Clock-Time

DANH XƯNG VÀ TRIỀU ĐẠI - #Chương 16 - Nước Trời ẩn giấu

Danh Xưng và Triều Đại! Đó là hai thực tại vĩ đại trổi vượt lời kinh nguyện của Giêsu: “Ước gì Danh Xưng của Cha được thánh hóa; ước gì Triều Đại của Cha hãy đến”. Cặp đôi ý hướng này thuộc về phụng vụ của Do Thái. Việc thánh hóa của Danh Xưng và việc đến của Triều Đại, là đối tượng của lời cầu nguyện mà giờ kinh ở các hội đường, kết thúc kinh nguyện: kinh Kabdish: ước gì Danh Xưng vĩ đại này được ca tụng và thánh hóa trên toàn thế giới mà Ngài đã tạo thành theo ý muốn của mình.
SÁCH NÓI CÔNG GIÁO

Tác phẩm: Nước Trời Ẩn Giấu


Tác giả: Eloi Leclerc -Ofm
Chuyển ngữ: Nt.Trần Thị Quỳnh Giao-Fmm

 

#Chương 16: DANH XƯNG VÀ TRIỀU ĐẠI




 

Thực hiện: Trang Sách nói Công giáo của Truyền Thông Giáo Phận Phú Cường
         Ngày  “ra đi” càng đến gần, Đức Giêsu càng dấn thân hơn nữa trong sứ điệp của mình, và như để lộ ra đôi chút, cuộc sống sâu xa của Người. Làm thế nào có thể khác được? Chân lý của Nước Trời, mục tiêu nhắm của tất cả sự rao giảng của Giêsu, Người mang nó trong mình. Nó là điều thân mật nhất của bản thân, trong tương giao của Người với Cha. Không thể nào mặc khải Nước Trời cho các môn đệ, mà không khai tâm họ, ít nhiều về bí quyết của cuộc sống của Người.

         Một thứ bí quyết như vậy, không thể nào tiết lộ trên những công viên công cộng. Ngay cả với một quần chúng hoan hỷ cũng không thể nào tiếp nhận được. Những người hoài nghi và những người không tin, lại càng không thể đón nhận. “Người ta không quẳng những hòn ngọc quý cho lợn, sợ rằng, chúng giẫm đạp trên nó và quay lại cắn xé nhau” (Mt 7, 6). Giêsu chỉ dành những lời tâm sự tối hậu của Người với nhóm nhỏ là các môn đệ, bầy chiên nhỏ bé trung tín của Người

         Người chỉ có thể mặc khải cho họ bí quyết về bản thân mình, bằng cách mời gọi họ cùng với Người, đi vào tương giao với Cha, khi chính họ, đắm chìm trong luồng yêu thương âu yếm của Thiên Chúa. Và rồi, chính các môn đệ, tạo cho Người dịp mà Người chờ mong. Ngày kia, khi thấy Giêsu cầu nguyện, họ đến gần Người. Và khi Người cầu nguyện xong, một trong họ hỏi Người: Thưa Thầy, xin Thầy dạy cho chúng con cầu nguyện như Gioan đã dạy cho các môn đệ của ông” (Lc 11,1). Đối với họ, yêu cầu này có nghĩa: “Xin hãy dạy cho chúng con một công thức cầu nguyện, một công thức độc đáo đặc thù của nhóm tín hữu, có khả năng chỉ dẫn và là dấu hiệu quy tụ tất cả những ai muốn theo Thầy”. Vào thời Giêsu, mỗi nhóm tôn giáo đều có công thức đặc thù cầu nguyện riêng. Đó là một cách thức nói về căn tính của mình, cũng như bảo đảm cho việc kết hợp chặt chẽ của nhóm. Nhóm Pharisêu, Essenien và các môn đệ của Gioan Tẩy Giả, đều có công thức này. Các môn đệ của Giêsu cũng ước mong mình có được công thức cầu nguyện của mình. Nhưng đối với vị Sứ giả của Tin Mừng, là người chìm sâu trong sự gần gũi kỳ diệu với Cha, thì cầu nguyện là một cái gì khác, chứ không phải là một công thức. Giêsu đã có lần cho thấy sơ qua, đối với Người, cầu nguyện là gì: “Đối với anh em, khi anh em muốn cầu nguyện, anh em hãy lui vào phòng kín đáo nhất của anh em, anh em hãy gài cửa lại và cầu nguyện với Cha anh em đang ở đó, trong thâm sâu. Và Cha anh em, đấng thấy tận thâm sâu sẽ ban lại cho anh em… Anh em đừng lải nhải như những người ngoại đạo tưởng rằng mình được chấp nhận nhờ nhai đi nhai lại lời lẽ…” (Mt 6, 6-7).

