Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật I Mùa Vọng Năm A

Tin mừng Mt 24: 37- 44: Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dựa vào biến cố đại hồng thủy thời ông Noe để dậy chúng ta bài học phải tỉnh thức để sẵn sàng chờ đợi Chúa đến trong vinh quang .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG 



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
TỈNH THỨC ĐỂ KHỎI BỊ BẮT CHỢT

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Phần đầu của diễn từ này đã kể ra những dấu hiệu rõ ràng báo trước cuộc Quang lâm. Còn đoạn văn chúng ta đây, khởi đầu phần hai, nhấn mạnh điều gì? Có mâu thuẫn giữa hai phần không?

2. Mt là người duy nhất trong bốn tác giả Tin Mừng dùng chữ "Quang lâm" (Parousia) (24,3.27.37.39). Chữ này có nghĩa nào trong thế giới La-Hy?

3. Phải chăng các câu 40-41 nhằm trình bày cuộc Phán xét tận cùng như một thứ định mệnh mù quáng và ngẫu nhiên ? Đâu là điểm chung giữa nhung hình ảnh rút ra từ cuộc sống hằng ngày?

4. Các câu 42- 44 có cho biết sự tỉnh thức hệ tại điều gì không? Các dụ ngôn tiếp theo đó (24, 45- 51 ; 25, 1- 13 ; 25, 14- 30) có lấy lại và soi sáng chủ đề tỉnh thức này không ?

5. Trong dụ ngôn ở câu 43- 44, việc Con Người được so sánh với một tên trộm có đáng ngạc nhiên không? Phải chăng đấy là trọng tâm của dụ ngôn? Giáo Hội sơ khai đã mặc cho dụ ngôn này ý nghĩa nào

1. Trong phần đầu của diễn từ Cánh chung (cc.1- 36), Chúa Giêsu đã nhấn mạnh: Con Người chắc chắn sẽ đến và đến một cách rõ ràng. Mặc dù có những hạng thiên sai và ngôn sứ giả (cc.24- 26) mà các tín hữu phải đề phòng, người ta vẫn không thể lầm lẫn được. "Vì như sấm chớp lòe bên đông rạng bên tây thế nào, thì cuộc Quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy" (c.27). Dụ ngôn cây vả nằm trong chiều hướng, ý nghĩa đó (cc.32-34): đừng hoang mang trước làm gì vô ích, sẽ có những dấu hiệu chắc chắn báo động cho các ngươi.

Với các câu 37-41, ta đi sang một ý tưởng khác, không phải là hệ luận của ý tưởng trước đó. Nếu Con Người sẽ phải đến cách rõ ràng, ai nấy đều nhận ra được, thì Người cũng đến một cách đột ngột bất ngờ. Việc đối chiếu với câu chuyện lụt đại hồng thủy thời Noe nhấn mạnh tới nguy cơ của tình thế ấy.

Để nói về việc Con Người trở lại, thánh Matthêô, duy nhất trong bốn tác giả, đã dùng từ ngữ "Quang lâm" (Parousia) (24,3.27.37.39). Nguyên khởi, chữ này có nghĩa là "đến, hiện diện". Trong thế giới La-Hy (Hy lạp-la mã), người ta dùng nó để chỉ việc hoàng đế long trọng ngự đến hay chính thức thăm viếng một thành nào. Trong Kitô giáo sơ khai, từ ngữ sớm được sử dụng để nói về cuộc trở lại vinh quang của Chúa Kitô vào ngày cánh chung (x. 1Tx 2, 19 ; 4, 15 ; 2 Tx 2, 1. 8. 9 ; 1 Cr 15, 23). Trong ngày ấy, phải tỏ ra không gì đáng trách (1 Tx 3, 16 ; 5, 23), vì như bản văn cho thấy, phán xét đi liền với Quang lâm.

Chúa Giêsu, khi kể các dụ ngôn, thường ưa dùng những ám dụ lấy từ Cựu ước, dễ hiểu đối với thính giả cây nho: hình ảnh Israel; người cha, vị quan tòa, ông chủ đất, người chủ hộ: hình ảnh Thiên Chúa, mùa gặt : hình ảnh cuộc Thẩm xét v.v...). ở đây Người tạo ra một ám dụ mới: cuộc Quang lâm của Con Người vào lúc tận cùng giống như một trận đại hồng thủy thứ hai. Hình ảnh được chọn cho thấy khá rõ ý tưởng diễn tả: cánh chung sẽ là một tai ương thình lình đổ xuống đầu mọi người. Thay vì mâu thuẫn với ý tưởng trước nói về biến cố được nhiều dấu hiệu tiên báo, các câu 37-41 trình bày một viễn tượng khác : thái độ của con người. Thiên hạ thời Noe không ngờ được chuyện gì cả và vẫn cứ ăn uống, cưới vợ lấy chồng. Sự vô tri này thật là nguy hiểm: họ đã chết vì đã không nhận ra dấu hiệu nào. Ngày tận cùng cũng vậy. Tai ương treo trên đầu mọi người và sẽ rơi lúc nào không hay. Trong ngày đó, toan tính gì thì đã quá muộn : phải mở mắt ngay từ lúc này đây!

