lý ngự trị cho tất cả mọi người. Họ không chờ đợi như một công trình nhân loại nhưng như một hồng ân của Thiên Chúa.
“Lạy Chúa, xin hãy ban cho đức vua quyền năng như Người, cho con đức vua sự công lý. Ước gì đức vua cai trị dân của Người với công bằng. Ước gì đức vua đem đến cho những người khốn cùng của họ. Vâng, đức vua sẽ giải thoát người nghèo khỏi tiếng sủa và người khốn cùng không nơi tựa nương. Người sẽ quan tâm đến những người nghèo khó và yếu kém. Người sẽ giải thoát họ và đem đến sự sống cho kẻ nghèo hèn. Họ sẽ bênh vực người nghèo khỏi mọi bạo lực và hành động hung hăng...” (Tv 72 1-2; 12-14).
Như vậy, đối với người nghèo của Thiên Chúa, niềm hy vọng vào Đấng Meshia được thanh luyện khỏi mọi viễn ảnh về chính trị thần quyền,  khỏi mọi mơ ước quyền lực. Trong khi đó, thường xuyên trên thị trường chính trị của Israen, những nhà chính trị quốc gia mơ đến ánh sáng huy hoàng của một Đấng Meshia sai lệch là biểu hiện cho một ý chí quyền hành, quyền lực của họ, thì con tim của những người nghèo của Thiên Chúa đón nhận và duy trì niềm hy vọng đích thực. Từ những lời sấm truyền của Sophonie đến bài ca của ông già Simeon, của Giacaria và của Đức Maria, ngang qua các Thánh vịnh, niềm hy vọng này không bao giờ ngừng được thanh luyện và lớn lên trong lòng của người nghèo Thiên Chúa.

Chúng ta có thể nghĩ rằng linh đạo này là nền tảng cho lòng mộ đạo như gia đình Nagiaret đã sống. Đức Maria và Giuse phải chăng là những người nghèo khiêm nhu này, mà tiên tri Sophonie đã nói đến? Cũng vậy, họ là những người chờ đợi Nước Thiên Chúa trên nẻo đường đơn sơ và phó thác. Chính trong trọng điểm Kinh Thánh này, mà nảy sinh nguồn cội của kinh nghiệm thiêng liêng của Giêsu. Chúng ta sẽ không bao giờ nói cho đủ: đằng sau Giêsu có Kinh Thánh; có những tiếng vọng lớn của dân Israen, tiếng vọng của các Tiên tri và tiếng vọng thầm kín hơn của những người nghèo Thiên Chúa. Những tiếng vọng này đã nuôi dưỡng lòng sùng đạo của Người, không chỉ như một hiểu biết được học hỏi trong các sách vở, nhưng nhiều hơn, giữa cuộc sống và giá trị của cuộc sống. Xem như một hương vị quê nhà mà con người hít thở. Xem như một sự khôn ngoan được sống mà người ta đã được thấm nhuần cách vô tình và được gợi hứng. Như mọi nhân sinh, Giêsu cảm nghiệm trước khi suy nghĩ. Người đã cảm nghiệm được mọi sự trước khi Người hiểu được. Thời thơ ấu ở Nagiaret của Người là một sự thức tỉnh của toàn bản thể của Người, giữa những cảm nghiệm kỳ diệu đầu tiên khi Người sống thờ phượng và phó thác. Người đã được ghi dấu sâu xa với môi trường sống tương quan này với Thiên Chúa và loài người. Ngày kia, chính Người sẽ tự mình tuyên bố là một trong những người bé mọn, người hiền lành và người khiêm nhu. Và sứ điệp của Người, như đã được trình bày trong các mối Phúc, Tin Mừng sẽ được lấy lại bằng cách gia tăng những giá trị tôn giáo đã được thi hành và cung kính trong môi trường gia đình của Người. 