         Nhưng, Giêsu không trốn tránh yêu cầu của các môn đệ. Người dạy họ một công thức. Nhưng, ngang qua công thức này, Người sẽ cho họ biết thâm sâu, bản thể của Người; Người sẽ dạy họ nói “Cha” với Thiên Chúa, như chỉ riêng một mình Người biết cách nói: như một Người Con. Người sẽ ban tặng cho họ quyền năng này, đặc ân này. Và như vậy, Người sẽ kết hiệp họ vào sự sống sâu xa của Người; Người sẽ làm cho họ đi vào niềm vui của Người.

         Thế rồi, Giêsu nói với họ: “Lạy Cha,
                     Nguyện danh Cha được tôn thánh,
                     Nước Cha được đến!
                     Xin cho chúng con thức ăn đủ sống mỗi ngày!
                     Xin tha tội chúng con,
                     Vì chúng con cũng tha mọi người mắc nợ chúng con!
                     Và xin chớ đem chúng con vào sự cám dỗ”. 
Luca và Matthêu, mỗi người một cách, đã ghi lại lời cầu nguyện của Thầy. Bản văn trên đây của Luca, là giản dị nhất. Bản văn này, xem như gần nhất với bản văn gốc. Chỉ một từ dẫn nhập: “Cha” có thể, từ nguyên thủy được dùng là từ ngữ Aramêen Abba. Đúng vậy, chính từ ngữ này mà Giêsu đã dùng, theo Maccô, khi Người nói chuyện với Thiên Chúa ở vườn ôliu. Điều này cho ta hiểu rằng, đó là cách thức thường tình mà Giêsu kêu cầu Thiên Chúa.

         Sau này, khi Phaolô trở lại với niềm tin vào Giêsu, đã muốn cho kinh nguyện Công Giáo này có một sắc thái, thánh nhân sẽ viết cho các tín hữu Galat: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của con của Ngài để kêu lên, trong tâm hồn của chúng ta, Abba!, Cha” (Ga 4, 6). Nếu Phaolô, khi viết bằng tiếng Hy Lạp, trích từ Abba là từ Aramêen, thì có lẽ là do sự trung thực với truyền thống tiên khởi và cũng vì thánh nhân xét thấy cách dịch ra tiếng Hy Lạp của từ Patèr không nói lên sắc thái đặc thù của từ mà Giêsu đã dùng (Roma 8, 15).

         Từ Aramêen Abba là một từ giảm nhẹ, mà con trẻ thường dùng để gọi cha mình. Đó là một từ, như tiếng hót líu lo của trẻ con, rất thân thuộc và hoàn toàn không có tính sợ hãi, khép nép. Đó là một lời gọi đầy tin tưởng, đầy yêu thương. Khi lần đầu tiên các tông đồ nghe được Giêsu dùng từ này để nài van Vua Cả Trời Đất, chắc chắn họ đã phải vô cùng ngạc nhiên. Người ta đã tìm kiếm, cách vô vọng, trong những lời cầu nguyện của Do Thái giáo xứ Palestine trước Kitô giáo, một ví dụ về lời van nài như thế. Từ Abba hoàn toàn không tìm thấy ở đâu được ý nghĩa muốn nói về Thiên Chúa. Hơn thế, có người Do Thái nào dám cả gan dùng từ ngữ trẻ con này cho Đấng mà Danh Xưng là ba lần Thánh và Vinh Quang làm rung chuyển các Tầng trời và Thần thánh? Bảo đảm là đã có người xưng Thiên Chúa là “Cha chúng tôi” (Abinou, tiếng Hébreu, Abuman, tiếng Aramêen) hoặc hiếm hoi hơn “Cha của tôi” (Abi). Nhưng, không bao giờ, người ta lại cho phép dùng từ giảm nhẹ, thân thuộc và trẻ thơ như Abba.