2. Cuộc Phán xét chẳng những bất ngờ mà còn tức khắc. Người ta sẽ không còn giờ, còn cách nào chuẩn bị. Và khi mà thiên hạ tưởng là chẳng có gì khác biệt, thì lúc ấy lại có một cuộc lựa lọc : lúc ấy ta sẽ biết ai là trinh nữ khôn ngoan và dại khờ, ai là tôi tớ tín thành và bất trung (25, 1 -30). Để diễn tả ý tưởng đó, bản văn dùng những hình ảnh lấy trong đời sống thường ngày: hai người làm ngoài đồng, hai bà đang xay bột. 

Chắc hẳn đây là một nhóm thí dụ làm thành một ngạn ngữ bình dân mà Chúa Giêsu trích ra cho môn đồ. Thật thế, một bản văn Do thái còn giữ lại bằng tiếng copte, Khải huyền của Xôphônia (1, 8- 16) có kể ra 3 thị kiến mà chẳng giải thích, như thể độc giả đã quá quen thuộc cảnh tượng ; ba thị kiến này tương ứng lạ lùng với Mt và Lc : "Lúc bấy giờ tôi thấy hai người đang sóng bước trên cùng một lộ trình: tôi nhìn họ nói chuyện với nhau. Và tôi cũng thấy hai người đàn bà đang xay bột và tôi nhìn họ trong lúc họ cùng nhau trò chuyện. Và tôi cũng thấy hai người trên giường trong lúc họ đang nằm nghỉ " (x. P.Lacan, Joumal Asiatique, 1966, tr. 169- 177). Ba lần lặp đi lặp lại này, thường thấy trong văn chương hy bá, cho ta liên tưởng tới một châm ngôn thông dụng mà các Tin Mừng cũng như cuốn sách Khải huyền Do thái nói đây đều tham chiếu.

Dầu sao, những thí dụ bình dân kia thật rõ ràng. Kẻ này người nọ đều lao động, đều cùng làm một công việc (hoặc cùng nghỉ ngơi, theo Luca), chẳng có gì khác nhau. Về phương diện này, cảnh hai người đàn bà đang xay bột thật đặc biệt sống động. Cối họ dùng là một thứ cối xay bằng tay nhỏ như ta còn thấy ngày nay bên Đông phương. Nó gồm hai khói đá tròn lắp chồng lên nhau; khối dưới nằm yên, và có một trục đứng ; khối trên xoay động và có lỗ trũng ở giữa. Để xay, hai bà ngồi hai bên cối, cùng nắm một cái cán thẳng đứng và xoay tròn khối đá bên trên. Họ phải hòa hợp động tác với nhau và làm theo một nhịp điệu. Luca có nhấn mạnh đến tính cách tập thể của công việc này: "Hai bà cùng nhau xay bột". Nhìn họ làm việc ta chẳng thấy có gì khác giữa hai người. Thế nhưng, "một sẽ được đem đi, và một sẽ bị để lại ".

Vì vào giờ ấy sẽ có sự phân biệt rẽ đôi giữa loài người bề ngoài xem ra giống nhau. Chỉ lúc đó mới thật sự xuất hiện sự xung khắc ghê gớm giữa họ: người này được cứu, người kia hư mất. Và dù không ai biết, người này đã ở trong ánh sáng và kẻ kia đã ngập trong tăm tối rồi. Đến lúc ấy mới chuẩn bị, mới ăn năn, mới xin can thiệp thì đã quá muộn.

3. Đứng trước giây phút chung cục cấp bách và thình lình như nước lụt đó, người tín hữu phải luôn tỉnh thức. Các câu 42 và 44 không cho ta biết phải tỉnh thức như thế nào mà chỉ nói : môn đồ Chúa hãy san sàng luôn vì đã được báo động. "Hãy tỉnh thức": mệnh lệnh đó kết thúc đoạn so sánh với lụt đại hồng thủy (c.42) và mở đầu một khai triển mới. Thật vậy, chủ đề tỉnh thức được lấy lại và minh giải qua những dụ ngôn cho thấy các hậu kết thực tiễn của việc chờ mong Chúa Kitô trở lại. Tỉnh thức chẳng phải là một thái độ nội tâm mơ hồ hay một nhân đức tiêu cực, cũng không có vẻ gì là một sự chờ đợi nôn nóng hay rối loạn cả. Đó là lòng trung thành với nhiệm vụ đã được giao phó (dụ ngôn người quản gia), là việc chuẩn bị đón Chúa Kitô trở lại (dụ ngôn mười trinh nữ), là yêu sách chu toàn trách nhiệm của mình (dụ ngôn các nén bạc), là bổn phận giúp đỡ các anh em hèn mọn nhất của Chúa Kitô.