Chúng ta có thể nào đi sâu hơn nữa trong kinh nghiệm thân mật của cậu thanh niên Giêsu ở Nagiaret không? Dường như là khó để nói nhiều hơn. Nhưng, có một sự kiện mà Luca đã ghi lại, có thể vén màn đôi chút. Khi được 12 tuổi, Giêsu cùng với cha mẹ lần đầu tiên làm một cuộc hành hương lên Giêrusalem. Sau khi trở về sau một ngày đường, Maria và Giuse bỗng nhận thấy rằng con trẻ không có trong đoàn, bởi tưởng rằng con trẻ ở trong nhóm những người thân thuộc, họ hàng. Quay gót trở lại, các ngài gặp được Người sau 3 ngày, trong Đền Thờ, ngồi giữa các thầy và các kinh sư, chăm chỉ lắng nghe và tra hỏi họ. Maria không thể nào ngăn chặn mình phê phán như sau: “Này con, sao con lại làm thế với cha mẹ? Con thấy đó, cha con và mẹ, chúng ta đã tìm con, lo lắng”. Giêsu trả lời: “Vậy tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải ở trong nhà Cha con sao?” (Luca 2, 41-50). 

Cách phản ứng và lời giải thích của Giêsu đưa ra, đúng là đã gây ngạc nhiên nơi một đứa trẻ 12 tuổi. Phản ứng và giải thích này biểu hiện một ý thức về chính mình, ít bình thường, đặc biệt một ý thức về tương giao của mình với Thiên Chúa, đặt Người riêng biệt ra một bên. Khi nói về Thiên Chúa, Giêsu đã không nói: “người Cha” nhưng “Cha tôi”, và nói một cách rất hồn nhiên, xem như một việc đương nhiên. Trong trường hợp này, Người đã có dùng chăng, từ giảm nhẹ, thân thuộc “Abba”, “Cha”, “Ba”?, như Người sẽ làm sau này, trong vườn Ghetsemani? Bản văn của Luca đã không nói đến, nhưng rất có thể là có. Điều làm cho câu đáp của đứa trẻ lại càng khác lạ hơn. Dĩ nhiên, Thiên Chúa, đúng là người Cha chung của Israen, nhưng nó chưa bao giờ đến trong tâm trí của một người Do Thái, ngay cả người rất sùng đạo, khi nói về Thiên Chúa, mà dùng đến từ “Cha tôi”, nhất là khi dùng đến từ ngữ trẻ con “Abba”. Ngôn ngữ ngày thật là phi thường. Đến độ Luca nói rằng Maria và Giuse đã không hiểu được (Luca 2,50). Sự ghi chú này có thể được xem như một bằng chứng trung thực của biến cố. Maria biết nhiều chuyện về đứa con của mình. Chính Luca cũng đã nhấn mạnh: trước khi lấy Giuse, Maria đã nhận từ trời việc loan báo là Mẹ sẽ thụ thai và sinh hạ một người con và con trẻ này sẽ được gọi là Con của Đấng Tối Cao, rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng của David, Người sẽ trị vì đến muôn đời. Và Thiên Thần đã nói rằng, người Con này là hoa quả của Thánh Thần, vì thế chính Người là đấng thánh và được gọi là con Thiên Chúa (Lc 1, 30-35). Đúng, Maria biết tất cả điều đó, Mẹ giữ và suy ngẫm điều đó trong lòng mình. Cho dù vậy, khi Mẹ nghe người con của mình nói “Cha tôi” lần đầu tiên khi nói về Thiên Chúa Đấng Thánh, Mẹ đã bị tác động mạnh và đã không hiểu. Những từ đơn giản này, trong môi miệng Giêsu, đã vượt quá mọi chức danh của thời Meshia vinh quang nhất. Maria bỗng chốc đứng trước sự hiện diện của mầu nhiệm thân mật nơi người Con của mình và đã vượt hẳn điều Mẹ hiểu biết.

Dưới ánh sáng của biến cố này, chúng ta có thể nghĩ rằng, tương quan phó thác vào Thiên Chúa như đã được sống tại Nagiaret, trong đường hướng của những người nghèo của Thiên Chúa, đã có rất sớm nơi con trẻ Giêsu, mang một chiều sâu độc nhất và một sắc thái đặc biệt. Ngay khi biết suy nghĩ, Giêsu tưởng tượng được ngay tức khắc, Thiên Chúa như người Cha của mình. Không chỉ như một người Cha chung của Israen, nhưng như người Cha riêng của mình, Người mà mình có được một tương giao thân mật độc nhất. Tương giao này, cách nào đó, ghép vào linh đạo của những người nghèo của Thiên Chúa, nhưng tương giao đó vượt hẳn điều này, và tương giao đó, đã biến đổi trong ánh sáng. Nhưng không phải vì vậy mà chúng ta vội kết luận rằng, ngay từ thời thơ ấu, Giêsu đã có cái nhìn rõ ràng về sứ vụ của mình, về tình con thảo với Cha. Chỉ với sự tiệm tiến của mình mà Giêsu mở ra với sự sung mãn của mầu nhiệm, làm nên nền tảng cho bản thể của Người. Luca đã không nói rằng: “Giêsu đã lớn lên trong khôn ngoan và đầy ân sủng, trước mặt Thiên Chúa và loài người” đó sao? (Luca2, 52).