         Như vậy, chúng ta đứng trước một ngôn ngữ khác thường riêng biệt của Giêsu, và nói lên một kinh nghiệm đặc biệt thân thuộc với Thiên Chúa. Từ Abba trong môi miệng của Giêsu, diễn tả một cảm xúc mới, nối kết với tương giao độc nhất của Người với Cha. Qua đó, toàn thể bản thân hiếu thảo của Người, ca tụng Cha. Tất cả đã rõ ràng, qua từ này, từ của đứa trẻ, xé toang ở đây, Danh Xưng Thiên Chúa: Danh xưng đó bày tỏ bản thể của Ngài; nó biểu lộ lên tất cả sự sung mãn mầu nhiệm của Người. Sự thật xuất phát từ miệng trẻ thơ. Từ này mượn cách nói líu lo của trẻ con, đã nói lên chân lý của Danh Xưng; Danh Xưng này là ánh sáng của nó.

         Đồng thời, Danh Xưng đó nói lên sự thật của Triều đại. Bởi vì, nói lên Danh Xưng là mở ra với Triều đại đang đến: Nếu các con không trở thành như những đứa trẻ, các con sẽ không được vào Nước Trời” (Mt 18, 3). Chỉ có trẻ con mới dám nói lên Danh Xưng và dám nói điều đó, nghĩa là đi vào trong ánh sáng nội tâm của Triều đại; là đã hiểu biết về sự gần gũi kỳ diệu của Thiên Chúa, mà người con, đứa trẻ thơ của Cha, được hưởng nhờ. Khi nói với các môn đệ: “Khi anh em cầu nguyện, hãy nói: Abba…” Giêsu đã ban cho họ chìa khóa, giúp họ đi vào Nước Trời, nơi mà trẻ con là vua chúa. Tập nói “Abba” với Thiên Chúa, với tư cách là con, luôn luôn sẽ là cốt lõi của việc hoán cải Tin Mừng. “Abba” là tiếng kêu của việc tái sinh mới. Chúng ta được đi vào Nước Trời, khi nói lên Danh Xưng, mà chỉ có đứa trẻ mới dám và biết cách nói.

         Danh Xưng và Triều Đại! Đó là hai thực tại vĩ đại trổi vượt lời kinh nguyện của Giêsu: “Ước gì Danh Xưng của Cha được thánh hóa; ước gì Triều Đại của Cha hãy đến”. Cặp đôi ý hướng này thuộc về phụng vụ của Do Thái. Việc thánh hóa của Danh Xưng và việc đến của Triều Đại, là đối tượng của lời cầu nguyện mà giờ kinh ở các hội đường, kết thúc kinh nguyện: kinh Kabdish: ước gì Danh Xưng vĩ đại này được ca tụng và thánh hóa trên toàn thế giới mà Ngài đã tạo thành theo ý muốn của mình; và ước gì Ngài thiết lập Triều Đại khi chúng con còn sống và trong những ngày này của chúng con…”. Giêsu lấy lại kinh nguyện này làm thành kinh nguyện của mình, với hai yêu cầu lớn lao đó. Chúng ta không thể nào không bị ấn tượng bởi sự đối chọi giữa việc kêu cầu hai thực tại siêu phàm này, Danh Xưng và Triều Đại, với việc lời cầu khẩn ban đầu hoàn toàn thân thuộc “Abba”! Giêsu đã dám kết nối lại, cách bất ngờ và hoàn toàn kỳ diệu, giữa tiếng kêu của đứa trẻ với sự siêu việt của Danh Xưng và Triều Đại. Khi làm như vậy, Người đã phóng ra, trên tính siêu việt này, một ánh sáng huy hoàng, chưa hề được biết đến trước đây. Ý thức làm con, là khoảng không đầy ánh sáng, nơi mà Danh Xưng và Triều Đại đến với chính ánh sáng đó. Nhờ ý thức làm con thảo, mà sự thánh hóa Danh Xưng và việc Triều Đại đến, được thể hiện: trong sự gần gũi mới mẻ của Thiên Chúa mà Giêsu đem đến cho trần gian, và được diễn tả hoàn toàn trong sự khẩn cầu “Abba”.