4. Ý nghĩa dụ ngôn tên trộm (c.43) tự nó không khó hiểu. Cái tế nhị và khó khăn là vấn đề áp dụng dụ ngôn đó lúc ban đầu ở Đông phương, nơi trộm cắp hoành hành ban đêm, người ta thường rất sợ những cuộc thăm viếng như vậy lắm. Lề luật đã tiên liệu trường hợp gia chủ giết tên trộm nếu bắt gặp hắn đang đêm (Xh 22,2). Do đó, thay vì truy tầm nguồn gốc chủ đề tên trộm này trong những ám chỉ xa xôi, mơ hồ của Cựu ước (Gr 49, 4 ; G 24, 14), có lẽ nên nghĩ đến một vụ trộm vừa mới xảy ra tại địa phương - như động từ ở thì quá khứ muốn bảo (tất ông đã tỉnh thức và đã không để nhà bị đào ngạch). Chúa Giêsu dùng sự kiện đó để một lần nữa báo động cho các thính giả biết cơn khủng hoảng gần kề : hãy đề phòng để khỏi bị bắt chợt như gia chủ kia. Ông ấy đã không thể đoán trước ; nhưng các ngươi, các ngươi chẳng được quyền nói: "Nếu tôi đã hay mọi chuyện". Vì đù không rõ ngày giờ, các ngươi vẫn biết tai biến sẽ tới bởi Ta đã báo cho hay. Như vậy ý nghĩa nguyên thủy của dụ ngôn này chắc hẳn trùng với ý nghĩa của dụ ngôn Noe.

Sự kiện trên giải thích một điểm có lẽ đã làm ta bỡ ngỡ là lối so sánh cuộc viếng thăm của tên đạo chích với cuộc trở lại của Con Người. Trọng tâm dụ ngôn không nằm trên lối so sánh đó, nhưng trên tính cách bất ngờ của biến cố. Một chuyện xảy ra không ai lường trước được. Vì vậy phải chờ đợi, cho dù chẳng biết thời cơ. Đàng khác, cần lưu ý rằng, đối với Kitô hữu, ngày trở lại của Chủ là một ngày vui chứ chẳng phải là một ngày tai biến.

Hình như ở đây truyền thống sơ khai đã mặc cho dụ ngôn này ý nghĩa ám dụ (và Kitô học). Ta thấy có dấu vết của việc chuyển từ dụ ngôn sang ám dụ khi so sánh Mc 13, 35 : ,"Các ngươi không biết lúc nào chủ nhà trở về " với Mt 24,42: "Các ngươi không biết ngày nào Chủ các ngươi đến." Ở đây cộng đoàn Kitô hữu đã áp dụng cho mình một dụ ngôn có ý nghĩa tổng quát hơn nhiều. Trong tình thế họ đang sống, trước sự trì hoãn của ngày Quang lâm, cộng đoàn đã hơi xê dịch trọng tâm dụ ngôn khi lấy tên trộm làm hình ảnh Con Người. Chúa Giêsu đã nhấn mạnh sự đột ngột của ngày Chung thẩm. Còn Kitô hữu sơ khai lại nghĩ tới Đấng sẽ đến phán xét vào ngày cánh chung. Chủ sẽ đến, đó là điều họ đoan chắc, nhưng Người sẽ đến thình lình. Thành ra phải không ngừng thức tỉnh.

Ta biết hình ảnh tên trộm ấy được Tân ước nhắc lại nhiều lần. Chắc chắn nó phát xuất từ dụ ngôn này, bởi vì các bản văn Do thái giáo nói về ngày cánh chung không hề dùng đến nó. Thế mà trong 1 Tx 5, 2- 4 cũng như 2 Pr 3, 10, chính Ngày của Chúa theo nghĩa Cựu ước (x.Am 5,18), tức là ngày sau cùng, (được so sánh với một tên trộm Ngày ấy bắt chợt mọi người, tín hữu cũng như lương dân; chỉ có những ai săn sàng mới không bị chộp thình lình. Như vậy, dụ ngôn đã được hiểu theo ý nghĩa Chúa Giêsu muốn. Tuy nhiên, trong Khải huyền (3, 3 ; 16, 15), Chúa Kitô đến như một kẻ trộm, và Người chỉ báo động cho Ki-tô hữu thôi. Chúng ta gặp lại ở đó ý nghĩa mà Giáo Hội sơ khai đã tìm thấy trong dụ ngôn.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Thiên hạ cứ ăn uống": Lụt đại hồng thủy xảy đến vì nhân loại đã hoàn toàn sa đọa. Nhưng ở đây Mt không chủ ý nhắc đến sự đồi trụy có tính cách truyền kỳ của thời Noe ; ông chỉ muốn nói đến đời sống bình thường của con người. Điều bản văn muốn nhấn mạnh là: một đời sống hoàn toàn tự nhiên như thế, không trái gì với luật Thiên Chúa, chẳng đồi trụy chút nào, vẫn không hề làm cho người ta tưởng nhớ đến ngày phán xét. Vậy mà, chính trong những điều kiện như thế, cuộc chung thẩm sẽ bất ngờ xảy ra.
"Một sẽ được đem đi, và một sẽ bị để lại ": Được đem đi có nghĩa là được đem về Nước Trời, và bị để lại có nghĩa là bị hư mất mãi mãi.

KẾT LUẬN

Lời Chúa Giêsu khẳng quyết ta không thể biết đâu là ngày giờ tận cùng như muốn bảo chúng ta đừng tính toán, giả định thời gian Người đến. Mối hy vọng Người trở lại đừng biến thành một sự chờ mong nôn nóng, song như là niềm xác tín rằng : Đấng đã và đang đến sống giữa các thân thuộc Người, sẽ ban cho cuộc đời con người và vũ trụ một ý nghĩa đích thực, để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (1 Cr 15, 24- 28). 