Thật là khó để làm rõ, thế nào là ý niệm nhân sinh, khi bừng tỉnh với chính mình, có thể khám phá được, tương giao tuyệt đối và thân mật với mầu nhiệm Thiên Chúa, và lĩnh hội nó như thành phần của mầu nhiệm đó. Đây là vấn đề độc nhất, kinh nghiệm chung chung, không hề đưa ra một điều gì tương tự như vậy; có một điều xem như chắc chắn: ngay khi đến tuổi nghĩ về Thiên Chúa và cầu nguyện với Người, Giêsu được thấm nhuần bởi môi trường gia đình với những giá trị tôn giáo mà gia đình sống, nói với Thiên Chúa như một người con nói với cha mình. Và thái độ thân mật này mang một tính cách riêng biệt nơi Người; thái độ này không hề dừng lại, mỗi ngày mỗi được đào sâu hơn.


Xem thêm các phần khác:

- Nước trời ẩn giấu: https://tinyurl.com/2p8ftej9

- Mỗi ngày một câu chuyện: https://tinyurl.com/jdf9hhdr
- Đạo yêu thương: https://tinyurl.com/2khhj55n
- Hạnh phúc trong tầm tay: https://tinyurl.com/w23fwpk8
- Để gió cuốn đi: https://tinyurl.com/9rezvabv
- Giải đáp thắc mắc Phụng vụ: https://tinyurl.com/nbupr9dm
- Những người lữ hành trên đường hy vọng: https://tinyurl.com/6ffj2wyp
- Viết cho em: https://tinyurl.com/ycam6yyt
- Nói với chính mình: https://tinyurl.com/tfvd4w7j

 

Sống Đạo - sách nói Công giáo giới thiệu đến Quý độc giả Audio sách hay “Nước Trời ẩn giấu” của tác giả Eloi Leclerc -Ofm - Chuyển ngữ: Nt.Trần Thị Quỳnh Giao-Fmm. Audio book “Nước Trời ẩn giấu của tác giả Eloi Leclerc -Ofm, được Kênh Podcast Sách nói Công giáo của truyền thông Giáo phận Phú Cường truyền tải dưới hình thức audio và video. Những Audio book Sách hay này sẽ giúp Quý độc giả tiếp cận gần hơn và dễ hơn với những Audio sách hay: Văn kiện Hội Thánh, Kinh Thánh, Giáo Lý, Giáo luật, Sách đạo đức, sách làm người, Lời hay ý đẹp .....

 

Để nghe những Audio Sách hay và theo dõi những video của Sách nói Công giáo, xin Quý độc giả cùng Like và Subscribe tại đây: 
Website Sách hayhttps://www.sachnoiconggiao.com 
Facebook: 
https://www.facebook.com/truyenthongphucuong/
Youtube sách hayhttps://www.youtube.com/c/SachNoiCongGiao-SachHay

Sống Đạo là thể hiện đức tin qua hành động mỗi ngày trong cuộc sống, tức là sống theo gương Chúa Giêsu và thực thi lời Ngài dạy. Chúng ta không thể tự mình sống đạo tốt được, nhưng cần đến gương các thánh nhân, là những kinh nghiệm sống đức tin, đời sống đạo đức sẽ giúp chúng ta trên đường hoàn thiện sống đạo. Kênh SỐNG ĐẠO – SÁCH NÓI CÔNG GIÁO, chỉ là một cây cầu nối giúp quý độc giả tìm đường đến với Chúa Giêsu trong ước ao trở nên hoàn thiện trong đời sống đạo.


Xin cảm ơn quý Quý độc giả đã lắng nghe và ủng hộ.