         Do đó, chúng ta thấy, không chỉ là một công thức tập hợp, mà Giêsu đưa ra ở đây, cho các môn đệ của mình. Khi cho họ quyền được nói lên “Abba”!, Người mời gọi họ kết nối với mình, trong kinh nghiệm con thảo và đi vào trong sự thân mật của Cha.

         Còn Matthêu đã bắt đầu lời nguyện của Thầy, không chỉ với một lời kêu cầu đơn giản “Cha” nhưng với một công thức rộng lớn và long trọng hơn: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, phải chăng tác giả đã lo ngại vì tính thân thuộc lớn lao này của trẻ con, làm cho các thính giả Do Thái tiên khởi bị tổn thương và che khuất đi, tính vĩ đại vương triều của Thiên Chúa, hoặc phải chăng tác giả muốn nhấn mạnh, theo cách của mình, tính mới mẻ, kỳ diệu: Thiên Chúa trị vì trên Trời chính là Người, mà chúng ta có thể gọi là “Cha” với sự tín trung hoàn toàn?

         Công thức dẫn nhập này của Matthêu đưa ra một lợi ích: công thức này cho ý thức làm con thảo, một chiều kích cộng đồng. Khi nói với Thiên Chúa “Lạy cho chúng con”, các môn đệ của Giêsu muốn diễn tả tương giao hiếu thảo với Cha, đồng thời tương giao huynh đệ giữa anh em và tương giao này xuất phát từ tương giao với Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể nói được “Lạy cha chúng con” trong một bầu khí của một “chúng tôi, huynh đệ” với một con tim hòa giải và ước muốn sống huynh đệ với mọi người khác. Nói “Cha chúng ta” là dấn thân vào trong một tiến trình huynh đệ, nơi đó tương giao mới mẻ của Thiên Chúa với con người, biểu lộ như một nguồn suối của một cộng đồng nhân loại mới mẻ. Phải chăng chính trong ánh sáng này, mà phần 2 của lời kinh nguyện của Giêsu mang trọn ý nghĩa của nó? Đúng, tất cả đều là một. Không thể nào đi vào trong sự thân mật với Cha mà không cấu tạo thành một cộng đoàn mới, với những người anh em, là con của Thiên Chúa. Và cộng đoàn này chỉ có thể xây dựng dưới dấu chỉ của Bánh thánh được chia sẻ, của sự tha thứ lẫn nhau và sự giải phóng khỏi sự dữ. Bánh, sự tha thứ và giải phóng này, Giêsu muốn chúng ta nài xin, như một gia sản của cộng đồng.