Nhưng được giải tỏa khỏi thắc mắc "khi nào và làm sao", Kitô hữu lại càng phải sống như thể ngày đó gần kề. Trong ý nghĩa này, bản văn không mời gọi ta luôn ngước mắt về trời cho bằng hãy quan tâm đến những bổn phận thường nhật mà Chủ bảo phải làm. Ngày giờ tận cùng càng bí ẩn bao nhiêu, thì sự tỉnh thức càng khẩn thiết bấy nhiêu. Lời kêu gọi của các Tin Mừng: "Hãy sẵn sàng? Hãy tỉnh thức" phải vang dội trong tâm khảm những ai đang đón chờ ngày hội ngộ lớn lao đó, không như một mối ám ảnh về ơn rỗi riêng tư, nhưng như một đòi hỏi trung thành với nhiệm vụ Chủ đã trao phó.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Bên ngoài, không có gì phân biệt hai nông dân đang làm việc ngoài đồng và hai bà đang xay bột. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, có một cái phân biệt họ, đó là thái độ nội tâm. Một người thuộc về số những kẻ không ngờ được chuyện gì, người kia thuộc về số biết rõ. Người thì chỉ lưu ý đến cuộc sống, dự định của mình, kẻ kia. quan tâm đến Thiên Chúa và ngày Ngài trở lại. Một chỉ nghĩ đến công việc riêng tư còn người kia làm việc trước mặt Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng hiện diện trước mặt họ y như công việc họ đang làm. Người thì ngủ, kẻ lại tỉnh thức. Lời này chiếu dãi ánh sáng trên cuộc sống hằng ngày của ta. Cái quan trọng không phải là việc làm nhưng !à cách làm.

2. Lời khuyên tỉnh thức chờ mong Chúa Giêsu đến không chỉ nhắm vào thời sau cùng, nhưng còn nhắm tới việc Người đến trong đời mỗi người chúng ta: giờ chúng ta chết. Không ai hay được giờ ngày mình chết, chẳng ai biết cách tính toán, dự phòng. Giờ chết có thể đến thình lình, bất ngờ, đang lúc làm việc ngủ nghỉ, hay giải trí. Việc chuẩn bị chết cũng là việc chuẩn bị ngày Quang lâm. Nếu thật sự quan tâm đến tính cách bất ngờ và bí ẩn của giờ đó, nếu sẵn sàng luôn luôn, ta sẽ có một thái độ thực sự Kitô giáo để đón chờ Chúa đến.

3. Chúng ta, người tín hữu, đang sống trong một thế giới mà đối với nó, niềm xác tín việc Chúa Kitô trở lại với bao hậu quả kèm theo chẳng có một ý nghĩa gì. Thế giới quanh ta không chống cũng chẳng bênh việc trở lại đó; họ không hay biết điều ấy; họ cho là ảo tưởng, hão huyền. Niềm xác tín của chúng ta bị xem là dị thường, kỳ lạ ; đức tin chúng ta vẫn luôn bị đồng hóa vào một thứ mê tín lỗi thời. Thế gian có lẽ chấp nhận sự hiện hữu của Giáo Hội như một tôn giáo tổ chức chặt chẽ, khả dĩ phục vụ được nhân loại trong vài vấn đề nhất thời hơi quá sức con người ; thế gian thừa nhận Giáo Hội xét như Giáo hội giống với nó và đồng hóa với nó, nhưng ý nghĩa sâu xa của Giáo Hội là nhắc nhở và chuẩn bị ta chờ đón Chúa đến thì thế gian không bao giờ hiểu được. Thành ra thật là vô ích khi người tín hữu đi tìm trong thế gian và trong não trạng hiện thời những lý do để tin vào Chúa Giêsu và tin vào ngày Người

trở lại; thế gian luôn bất lực, ngay cả trong nhung mộng ước, dự định điên rồ nhất và cuồng loạn nhất của nó. Vì thế, Chúa đã nhấn mạnh: "Hãy tỉnh thức, hãy sẵn sàng ". Người biết rõ rằng đời sống thường nhật với bao nhiệm vụ gia đình và xã hội, cũng như não trạng đang sinh động nhân loại quanh ta, không thể giúp gì cho ta trong chuyện ấy; hơn nữa, ta thường xuyên bị lôi kéo vào sự vô ý thức chung, vào sự mê ngủ thiêng liêng toàn diện. Đôi khi ta đau khổ, lắm lần ta bỡ ngỡ vì tình trạng đó; song đừng viện cớ ấy mà thoái thác và làm phai nhạt trong ta niềm xác tín ngày Chúa trở lại.

4. Suốt Mùa Vọng này, Chúa sẽ tỏ mình cho mỗi người chúng ta. Đấy là điều chắc chắn : Chúa sẽ thông ban chính mình cho kẻ tìm Người qua sự bằng an nội tâm sâu xa hơn, một đức ái thực sự hơn, một sức can đảm mạnh mẽ để đương đầu với trách nhiệm hơn. Ta hãy chú ý và tỉnh thức để bắt gặp giờ của Người ; giờ ấy sẽ làm cho ta nếm được tình yêu đích thật của Người và củng cố niềm tin của chúng ta vào việc Người đến lần sau hết.


Noel Quession - Chú Giải

 
Mt 24:37-44

Một năm phụng vụ mới bắt đầu. Năm nay (A), chúng ta sẽ đọc mỗi Chúa nhật một đoạn Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu. (Năm B là năm Tin Mừng Mác-cô, và năm C là năm Tin Mừng Lu ca).

Quả thế . thời ông No-ê thế nào, thì ngày quang lâm Con Người cũng sẽ như vậy.

Đó là Mùa Vọng.

Ta biết từ này bắt nguồn từ tiếng La-tinh adventum, nghĩa là sự đến, đã đến đấy là từ đầu tiên của sách Tin Mừng này. Một ai đó. Đức Giêsu không giới thiệu mình cho chúng ta như một người của quá khứ, nhưng như một người của tương lai. Người nói về việc người đến, về việc người quang lâm như một biến cố tương lai.

Lễ Giáng sinh sắp đến, đối với chúng ta không phả là một cách làm giả bộ, như chúng ta vui sướng chờ một người đã đến và chúng ta nhớ nhung gợi lại một câu chuyện lạ lùng xưa.

Đức Giêsu đã nói với chúng ta Người sắp đến ; thời ông No-ê thế nào, thì ngày quang lâm Con Người cũng sẽ như vậy.

Này đây Chúa đến ! Ta hãy để cho Chúa đi qua !

Mỗi buổi sáng Thiên Chúa đều mới mẻ.

Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, cho mãi đến ngày ông No-ê vào tàu.

Những đầu óc nông cạn có lẽ sẽ nói : tại sao lại phải tìm quá xa và đi ngược mãi lên đến thời hồng thủy và Tàu No-ê. Người ta phải làm chi đây ? Này !Đức Giêsu , chính Người đang nghĩ ta đang ở "vào thời No-ê". Và Người mô tả về điều người ta lo lắng. Đó chính là bức tranh của xã hội ta đương. đại : làm việc, ăn uống, dựng vợ, gả chồng. Tất cả những chuyện đó, chẳng có gì tự nhiên hơn !

Trong sách Sáng Thế (16,5-13), cơn hồng thủy được trình bày như một hình phạt cái tội vô luân của con người thời đó ; "Đức Chúa thấy rằng con người quá gian ác trên mặt đất, và lòng họ chỉ toan tính những ý đồ xấu xa suốt ngày". Truyền thống thượng tế khi kéo dài và bi kịch hóa mạc khải Kinh Thánh, đã nghiêm khắc mô tả "sự sa đọa nhục dục của những người đương thời No-ê kéo theo hỗn loạn sang lãnh vực phong tục... và cuối cùng đi tới hủy hoại về đạo lý và xã hội đến nỗi loài người tự hủy diệt chính mình mà không còn hy vọng sống xót…" (chú giải về sách Sáng Thế của Rachi).

Đức Giêsu , trái lại, tuyệt đối không hề nói gì về nạn vô luân. Người không trách móc những người đương thời No-ê, đó chỉ là những đàn ông và đàn bà đang hít thở niềm vui của cuộc sống ! Người không trách họ về sự sa đọa của họ. Cuối cùng thì họ chẳng làm chuyện chi xấu xa cả : họ chú tâm đến những nhu cầu hoàn toàn bình thường của cuộc sống, chẳng có một hậu ý gì.

Thế thì họ quấy quá ở chỗ nào ? Đức Giêsu có thể trách móc họ điều gì nào ?

Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy tới cuốn đi hết thảy.

Họ không bị khiển trách vì phóng đãng mà cũng chẳng phải vì tội lỗi. Chính vì họ "không biết sớ hãi gì cả !" không lo đến chuyện chính yếu. . . không có một nhận thức đúng đắn về thực tại…

Họ có vẻ tin là họ bất tử ! Mắt họ bị bịt không thấy thân phận con người của mình. Họ phải chịu cái chết "nuốt trôi" để rồi, trong phút chốc, họ khám phá thấy rằng họ không phải là "những thần linh" và nếu muốn sống thì họ cần đến Chúa !

Chúng ta luôn luôn ở vào "những ngày thời No-ê ! ".

Loài người hôm nay, cũng thế, họ như bị đánh thuốc mê. Tiến bộ vật chất chính nó có xu hướng ru ngủ chúng ta. Người ta tin thế gian này vững vàng, chỗ người ta đã quen sống, cho đến ngày đến lúc chợt tỉnh ngộ, thì còn tàn bạo hơn cả trước kia người ta đã vô ý thức quá về mối nguy hiểm. Có một cảnh tượng hiện đại của cận đại hồng thủy ; đấy là cuộc lạm phát tiền tệ quốc tế nhận chìm hết mọi nền kinh tế, đấy làm sự tăng giá đột ngột như một cơn són triều của dầu khí và những nguyên liệu thiết yếu nhất, đấy là một căn bệnh không tiên đoán được, đấy là một ta nạn … Và tất cả mọi thứ an toàn của chúng ta đều bị cuốn trôi hết !
Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.