         Một thời gian cách đó, các môn đệ sẽ cống hiến cho Giêsu dịp để mặc khải cho họ một cách sâu xa hơn, về cuộc sống thân mật và kinh nguyện riêng của Người. Thầy đã sai họ đi trong các làng mà họ phải ngang qua, như những người trinh sát. Và họ đã trở về đầy hoan lạc vì đã thành công: “Lạy thầy, họ nói một cách hãnh diện, ngay cả ma quỷ cũng dưới quyền chúng con, nhân danh Thầy” (Lc 10, 17). Đó là một niềm vui hơi ngây ngô, phản chứng lại với cuộc thất bại khó khăn về việc rao giảng của Thầy họ, trong những làng ven bờ hồ (Lc 10, 13-15); (Mt 11, 20-24). Giêsu lắng nghe rồi nói với họ: “Thầy thấy Satan rơi từ Trời, như một luồng sáng, cũng vậy Thầy đã không ban cho chúng con, quyền năng chà đạp dưới chân mình, rắn bò cạp và mọi quyền lực của Đối thủ đó sao? Và không có gì có thể làm hại chúng con. Nhưng chúng con đừng vui thỏa vì các Thần khí nằm dưới quyền chúng con, nhưng đúng hơn, vui mừng vì tên tuổi chúng con được ghi trên trời” (Lc 10, 18-20). Khi nói điều này, có thể Giêsu muốn lưu ý với môn đệ của mình, về điều cốt lõi, đó là Thiên Chúa đã tuyển chọn họ, và đó chính là ân ban của Nước Trời, nói cách khác, là sự gần gũi mới mẻ của Thiên Chúa, đó phải là nguồn suối niềm vui của họ, hơn là sự thành công gây ấn tượng của họ trên những việc trừ tà.

         Chính lúc đó, dưới tác động của Thần khí, một niềm vui sâu xa tràn ngập tâm hồn Giêsu và từ môi miệng của Người, trào ra thi ca tán tụng này: “Lạy Cha là Cha của Trời đất, con xin chúc tụng Cha, Cha đã che giấu những điều này với Người khôn ngoan thông thái và Cha đã mạc khải ra cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, Cha đã làm như vậy trong sự khoan dung của Cha...”

Rồi quay về phía các môn đệ, Người thêm: “Cha đã ban cho Thầy tất cả, và không một ai nhận biết con ngoại trừ Cha, cũng như không ai nhận biết Cha ngoại trừ Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho” (Lc 10, 21-22).
         Chưa bao giờ, như giờ khắc này, Giêsu đã tỏ hiện một cách rõ ràng và trong suốt, niềm vui thân mật và mầu nhiệm xuất từ suối nguồn đó. Ở đây, toàn thể con người của Người được biểu lộ ra. Không chỉ trong điều mà người ta gọi “Lời của mặc khải” nhưng trước tiên, trong chính lời ca tụng này. Lời ca tụng này được gửi về cho “Cha, Thiên Chúa Trời đất”. Trong trung tâm của sự mật thiết với Cha, Giêsu xem như hoàn toàn được thâm nhập vào tính cao cả và toàn quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành. Người thuộc về dòng dõi của những Người nghèo của Giavê, Người là thành viên của những người khiêm nhu này, những người biết phụng thờ Thiên Chúa. Chúng ta sẽ sai lầm khi đối chọi Thiên Chúa và Cha của Giêsu, với Đấng Toàn Năng của Kinh Thánh. Chính trên nền tảng vĩ dại của Thánh Kinh mà lương tri con thảo của Người được phát triển, nảy nở và mang toàn ý nghĩa của nó. Khi kết nối tính toàn năng của Đấng Tạo Hóa với lời kêu của trẻ con mà Giêsu, cách nào đó, đặt vào lương tri con thảo của mình, với trọng tâm của việc tạo thành vũ trụ. Ý thức này, phải chăng là ý nghĩa cuối cùng của toàn vũ trụ? Phải chăng chính đó là điểm mà “Thiên Chúa Trời đất vũ trụ” đã nhắm đến, khi Ngài tạo thành nhân loại và vũ trụ? Trời và đất phải chăng đã được sáng tạo cho chính ý thức đó: trong sự thông truyền ân sủng diệu kỳ của Thiên Chúa với con người? Thật ra, ý thức con thảo này, là sự hoàn thành của mọi tạo vật. Giêsu ở chính vị trí mà thế giới được tạo thành, đầy sung mãn. Lời ca tụng của Ngài là lời ca tụng của vũ trụ. Và niềm vui của Người đáp trả lại với sự xung động tuyệt diệu là nguyên thủy của mọi loài.