Lần thứ hai, Đức Giêsu dùng đến từ "quang lâm" "parousia" trong tiếng Hy Lạp. Thực sự, từ này có nghĩa là sự "hiện diện", "đã đến" : Có mặt ở đấy! Xưa người ta dùng từ ấy, trong thế giới Hy-La để chỉ "những cuộc đi thăm chính thức của các hoàng đế".

Chúng ta có xu hướng hơi thái quá đem áp dụng nghĩa "parousia" cho Ngày Tận Cùng Các Thời Đại, khi nghĩ rằng ta có những cơ may là không trông thấy ngày tận thế. Đúng là cách ta đánh giá sai lầm về các sự vật mà Đức Giêsu muốn chúng ta cảnh giác: :Thực sự, Đức Giêsu nói với chúng ta rằng Người đến "thăm chính thức" chúng ta trong lúc ta bận rộn những chuyện thường ngày nhất, tại nơi ta làm việc tại nhà ta, ở nới ta ăn uống, trong các quan hệ giữa đàn ông và đàn bà của ta. Lúc lào ta cũng phải sẵn sàng cho Đức Giêsu "ngự đến", "đến cuối cùng", ' có mặt ở đó".

Bấy giờ hai người đàn ông đang làm nương, thì một người được đem đi! một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại...

Đó là cuộc sống hằng ngày.

Chính trong những lúc bận rộn rất thường ngày của chúng ta mà Đức Giêsu đến, giữa lúc người nông dân đang làm, người nội trợ đang làm... và ta có thể thêm, nơi văn phòng, ngoại phố, lúc ta đang lái ôtô.

Vậy anh em hãy canh thức, bởi vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.

Đức Giêsu khuyên chúng ta phải "tỉnh thức" : Hãy canh thức! Hãy chuẩn bị cho tương lai chúng ta. Bởi lẽ Chúa "đến", Chúa "có mặt" mọi ngày.

Đức Giêsu "đến" tạo ra một cách thế riêng của người ở chỗ mà người ta không thấy có gì khác nhau, bởi lẽ không có gì phân biệt giữa hai người này đang cùng làm ruộng, hai người đàn bà cùng kéo cối xay này. Chỉ có chính Chúa mới thấy cái khác nhau : Một người thì sắn sàng, người kia thì không ! Bấy giờ một người được ở với Chúa, ở trong ánh sáng còn người kia không được ở với Chúa, phải ở trong tối tăm. Hiển nhiên là không có vấn đề độc đoán.

Toàn bộ Kinh Thánh nhắc lại rằng Thiên Chúa "cứu độ". Và nếu ta hiểu rõ đoạn nói về nạn hồng thủy, thì phải thấy ở đó có một "hành vi cứu thoát" : Khi con người bấy giờ đang đi tới đại họa, thì mọi chuyện đi theo chiều hướng ngược lại khi Thiên Chúa can thiệp, để làm cho một nhân loại mới xuất hiện. No-ê, chính là người được Thiên Chúa "cứu độ".

Nhưng, hãy chú ý, tàu đã sắn sàng, hôm nay, cho nạn hồng thủy của bạn. Đức Kitô Đấng Cứu Độ, đã vào trong biển nước chết chóc, lôi kéo thêm người vào Giáo Hội, trên thuyền của Người, tất cả những ai theo Người. Và khi vào thời No-ê theo nguyên văn Kinh Thánh, loài người đầu tiên thực sự đã biến mất trọn vẹn, thì Đức Giêsu, nói đến 50% những người được cứu độ . . . một trên hai. . năm trinh nữ khôn ngoan, khác với năm trinh nữ dại khờ (Mt 25,12). Và hiển nhiên chúng ta biết rằng đó không phải là những phần trăm theo toán học.

Không hề muốn nói đến một bầu không khí sợ hãi, Đức Giêsu lôi những người "đang đứng", những người "canh thức", những người "đang rình". Cái "liều lĩnh" trong cuộc sống kinh tế, xã hội, gia đình, mời gọi ta thấy trước, lo chuẩn bị tỉ mỉ. Ong chủ doanh nghiệp đang "thiêm thiếp ngủ" sẽ kết án chính cái doanh nghiệp của mình. Chàng trai trẻ không lo chuẩn bị tái lai của mình, thì chính mình sẽ chịu trách nhiệm làm hỏng cuộc đời mình, giống hệt như nhau. Người đàn ông hay đàn bà không bao giờ nghĩ đến Chúa sẽ làm hỏng cuộc "viếng thăm" của Người.

Vậy anh em hãy canh thức, bởi vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.

Anh em hay biết điều này : nếu chủ nhà biết vào canh kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức...

Đừng làm cho cuộc đời mình cứ ngủ ! Hãy tỉnh thức !

Sinh vật nào thức tỉnh, con vật đang săn mồi, cuối cùng chính là thứ "được sống". Tỉnh thức không hề có nghĩa là "tích lũy cho nhiều hệ thống an ninh" , "chắn rào chung quanh nhà để tránh cướp": Không ! Tỉnh thức, chính là "sắn sàng" để đối phó, chính là "được vận động liên tục" để hành động: . . Tỉnh thức, chính là trái nghịch với "để buông trôi", lo lắng, bất cần.

Không nên nói "giá mà tôi đã biết trước" vì đã quá muộn rồi, bởi lẽ chúng ta đã được cảnh báo trước rồi.

Nếu chủ : nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến. . .

Hẳn ông đã thức không để nó khoét vách nhà mình đâu.

Trong tâm trí chúng ta, hiển nhiên hình ảnh của "người kẻ trộm" gắn liền với sợ hãi. Chắc chắn ta có thể đọc một bài khác về hình ảnh này. Thế thì theo Đức Giêsu, kẻ trộm đến làm gì ? Nó "khoét vách nhà" anh" ta đến mở cái gì đang bị đóng lại, bỗng nhiên ta khám phá một ý nghĩa tượng trưng kỳ diệu; qua những lời lẽ chân thực củ dụ ngôn : Chúa luôn luôn :đến "để mở" thế gian cứ đóng không cho Người vào. Khi Người đến cửa nhà chúng ta, Chúa sẽ vào nhà ai tỉnh thức để mở cho người ! Nhưng ai để cho mình phải bất ngờ …coi chừng ! Cửa không phải lúc nào cũng mở luôn luôn đâu.

Chúng ta có lỡ không để chúng ta ngỏ vào thế giới của Thiên Chúa không ? "

Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

Người Kitô hữu sẽ được giải thoát khỏi cái ngày..luôn luôn sắn sàng. Vâng ! Con Người đến bất cứ lúc nào trong đời. Người đến thường xuyên, đơn giản đến độ có vẻ như luôn luôn không ngờ đến .

Ta có tin vào điều mạc khải này của Chúa không ?


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
" Hãy tỉnh thức, để sẵn sàng"

Mt 24: 37 - 44

I / Ý CHÍNH : 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dựa vào biến cố đại hồng thủy thời ông Noe để dậy chúng ta bài học phải tỉnh thức để sẵn sàng chờ đợi Chúa đến trong vinh quang .

II / SUY NIỆM : 

1 ) " Trong thời đại ông Noe xảy ra thế nào ..." :

Trong câu mở đầu này Chúa Giêsu đã đối chiếu biến cố đại hồng thủy thời ông Noe với cuộc Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang vào ngày tật thế và vào giờ chết của mỗi người .

2 ) " Cũng như những ngày trước đại hồng thủy ..." :

" Con người đến được diễn tả bằng chữ Parousia . Trong thế giới Hy La, Parousia chỉ việc hoàng đế long trọng ngự đến hoặc chính thức thăm viếng một thành nào, thời gian Giáo Hội sơ khai, dùng chữ Parousia để chỉ việc trở lại trong vinh quang của Chúa Giêsu vào ngày tận thế, đi liền với cuộc phán xét . Vì thế, ở đây liểu nói " lúc Con Người đến" là chỉ ngày tận thế và chỉ giờ chết của mỗi người .

Ngày tận thế của Chúa Giêsu sẽ đến và đến một cách rõ ràng, không thể lầm lẫn được ( Mt24, 24 - 27 ) vì thế, đừng hoang mang trước làm gì vô ích, sẽ có những dấu hiệu chắc chắn cho mọi người . Tuy nhiên dù Chúa đến cách rõ ràng, nhưng sẽ đến một cách bất ngờ và yếu tố bất ngờ này được trình bầy trong biến cố đại hồng thuỷ thời ông Noe .

Cuộc quang lâm của Con Người vào thời tận thế như một trận đại hồng thuỷ thứ hai . Thiên hạ thời ông Noe không ngờ được gì cả và vẫn cứ ăn uống cưới vợ lấy chồng . Sự vô tri này thật là nguy hiểm : họ đã chết vì đã không nhận ra dấu hiệu nào của trận lụt . Ngày tận thế cũng vậy, tai ương treo trên đầu mỗi người và sẽ rơi lúc nào không biết, trong ngày đó có toan tính gì thì cũng đã quá muộn . Vì thế phải tỉnh thức ngay từ bây giờ .

3 ) " Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng ..." :

Để diễn tả số phận con người khác nhau tùy theo thái độ sống của họ trước ngày tận thế, giờ chết, Chúa Giêsu đã dùng những hình ảnh cụ thể lấy trong đời sống thường ngày : Hai người làm ngoài đồng, hai người đàn bà xay bột .

Hai hình ảnh này cho thấy rằng vẻ bề ngoài người ta có thể rất giống nhau, kẻ này người kia đều lao động, đều cùng làm một công việc chẳng có gì khác nhau, nhưng tuỳ theo cách sống đạo đức mà số phận sẽ khác nhau : Một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi . 

Khi lấy hình ảnh hai người, mà một người được thưởng, một người bị phạt thì không có ý bảo rằng số người rỗi linh hồn cũng bằng số người hư mất nhưng chỉ có ý nói tuỳ theo lòng đạo đức mà số phận đời đời của người ta sẽ khác nhau . Vì thế nếu đợi đến lúc Chúa đến, giờ chết, mới chuẩn bị, mới ăn năn xin can thiệp thì đã quá muộn rồi .

4 ) " Hãy tỉnh thức vì không biết giờ nào ..." :

Dứng trước giờ phút chung cục cấp bách và bất ngờ như nước lụt vậy, người tín hữu phải luôn luôn tỉnh thức và sẵn sàng .

Tỉnh thức đây không phải là thái độ thụ động trong đèn ngồi chờ không làm gì cả, nhưng là một thái độ tích cực .