         Nhưng đối tượng đặc biệt của lời ca tụng của Giêsu không phải là sự lớn lao và toàn quyền của Thiên Chúa Sáng Tạo, nhưng là sự ưu đãi mà Cha ban cho những người bé mọn. Có nhiều người trong Israen đã ca tụng sự uy quyền của Thiên Chúa. Đó không phải là ân ban riêng của Giêsu. Giêsu ca tụng Cha “vì đã mạc khải những điều đó cho những người bé mọn”. Đó là mục tiêu riêng của sự ngỡ ngàng của Giêsu. Nhưng “những điều này” là cái gì? Và ai là những “kẻ bé mọn”?

         “Những điều này” chính là điều bí mật của Nước Trời. Triều Đại của Thiên Chúa đến một cách ẩn giấu, và làm cho người ta ngạc nhiên. “Vua Trời đất” đến gần con người, ngang qua người thợ khiêm nhu thành Nagiaret. Đó là một sự gần gũi diệu kỳ trong một nhân loại hoàn toàn bình dị. Bí mật của Nước Trời là ở đó. Một bí mật hoàn toàn lạ lẫm đối với những kẻ thông thái và quyền năng. Và phải nói rằng, hoàn toàn không ai để ý đến. Ngang qua Giêsu, ngược lại với mọi chờ đợi và cho dù bề ngoài, không dáng vẻ gì, Thiên Chúa đã đến gần dân tộc của mình, như chưa hề ai làm. Đó là điều mà những người thông thái và khéo léo không hề nhận thấy, bởi họ tự tin vào chính bản thân và khoa học của mình.

         Chính vì vậy, mà Thiên Chúa vui thỏa mặc khải cho những “kẻ bé mọn”. Những người này là những người khiêm nhu, nghèo khổ, đối chọi với những kẻ cao ngạo, tự mãn, tự tin về chính mình và hiểu biết của họ. Nhưng, đối với Luca, sự ưu đãi của Thiên Chúa làm nảy sinh niềm vui trong con tim của Giêsu, còn hơn nữa, vì tính cách triệt để của sự nhưng không của Người. Không phải vì thái độ đạo đức hay tôn giáo của những “kẻ bé mọn” mà họ nhận được mặc khải thần thiêng này. Đơn giản, họ chỉ được tuyển chọn, chính bởi sự dốt nát của họ và sự tuyển chọn này đã làm bùng nổ cách diệu kỳ, tính nhưng không tuyệt đối của ân ban của Thiên Chúa.
         Giữa sự ưu đãi hoàn toàn nhưng không này, được trao ban cho những “kẻ bé mọn”, với sứ vụ của Giêsu, có một mối dây mật thiết cốt yếu. Người phải chăng là “kẻ bé mọn” tuyệt hảo này, mà Cha đã tự mặc khải đầu tiên và đầy sung mãn đó sao? Giêsu hoàn toàn ý thức được điều này. Và Người cảm nghiệm được niềm vui lớn lao này. Hoàn toàn trút bỏ khỏi mọi khoa học, hoàn toàn không một hiền triết nào biết đến, loại bỏ từ những người thông thái, nhưng chính Ngài, mà Cha đã tuyển chọn. Vì vậy, khi ca tụng Đấng “đã mặc khải điều này cho những kẻ bé mọn”, Giêsu đã tạ ơn vì đã được sung mãn từ lời mặc khải này: “Vâng, Cha đã muốn như vậy trong sự nhân hậu của Cha.

         Rồi quay sang các môn đệ, Giêsu tuyên bố: “Mọi sự đã được Cha ban cho Thầy…”. Người bắt đầu “Lời mạc khải” như thế. Theo chứng từ của các Phúc Âm Nhất Lãm, chưa bao giờ Giêsu đã diễn tả cách rõ ràng về tương giao của Người với Cha. Người nhìn nhận một cách minh nhiên rằng, Người đối diện với Cha trong một tương giao trong suốt. Cha đã tự thông ban chính mình hoàn toàn cho Người: “Mọi sự đã được Cha phó nộp cho Thầy”. “Mọi sự” nghĩa là kế hoạch yêu thương lớn lao này mà Người có sứ vụ phải loan báo, đồng thời loan báo tất cả những gì Người là, bản thể con thảo của chính mình. Đến độ Giêsu tự biết Cha với một sự hiểu biết chỉ thuộc về Cha, như về phía Người, hiểu biết Cha với một sự hiểu biết tức thời chỉ thuộc về Con: “Không một ai biết Con ngoại trừ Cha, và không một ai biết Cha ngoại trừ Con và người mà Người Con muốn mạc khải cho”.
         Theo giải thích của Giêrêmias, lời của Giêsu như đã ghi lại ở đây, diễn giải một dụ ngôn nhỏ, tiên khởi trong đó, Thầy đã gợi lại sự hiểu biết mà Cha có thể có về Con mình và sự hiểu biết mà một người con đón nhận từ cha mình. Qua đó, Giêsu muốn cho thấy rằng, dưới một hình ảnh theo cách thức của Người, rằng Người hiểu biết Cha và có thể mặc khải Ngài bởi vì Ngài “đã trao nộp mọi sự cho Người”. Ngay lúc đó, các môn đệ không hiểu gì đến tầm vóc của dụ ngôn. Chỉ với ánh sáng của sự Phục sinh, mà họ sẽ bắt được ý nghĩa, như trong Phúc Âm đã minh định.

         Trong Kinh Thánh, không thiếu những ví dụ về con người đã đến gần Thiên Chúa và đã được đi vào sự thân mật của Người. Với Moisen, chính Giavê đã không nói: “Ta đã nói chuyện với ông từ miệng qua miệng” đó sao? (Nb 12, 8). Nhưng, cho dù có sự gần gũi đặc biệt này, con người vẫn luôn luôn ở trước mặt Thiên Chúa, con người ở trước mặt Người. Thiên Chúa luôn luôn vẫn là Kẻ Khác, và hơn nữa là Kẻ-Hoàn-Toàn-Khác. Tiếng kêu la của những con người này, không hề xé toạc được Danh Xưng, Danh Xưng này vẫn giữ sự bí mật của nó. Đối với Giêsu, hoàn toàn khác. Người không chỉ là Đấng Thân Mật của Thiên Chúa, nhưng Người chỉ hiện hữu thật sự ngang qua sự thông hiệp toàn diện này, mà Cha đã làm nên Người. Sự thông ban này, đó là bản thể sâu xa nhất của Người, đến nỗi Người chỉ tự biết mình và ý thức về mình qua tương giao với Cha, ngay trong lòng của mầu nhiệm của Thiên Chúa và xem như thuộc thành phần này. Sự gần gũi của Thiên Chúa mà Người có, không hề có tương đương. Nhưng Giêsu ý thức rằng, sự gần gũi độc nhất và vô lượng này, Người có sứ vụ về quyền năng và mặc khải chia sẻ nó. Và rồi trong niềm vui của Người, Giêsu quay về các môn đệ và nói với họ: “Phúc cho cặp mắt thấy điều anh em thấy! Bởi vì Thầy bảo thật với anh em, đã có nhiều Ngôn Sứ, nhiều vua chúa đã ước muốn thấy điều anh em thấy mà không được thấy, nghe điều anh em nghe mà đã không được nghe!” (Lc 10, 23-24). Các môn đệ thấy gì? Họ đã nghe gì? Thực sự không có gì là ấn tượng cả. Đơn giản là một con người, không quyền lực, không giàu có, không kiến thức, nhưng là một người nói cho họ về Thiên Chúa, như là Cha của mình, với một cảm xúc đến độ, như Ngài hiện diện trong toàn bản thể của Người, làm biểu lộ một tình yêu và tình âu yếm vô tận.

         Tình yêu và tình âu yếm này, ngang qua lời mời gọi mà theo Matthêu, Giêsu đã nói với môn đệ mình lúc bấy giờ: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11, 28 – 30). Lời mời gọi này của Thầy với các môn đệ mình, hoàn toàn theo cách thức của các nhà hiền triết Israen. Hầu như Người lấy lại từng từ, bài học của hiền triết gia Bensirac mời gọi đọc giả của mình theo trường phái hiền triết (Si 51, 23; 26-27). Giêsu cũng muốn khai tâm môn đệ của mình với hiền triết này. Một thứ hiền triết mà Người có bí quyết và bao gồm trong sự hiểu biết thú vị về Cha. Hiền triết này không chỉ là một kiến thức lý thuyết, kiến thức này đem đến cho con người sự giải phóng khỏi tất cả những gì đè bẹp nó: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”. Bí quyết của sự giải phóng con người nằm trong sự hiểu biết về Cha. Khi đạt được ý thức làm con, con người được sinh ra trong sự tự do đích thực. Danh Xưng của con người, được khắc ghi trong chính Danh Xưng của Cha.


Xem thêm các phần khác:

- Nước trời ẩn giấu: https://tinyurl.com/2p8ftej9

- Mỗi ngày một câu chuyện: https://tinyurl.com/jdf9hhdr
- Đạo yêu thương: https://tinyurl.com/2khhj55n
- Hạnh phúc trong tầm tay: https://tinyurl.com/w23fwpk8
- Để gió cuốn đi: https://tinyurl.com/9rezvabv
- Giải đáp thắc mắc Phụng vụ: https://tinyurl.com/nbupr9dm
- Những người lữ hành trên đường hy vọng: https://tinyurl.com/6ffj2wyp
- Viết cho em: https://tinyurl.com/ycam6yyt
- Nói với chính mình: https://tinyurl.com/tfvd4w7j

 

Sống Đạo - sách nói Công giáo giới thiệu đến Quý độc giả Audio sách hay “Nước Trời ẩn giấu” của tác giả Eloi Leclerc -Ofm - Chuyển ngữ: Nt.Trần Thị Quỳnh Giao-Fmm. Audio book “Nước Trời ẩn giấu của tác giả Eloi Leclerc -Ofm, được Kênh Podcast Sách nói Công giáo của truyền thông Giáo phận Phú Cường truyền tải dưới hình thức audio và video. Những Audio book Sách hay này sẽ giúp Quý độc giả tiếp cận gần hơn và dễ hơn với những Audio sách hay: Văn kiện Hội Thánh, Kinh Thánh, Giáo Lý, Giáo luật, Sách đạo đức, sách làm người, Lời hay ý đẹp .....

 

Để nghe những Audio Sách hay và theo dõi những video của Sách nói Công giáo, xin Quý độc giả cùng Like và Subscribe tại đây: 
Website Sách hayhttps://www.sachnoiconggiao.com 
Facebook: 
https://www.facebook.com/truyenthongphucuong/
Youtube sách hayhttps://www.youtube.com/c/SachNoiCongGiao-SachHay

Sống Đạo là thể hiện đức tin qua hành động mỗi ngày trong cuộc sống, tức là sống theo gương Chúa Giêsu và thực thi lời Ngài dạy. Chúng ta không thể tự mình sống đạo tốt được, nhưng cần đến gương các thánh nhân, là những kinh nghiệm sống đức tin, đời sống đạo đức sẽ giúp chúng ta trên đường hoàn thiện sống đạo. Kênh SỐNG ĐẠO – SÁCH NÓI CÔNG GIÁO, chỉ là một cây cầu nối giúp quý độc giả tìm đường đến với Chúa Giêsu trong ước ao trở nên hoàn thiện trong đời sống đạo.


Xin cảm ơn quý Quý độc giả đã lắng nghe và ủng hộ.