Trung thành với nhiệm vụ được giao phó dụ ngôn người quản gia Mt24, 45 - 51 ; Lc12, 42 - 46 .

- Chuẩn bị đón Chúa Kitô ( Mười trinh nữ Mt25, 1 - 13 ) .

- Sinh lời lãi thiêng liêng ( Các nén bạc Mt25, 14 - 30 ; Lc19, 12 - 27 ) .

- Giúp đỡ mọi người ( Các mối phúc thật Mt6, 12 ) .

- Bổn phận phải giúp đờ các anh em hèn mọn nhất của Đức Kitô ( Mt25, 31 - 46 ) .

5 ) " Nhưng các con phải biết điều này là ..." :

Chúa Giêsu dùng dụ ngô ông chủ với kẻ trộm để báo động cho các thính giả biết giờ Chúa đến đã gần kề hãy đề phòng để khỏi bị bất chợt như gia chủ kia . Tất nhiên ở đây Chúa không so sánh tư cách kẻ trộm với tư cách của Chúa, mà chỉ có ý so sánh yếu tố xuất hiện bất ngờ : Chúa đến cách bất ngờ như kẻ trộm đến cách bất chợt .

6 ) " Vậy các con cũng phải sẵn sàng ..." :

Chẳng bao giờ kẻ trộm cho chủ nhà biết giờ nó đến . Vì vậy chủ nhà muốn khỏi mất của thì chịu thức để đề phòng . Nhưng thức lâu vừa mệt vừa buồn ngủ nên rất dễ bị sao lãng . Sự tỉnh thức đối với ngày Chúa đến cũng làm cho người ta gặp khó khăn tương tự . Nhưng dù khó khăn đến đâu cũng phải tỉnh thức để sẵn sàng, vì Chúa đến bất ngờ .

III / ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng :


Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay, đặt trong thời gian mở đầu cho năm phụng vụ và trong tâm tình mùa vọng để khơi dậy trong ta một tâm trạng khao khát đón Chúa Giêsu vào cuộc sống đạo đích thực, nhờ đó ta có một tư thế sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ của Chúa .

B / Áp dụng thực hành : 

1 ) Nhìn vào Chúa Giêsu, nghe Lời Chúa nói :

" Trong thời ông Noe xảy ra thế nào ..."

Chúa nhắn nhủ chúng ta phải biết nhìn điềm trời . Nhìn dấu chỉ của các biến cố xảy ra để nhận ra ý Chúa để sống cho phù hợp .

" Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ ..."

Chúa chỉ cho ta thấy rằng trong lúc chúng ta sống có vẻ bình thường thì Chúa sẽ đến gọi chúng ta cách bất chợt . Vì thế chúng ta phải sống trong nếp sống bình thường, nhưng với tinh thần khác thường . Như đang chuẩn bị , gọi ta bất cứ lúc nào vậy .

" Có hai người ... một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi" .

Chúa chỉ cho ta thấy số phận đời đời của mỗi người chúng ta chưa phân biệt ở đời này vì vẻ bên ngoài giống nhau, nhưng sẽ phân biệt dứt khoát trong giờ chết . Sự phân biệt này tuỳ thuộc vào thái độ sống đạo của ta trong hiện tại, ngay bây giờ .

" Vậy hãy tỉnh thức ..."

Yếu tố bất ngờ của người chết là lý do đòi hỏi ta phải luôn tỉnh thức để sẵn sàng : sẵn sàng trong việc trung thành với bổn phận hàng ngày đối với Chúa, đối với tha nhân và bản thân .

2 ) Nhìn vào các nhân vật điển hình trong bài :

Người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng mà không hay biết việc ông Noe đóng tàu . Rút kinh nghiệm chúng ta đừng lãnh đạm trước mỗi biến cố xảy ra nơi tha nhân, nhưng phải biết nhìn những biến cố ấy như là bài học làm giàu cho bản thân, phải biết nhìn tha nhân để noi gương bắt chước hoặc rút kinh nghiệm cho bản thân .

Một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi, tuy hai người cùng làm một việc . Sống ở đời tuy công việc giống nhau, nhưng muốn được tiếp nhận mà không bị bỏ rơi khi chết phải sống theo tinh thần của Chúa Kitô vì ai cũng chết với Chúa Kitô thì cũng được sống lại với Người ( Rm 6, 5 ) . Ai theo Ta thì Ta ở đâu, kẻ ấy cũng ở đố với Ta . 

Ông chủ và kẻ trộm : chẳng bao giờ kẻ trộm nói trước cho ông chủ biết giờ nó đến . Chúng ta không biết trước giờ chết của mình . Vậy muốn giữ cho được ơn chết lành thì phải tỉnh thức để sẵn sàng trong ơn nghĩa với Chúa .

* Tâm tình sống mùa vọng :

Tất nhiên ta không thể theo tâm tình như thể Chúa chưa giáng trần được nhưng chúng ta sống lại tâm tình của dân Do thái mong được Chúa đến, để lúc này đây công cuộc nhập thể cứu chuộc của , ăn nhập vào đời sống của ta . Việc này đòi hỏi nhiều thời gian và ta phải làm suốt đời mà vẫn chưa xong . 

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn