Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật II Phục Sinh A

Tin mừng Ga 13: 1-15: Tin Mừng Gioan được gọi là Tin Mừng về các dấu chỉ: Chúa Kitô bắt đầu cuộc sống công khai của Người bằng dấu chỉ đầu tiên (nước biến thành rượu ở Cana xứ Galilê)...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 23 THÁNG 04 NĂM 2017

CHÚA NHẬT II MÙA PHỤC SINH A



Tin mừng Ga 13: 1-15
 
Học Viện Giáo Hoàng Piô X
 
HIỆN RA CHO CÁC MÔN ĐỒ

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Lời chào bình an cho các con" (c.19) có ý nghĩa gì? Tại sao nó được lặp lại hai lần (c. 21)?

2. Trình thuật "Chúa hiện ra cho các môn đồ" nhấn ạmnh điểm nào? so sánh với Lc 24, 36- 49

3. Tại sao Thần khí được ban vào ngày Phục sinh? Giáo Hội sơ khai đã không cho rằng Thần khí chỉ đến vào lễ ngũ tuần đó sao? (Cv 2, 1- 11).

4. Vì sao Chúa Giê-su hiện ra cho Tôma đúng một tuần sau, vào ngày Chúa nhật?

5. Nên dịch câu 27c ra là "Dừng ở người cứng tin" hay "dừng trở nên người cứng tin"?

6. Câu nói sau cùngc ủa Chúa Giê-su (c.29a) phải chăng là một lời quở trách Tôma thậm tệ? Lời chúc của Người (c.29a) bao hàm điều gì xét trong nhãn giới Gioan?

7. Hai câu sau cùng (30- 31) cho thấy Gioan viết cho hạng độc giả nào?

1. CÁC MÔN ĐỒ TỤ HỌP (20,19-23)

Làm môn đồ là có một sứ mệnh: chúng ta đã biết điều ấy qua diễn từ giã biệt (13, 16. 20; 15, 1-8). Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thế gian, nay thành sự hiện diện trọn vẹn của Thiên Chúa, phải được các môn đồ nối dài. Tin Mừng Nhất lãm cũng đề cập đến những lần Chúa Giêsu hiện ra cho các nhóm môn đồ: chính lúc bấy giờ Người giao sứ mệnh cho họ (Mt 28, 16-20; Lc 24,47-49; Mc 16,15: không xác thực; xem Cv 1, 8).

Nơi Gioan, cuộc hiện ra cho mấy môn đồ đang tụ họp nằm vào chính chiều ngày thứ nhất trong tuần. Các ông tụ họp đâu đó tại Giêrusalem. Về sau chúng ta sẽ biết là Tôma không có mặt lúc ấy. Mọi cửa đều đóng kín vì họ còn bị ám ảnh bởi nỗi sợ người Do thái.

Nhưng không gì ngăn chân được Đấng Phục sinh. Cách thức hiện hữu mới của Người chẳng còn bị chướng ngại vật chất nào cản trở. Chúa Giêsu đột nhiên đứng giữa họ. Trình thuật Lc 24,36-49 rất giống với trình thuật Gioan ở chỗ này. Các môn đồ thoạt tiên kinh hãi rồi được Chúa Giêsu trấn an. Người không nói như ngày xưa: Chính Ta đây... (6,20), vì sự hiện diện của Người từ nay thuộc một trật tự khác, sự hiện ấy đem lại bình an (14, 27) và vui mừng (16, 20- 24; 17, 13). Lời chào theo thói quen: Bình an cho các con! ở đây vượt quá ý nghĩa thông thường của nó. Chúa Giêsu chúc và ban cho họ một sự bình an và một niềm vui đặc biệt, khả dĩ giúp họ thắng vượt cớ vấp phạm thập giá và những âm hưởng của nó trong cuộc đời họ (14, 17).

Vì không có vấn đề quên! Bởi thế Chúa Giêsu trỏ cho xem các dấu vết Tử nạn của Người. Nơi Lc 24, 36- 49, Chúa Giêsu đưa tay và chân chứ không đưa cạnh sườn, vì Lc đã chẳng nói đến nhát lưỡi đòng trong trình thuật Tử nạn của ông; vả lại trình thuật của ông chú tâm đến thực tại Phục sinh hơn: các môn đồ đã không thể chỉ tin vào lời nói của mấy người đàn bà, họ chỉ tin khi Chúa Giêsu hiện ra cho Phêrô và sau đó trỏ cho các sứ đồ còn đang sợ hãi xem tay chân của người cùng bắt đầu ăn trước mặt họ. Và kết luận của Lc là Người đã sống lại thực. Nơi Gioan, Chúa Giêsu đưa tay và cạnh sườn Người trong cùng mục đích ấy: chúng ta không đứng trước một hồn ma một sản phẩm của trí tưởng tượng đâu? nhưng đồng thời thánh sử muốn nhấn mạnh rằng sự phục sinh giả thiết phải có thập giá. Thập giá không thể loại trừ khỏi tư tưởng, phủ nhận như một giấc mộng hãi hùng. Cầu mong họ được bình an, thứ bình an trước hết liên hệ tới Người (16, 33) để họ học hiểu thập giá theo Kitô giáo!

Sau đó, mặc dầu thấy các môn đồ tràn ngập vui mừng, Người cũng lặp lại một lần nữa: Bình an cho các con! Việc lặp lại này chứng tỏ đây không phải là một công thức thông lệ, đồng thời cho thấy bình an được cầu chúc là thứ bình an tích hợp mọi dấu vết của cuộc Tử nạn, và như thế vượt quá bình an thông thường. Niềm đau chia ly không thể biến thành một nỗi mong thoáng qua, quên đi cuộc Tử nạn. Không, nỗi đau đó phải trở nên một niềm vui bền vững, nhờ đau khổ mà chín mùi, niềm vui của Chúa Giêsu cũng như niềm vui của họ, niềm vui không một ai cướp mất (16, 20-22). Niềm vui ấy là niềm vui của mùa gặt phát sinh từ nỗi gian khổ, cơ cực cửa Tử nạn (4,38; 17,13). Thật vậy, Chúa Giêsu giờ đây đến trao cho họ sứ mệnh Cha đã giao phó cho Người: Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con. Các hạn từ gần giống như trong lời nguyện thượng tế (17, 18). Chúa Giêsu ra đi, nhưng thực tại thần linh mà Người mang tới và hiện thân, vẫn ở trong họ và bên họ. Phận sự của họ là từ nay mang nó đến cho thế gian còn bỏ hoang. Cảnh này quả tóm tắt và thể hiện tư tường của diễn từ giã biệt vậy (x.Mt 28, 19- 20).

Nhưng nếu đã phải có phần khí trợ giúp, các môn đồ mới hiểu được "chân lý", thì huống là việc làm cho kẻ khác hiểu, họ lại cần Ngài phụ lực biết bao. Như Thiên Chúa đã thổi hơi sự sống vào con người đầ u tiên (St 2,7; Kn 15, 11), hôm nay Chúa Giêsu cũng thổi Thần khí vào các môn đồ để tái tạo họ cho sứ mệnh mới. Việc tuôn đổ Thần khí ở đây không hẳn có nghĩa là việc tái sinh họ trong Nước Thiên Chúa và trong sự sống (3, 3-8) cho bằng là chỉ sứ mệnh đã trao cho họ: sứ mệnh đem bao kẻ khác vào chính sự sống này.

Vì cùng với Thần khí, họ được ban quyền tha và cầm giữ tội trong Lc cũng vậy (24,47), việc loan báo đức tin có mục tiêu tha tội và có đối tượng là mọi dân nước. Trong Mt 16, 19, quyền trên được hứa cho Phêrô; trong Mt 18, 18, quyền năng cởi buộc ấy được ban cho Giáo hội. Thuật ngữ pháp lý bao hàm cả quyền phán xét. Nơi Ga 20,23, cầm giữ đối nghịch với tha thứ (Mc 7,8; x.Hc 28, 1: diatôrein). Trong tư tưởng thánh sử, quyền này là một tia sáng chói lọi của Con Người (Mc 2, 5 và ss; Lc 7, 47- 48), Đấng từ nay được đặt làm thẩm phán (Ga 3, 19; 5, 27; 9, 39; 12, 31- 32; 17, 2). Thành ra các môn đồ nhận được ở đây một quyền xét xử thật sự; họ tham dự quyền tài phán cánh chung của Con Người là Chúa Giêsu. Thế thật hữu lý khi Giáo hội coi lời Chúa Giêsu nói đây như nền tảng của quyền tha thứ tội lỗi bằng bí tích cáo giải. Nhưng tại sao thánh sử, mà trọng tâm tư tưởng là việc mặc khải, định nghĩa ở đây sứ mệnh các môn đồ bằng quyền xét xử chứ không bằng việc loan báo lời (17, 9- 21)? Người ta có thể ngạc nhiên về điều đó. Nhưng chắc chắn là Gioan ghi lại những lời của chính Chúa Giêsu. Trong Lc 24,47, Chúa Giêsu không nói đến việc tha tội; trong Mt 28,18 thì Người để ý tới quyền phổ quát và thần linh của mình. Như đời sống và giáo huấn của Chúa Giêsu (9,39), việc rao giảng Tin Mừng đem lại sự chia rẽ trong thế gian. Các môn đồ được công bố là có thẩm quyền phân biệt xem ai đáp lại sứ điệp; họ được quyền phán xét sau cũng như trước khi người ta lãnh phép rửa tội. Dĩ nhiên quyền này không độc lập với việc rao giảng, vì xét cho cùng chính "chân lý" mới giải phóng khỏi ách nô lệ tội lỗi (8,32-34) và biến cải nên tinh tuyền (13, 10; 15,3). Lc 24,47 nhấn mạnh rnối dây liên kết chặt chẽ việc công bố đức tin.và quyền xét xử nhưng xem ra thiên về điểm đầu hơn. Trong Mt 28, 18- 20 quyền được trao ban bao gồm việc loan báo đức tin, quyền thanh tẩy và trông coi việc giữ các giới luật. Tư tưởng Gioan đặc biệt nhấn mạnh đến quyền tài phán của các môn đồ, được xem như một tia sáng của quyền Con Người.

Người ta tự hỏi tại sao Thần khí đã được ban cho các môn đồ ngay từ Phục sinh, trái ngược với cảm thức của cộng đoàn Kitô giáo sơ khai là đặt việc tuôn đổ Thần khí vào lễ Ngũ tuần (Cv 2, 1-4). Luca chỉ nói đến một lời hứa sẽ được thực hiện vào lễ Ngũ tuần. Nhưng ông có thể đưa về phần thứ hai của tác phẩm mình, tức sách Cv.; còn Gioan thì không. Vậy phải chăng ta có thể coi Thần khí như một sản phẩm có điều kiện? Được ban theo lượng theo liều? Thật ra, việc chia sẻ Thần khí được thực hiện từ từ. Ngài đâu phải là một chân lý tĩnh, đặt trong túi như một đồ vật đá ong giá. Đối với Kitô hữu, thần khí là sự sống tuyệt hảo. Ngài không ngừng được phân phối, vào lễ Ngũ tuần và sau đó trở đi. Việc tuôn tràn vào lúc Phục sinh, Hiện xuống và sau đó đều là những dấu hiệu của cùng một thực tại mà, từ lúc Chúa Giêsu được tôn vinh (7,37-39), đã cách mạng cả thế giới. (3, 3-8). Lối phân biệt việc ban Thần khí vào lúc Phục sinh và Hiện xuống chỉ là thứ yếu, nhất là đối với Gioan, vì theo ông, hai biến cố đều thuộc về cùng một Giờ. Tất cả mọi cuộc tuôn đổ Thần khí chỉ là một. Ngày Phục sinh, các môn đồ nhận được Thần khí để chuẩn bị sứ mệnh; Thần khí ấy trở lại trên họ khi dân mới của Thiên Chúa được thiết lập (Cv 2, 1-4); sau đấy Ngài còn tiếp tục giúp đỡ họ không cùng.

Gioan chẳng kể lại ChúaGiêsu giã từ thế nào và môn đồ phản ứng ra sao, không phải vì ông muốn qua đó ngụ ý sự hiện diện thường xuyên của Chúa Giêsu nhờ Thánh Thần (Ga 16, 7; x.Mt 28,20) nhưng vì muốn tuân theo một cơ cấu văn tương phản ứng của Maria Mađalêna sau cuộc hiện ra cũng bỏ qua không bàn đến.

2.TÔMA (20, 24- 29)

Chúng ta biết tính tình của Tôma Diđimô rồi. Là một ~ton người thực tiễn, ông chỉ phê phán theo lương tri. Ong không may thích những chuyện điên rồ như việc đi thăm mồ Ladarô dạo nọ hay lang thang vô định trên con đường chẳng biết dẫn tới đâu (11,16. 14,5). Thế là nay người ta lại bảo với ông là đã thấy Chúa. Hãy nói với kẻ khác đi!

Họ đã thấy Chúa! Đó là lời rao giảng đầu tiên, lời chủ yếu liên hệ đến các sự kiện cụ thể, nhưng cũng đã bao hàm mọi khai triển khả dĩ của đức tin: họ đã thấy Người, và sẽ dần dần thay Người. Chúa của họ, sống và ở bên họ ra sao.

Tôma cũng đã thấy Người, một lần thay cho tất cả trên thập giá. Như thế là đủ; đừng tìm cách nói vớ vẩn trước mặt ông. Vết thương lỗ đinh, cạnh sườn đâm thủng, đó là thực tế. "Bao lâu Tôma chưa thấy chúng tận mắt, thì đừng kể chuyện ấy cho tôi". Tôma nắm được một điểm chắc chắn, sự chắc chắn tàn nhẫn của cây thập giá, và ông diễn tả nó cũng tàn nhẫn không thua gì.

Và đây một tuần sau, đúng vào cùng ngày, Chúa Giêsu hiện đến với đầy đủ tang chứng đòi hỏi. Người hiện ra một ngày Chúa Nhật, không phải để tỏ dấu thích ngày đó, vốn sẽ thành Ngày của Người, song vì muốn hiện ra cho Tôma trong những hoàn cảnh in hệt lần đầu tiên. Như lần trước, mọi cửa đều đóng kín, như lần trước, người thình lình đến giữa họ, chào hỏi cũng với công thức: Bình an cho các con! Mọi cảnh đều được lặp lại Dầu giây phút hiện ra thế nào chăng nữa, Chúa Giêsu vẫn luôn là một. Không chờ câu trả lời, Người đến bên Tôma, và với một lối trả đũa đượm nét khôi hài, Người cho ông kiểm chứng lai lịch của Người, dẹp yên mối nghi ngại của ông và xin ông đừng cứng lòng tin, song hãy dần dần trở nên kẻ thành tín. Chúng tôi dịch: lè ginou ra: (đừng trở nên cứng tin, mặc dầu nhiều tác giả vẫn phản đối tiểu dị đó và dịch "đừng cứng tin, đừng có thái độ như người không tin". Thật vậy, từ khi Chúa Giêsu chết trên thập giá, Tôma dần dần trở nên người không tin. Thành ra ông phải từ từ đào sâu đức tin đầu tiên của mình lại. Niềm tin này phải được củng cố để trở nên một đức tin Kitô giáo trưởng thành; ông không được nằm lì nơi đức tin vào Đấng Messia, ông phải tin vào Con Người đã được tôn vinh trong cái chết.

Tôma rối loạn tâm thần! ông nói quá lố: gọi Chúa Giêsu là Thiên Chúa! Ta không tìm được chỗ nào trong Tin Mừng 4 một lời tuyên tín chấn động và rõ ràng hơn: Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi! Quả là một thành ngữ rất xứng đáng với vị thánh sử già nua (1Ga 5,20). Phải chăng Tôma đã phát biểu như vậy? Nhưng ai dám quả quyết rằng tôm, con người khô khan, hoàn toàn bối rối, đã không thể nào ăn nói trợt quá trực giác đức tin đầu tiên của ông được? Dầu sao, người ta có thể chấp nhận rằng việc quay đầu đột ngột từ sự tỉnh mộng thiên sai ác liệt nhất đến cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh đã có thể gợi hứng cho tôm một lời tuyên xưng hơi vượt quá sự nhận biết đơn thuần về Đấng Messia nơi ông. Đối với thánh sử, lời tuyên xưng tóm tắt trong vài chữ ấy thật hoàn toàn thích đáng.

Nhiều diễn giả và độc giả hiện đại thường lấy làm khoái được bôi nhọ Tôma, con người gieo rắc nghi nan ấy. Câu nói sau cùng của Chúa Giêsu được họ giải thích như là lời quở trách nặng nề đối với Tôma, lời quở trách mà những kẻ tin chân chính như họ thoát khỏi. Chúng ta đừng tưởng câu chuyện Tôma được giữ tại trong Tin Mừng với mục đích cho các thế hệ về sau cái thú phê phán kẻ khác. Thật ra, lời quở trách của Chúa Giêsu không quá ác độc. Các sứ đồ khác đã chẳng phải thấy mới tin đó sao? (Mt 28 ,7; Mc 16, 11- 13. 14; Lc 24, 11. 25. 38. 41). Lời áy của Người có lẽ cũng đượm nét khôi hài không kém cử chỉ phô bày vết thương. Người nói nó ra với một nụ cười; vì còn hơn một tiếng quở trách, đó là một lời hứa, một lời chúc, lời hứa đẹp nhất mà thánh sử có thể ngỏ với mọi độc giả của ông, dù họ thuộc thế kỷ nào: Phúc cho những ai không thấy mà tin! không một thế hệ Kitô hữu nào sẽ bị kém ưu đãi so vớt thế hệ đầu tiên. Dĩ nhiên, cần những chứng nhân
tận mắt, bởi vì chứng từ đức tin, dưới sự hướng dẫn cửa Thần khí (15, 26- 27), phải dựa tràn những sự kiện được dẫn chứng hợp cách. Song thực tại của việc Thiên Chúa hiện diện trong Chúa Giêsu (17, 17) tức là cái chân lý được chuyển thông bằng lời mặc khải (17,20) thì ban trực tiếp cho mọi người, tín hữu về sau cũng như chứng nhân của việc Sống lại. Tất cả họ đều ở trong cùng một tương quan đích thực và trực tiếp với Chúa Giêsu, và trong Chúa Giêsu, với Chúa Cha (17, 21); họ không sống những cuộc hiện ra của Đấng Phục sinh, tuy nhiên trong đức tin họ vẫn thấy Người sống (14, 19; 16, 16-20). Phúc cho ai lời cầu chúc Chúa Giêsu ngỏ với họ không phải chỉ là một lời khuyến khích hãy tin dù sao cũng mặc, nhưng thật là một lời cầu chúc hạnh phúc, vì người xác nhận rằng trong đức tin, họ sẽ có thể thấy Người và đến gần Người (1 Pr 1, 8-9).

3. KẾT LUẬN CỦA TIN MỪNG GIOAN (20, 30- 31)

Nhiều dấu lạ khác nữa... Khi đặt bút kết thúc tác phẩm, Gioan biết rõ rằng nó chưa chấm dứt. Hỏi đời nào ta viết cạn ý một cuốn sách? Hay hơn nữa, có bao giờ ta minh chứng trọn vẹn đức tin của mình? Chính Chúa Giêsu cũng đã bảo trong diễn từ giã biệt: Ta còn nhiều tiều phải nói lưới các con... (16, 12). Theo gương Chúa Giêsu, Đấng tràn trề ao ước mặc khải Chúa Cha cho thế gian thế gian với tâm trí quá hẹp hòi hay đúng hơn với tâm hồn quá tự mãn khó có thể đón nhận đức Gioan nóng lòng trình bày cho độc giả cơn người của Chúa Giêsu trong chiều kích thật sự của Người, một con người gây nhiều ngạc nhiên vì là thần linh. Gioan có cảm tưởng tác phẩm của mình chỉ là một bức tượng bán thân. Chẳng những vì ông không nói hết: thật ra còn nhiều dấu lạ khác... (x.Hc 43,27 , 1 Mcb 9,22), nhưng nhất là vì trình thuật không bao giờ có thể trình bày đủ.

Rốt cục, ông có thể làm gì nếu không phải là thuật lại các dấu chỉ? Chúng ta hãy nhớ lại những dấu chỉ có tính cách thiên sai của phần đầu trong đời công khai (Ga 2- 4). Ở đây quan niệm được mở rộng ra. Nó bao gồm những phép lạ dấu chỉ và công việc, 12, 37) cũng như những lời nói và cả cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Lời nói và phép lạ luôn đi đôi với nhau, tạo nên một khối (12, 38); cả hai soi sáng cho nhau, vì phép lạ và lời nói chỉ là những dấu chỉ nói lên con người siêu nhiên của Chúa Giêsu. Người ta có thể chỉ dừng lại nơi những biểu lộ bề ngoài và kêu lên: phi thượng thay, những phép lạ đó ý nghĩa tôn giáo sâu xa thay, những lời nói của Người!". Bao lâu phép lạ và lời nói không gợi được cho độc giả con người bên trong của Chúa Giêsu, bấy lâu chúng không đạt được mục đích. Thánh sử, với tư cách là tín hữu đích thực và văn sĩ sáng suốt, biết chắc rằng thực tại vượt xa ngàn trùng vi hình ảnh được diễn tả. Vì thế ông tha thiết kêu xin độc giả phải xuyên qua dấu chỉ và đi đến sự vật được dấu chỉ diễn tả, như ông đã làm dưới ánh sáng của Thần khí.

Độc giả cần phải có đức tin. Tin Mừng không được viết ra như một lời biện hộ gởi đến người không tin; trong trường hợp này, thánh sử có lẽ chứng tỏ mình thiếu chiến thuật. Thật vậy cho dù dán mắt vào các sự kiện, ông không quan sát chúng trên phương diện thuần lý, nhưng dưới ánh sáng của đức tin do Thần khí khơi dậy và soi sáng. Gioan viết cho các Kitô hữu đã tin, nhưng ông báo cho biết không bao giờ họ đi đến mút cùng đời sống đức tin của họ đâu. Dấu chỉ luôn bao hàm một thực thể không bao giờ tát cạn đối với ai muốn tin nhiều hơn. Đi từ lòng tin vào tính cách thiên sai của Chúa Giêsu, tính cách đã được làm nổi bật trong phần dầu của Tin Mừng (Ga 2- 4) và được củng cố do phản án.g đức tin đầu tiên của cộng đoàn Kitô hữu (vd Cv 2, 36), người Kitô hữu phải đi sâu vào lòng tin vào tử hệ thần linh của Chúa Giêsu, mối tử hệ được mặc khải rõ ràng vào Giờ tôn vinh. Và đức tin càng đào sâu thì sự sống thần linh và không thể phá hủy cành được trao ban nhờ danh - hay con người - Chúa Giêsu. Vì Chúa Cha đã ban cho Chúa Giêsu danh Ngài (17, 11-12) đồng thời cả quyền thông sự sống vĩnh cửu (Ga 5, 26- 40; 6, 53; 10, 10; 17, 2). Ai tin vào danh Chúa Giêsu thì nhờ Người sẽ được sống muôn đời (1, 12; 3 , 15- 18; 12, 50; 1Ga 5, 13). không Tin Mừng không thể chấm dứt: là một tuyển tập các dấu chỉ, Tin Mừng vẫn còn là như vậy bao lâu lòng tin của độc giả chưa đạt đến đích. Và đích này khi nào sẽ đạt được? Khi người tín hữu thấy được vinh quang của Chúa Giêsu mà Chúa Cha ban cho Người khi Người trở về cùng Cha, thứ vinh quang thần linh đã hiện hữu trước mọi thời gian (17, 24).

(H. van den Bussche, Jean. Paris DDB, 1967. Tr 549- 556)

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

Bài Tin Mừng hôm nay thật súc tích; nó gợi lên cho ta ba điểm then chốt: nhấn mạnh ý nghĩa cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, biểu lộ sứ mệnh của Giáo Hội đã ghi khắc trong chiến thắng Phục sinh, và suy nghĩ về sự chậm tin.

a. Chúa Giêsu sống: các môn đồ đã gặp lại Chúa Giêsu đang sống. Tin Mừng không ghi lại chính biến cố phục sinh, và các trình thuật hiện ra cũng rất ngắn gọn. Đây là một lời mời gọi đi thẳng vào điểm chủ yếu: hôm nay, Chúa Giêsu đang sống. Người đang hiện diện trong đời ta. Cũng như ngày trước, hôm nay Người cũng có thể vượt qua các bức tường ta đang ẩn úp bên trong, để hiện ra với ta. Đặc biệt trong hy tế tạ ơn ngày Chúa Nhật, trong lòng cộng đồng tín hữu đang tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu chết và sống lại, đang sống hôm nay, vừa đang hiện diện. Lời Người đang vang dội bên tai ta trong lòng Giáo hội đang họp nhau.

b. Sứ mệnh của Giáo Hội: Cuộc gặp gỡ với Chúa hằng sống là nguồn mọi sinh động. Tin là tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội. Nhưng việc này không phải là một việc thuần nhân loại. Ta hãy tự hỏi mình có phải là tín hữu không? Mọi công việc ta làm có được thúc đẩy bởi Thần khí của Chúa Kitô không. Niềm vui cũng biểu thị đời sống của những kẻ đã gặp Chúa Kitô trong niềm tin. Không phải là một niềm vui dễ dãi chẳng biết đến gian nan thử thách, nhưng là niềm vui của đức tin, cắm chặt trong chiến thắng Phục sinh của Chúa Kitô.

c. Phát tnển đức tin: Tin không phải chỉ một lần. Đức tin là một cuộc sống. Mà sống là phải triển nở, lớn lên; mọi hữu thể sống động cần phải được bồi dưỡng bằng một thức ăn thích hợp. Làm sao trở nên sứ giả của Chúa Giêsu nếu mỗi ngày không cố gắng sống đời môn đồ Người? Sự kiện cả những kẻ thân cận của Chúa Giêsu cũng đã chậm tin không phải là một khích lệ cho ta sao? Ta thường hay tìm cách biện minh, tìm các dấu chỉ khả giác, kết quả..

2. Tin Mừng Gioan được gọi là Tin Mừng về các dấu chỉ: Chúa Kitô bắt đầu cuộc sống công khai của Người bằng dấu chỉ đầu tiên (nước biến thành rượu ở Cana xứ Galilê) và lời nói cuối cùng của Người là: "Phúc cho những ai không thấy mà tin" (Ga 20,29). Gioan nói thêm: "... Còn nhiều dấu chỉ khác nữa,... các điều đã viết đây là để anh em tin". Do đó, Tin Mừng Gioan đã tuyển tập các dấu chỉ của Chúa Kitô, kèm theo các diễn từ giải thích chúng, để cho thấy Chúa Giêsu là Đấng Messia và là Con Thiên Chúa, và để khơi dậy niềm tin, một niềm tin ban sự sống trong Ngươi? (Max Thurian). Vì thế Kitô hữu không chỉ mê say với các điều kỳ diệu trong Tin Mừng mà còn phải ham thích lời giải nghĩa cấc điều kỳ diệu đó. Chúa Giêsu Phục sinh minh nhiên hiện đến với tôm là kẻ đã nói: "Nếu tôi không thấy Người, tôi sẽ không tin", nhưng chính vì Tôma và nhất là vì chúng ta mà Chúa Giêsu tuyên bố: "Phúc cho những ai không thấy mà tin".

3. Điều cốt yếu thì vô hình đối với con mắt" (Saint- Exupéry). Câu này đúng với thế giới duy vật của ta. Phải có các dấu chỉ về điều cốt yếu vô hình đó; chúng ta là những hữu thể có xác phàm, những hữu thể vật chất, nhưng cũng là những hữu thể tinh thần, tâm linh: xuyên qua các dấu chỉ vật chất, ta khám phá ra tình huynh đệ sâu đậm, tình yêu thương chân thành đang tự hiến cho ta.

4. Ta có tin vào các dấu chỉ không? Ta có tin rằng Tin Mừng giúp ta biết rõ các sự kiện để ta' "nhận ra chúng" nhờ Thánh Thần mà Chúa Giêsu ban cho ta không? Ta có biết khám phá ra các dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đang hiện diện trong đời ta không?

5. Thánh Thể là một trong những dấu chỉ đặc biệt nói lên sự hiện diện của Chúa Kitô. Vì sao phép Thánh Thể ít hiệu lực đối với ta? Thưa vì ta thường hay dừng lại giữa đường: ta ít khi nhận biết Chúa Kitô đang ở đó như một Đấng sống động, một ngôi vị sinh động mà ngày hôm nay đang tự hiến cho Chúa Cha và cho ta... Ta không chịu đọc các dấu chỉ...


 
Noel Quession - Chú Giải

Vào chiều hôm ấy, ngày thứ nhất trong tuần... các môn đệ khi đó tụ tập lại... Tám ngày sau, các môn đệ lại ở trong nhà...

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta hai sự hiện tỏ của Đức Giêsu đã sống lại, cách khoảng 8 ngày. Một cách tự nhiên, chúng ta có xu hướng tập trung chú ý vào cuộc hiện ra lần thứ hai, đó là với Tôma... bởi vì chúng ta thường khi tự động hóa mình với ông, và tìm được một giải pháp thực tiễn là có dưới tay mình một người nào đó hoài nghi, một người nào đó khó tin... và tìm ra được nơi ông một thứ biện minh cho sự thiếu lòng tin của chính chúng ta.

Nhưng những sự thông đồng của chúng ta với Tôma không ngăn chúng ta đọc toàn thể văn bản. Trước hết chúng ta lưu ý rằng Đức Giêsu hằng sống hiện ra, chuyện đó có phải tình cờ không? Vào Chúa nhật. Ngày thứ nhất trong tuần. Chúng ta biết rất rõ những Kitô hữu ban đầu không họp nhau mỗi ngày đâu. Chính họ, họ cũng có cuộc sống hằng ngày của mình. Họ không thể luôn luôn ở với nhau được. Vì thế, chính trong khuôn khổ cuộc gặp gỡ hằng tuần của họ, mà Đức Giêsu sống lại đến thăm. Chúng ta có thể sai lầm khi nghĩ rằng đức tin là một công việc có nhiều tính cách riêng tư hay cá nhân: chúng ta nhận thấy rằng sự hiện diện của Đức Kitô sống lại chủ yếu được người ta thử nghiệm, nhận biết, cảm thấy trong khuôn khổ một cuộc gặp gỡ cộng đoàn. Họ ở với nhau,...hội họp lại... trong Giáo Hội.

Các môn đệ đã gài chốt các cửa nơi họ ở, bởi vì họ sợ. Đức Giêsu hiện đến và ở giữa họ.

Khi thánh Gioan viết điều đó, thì lúc ấy luôn luôn là thời gian sợ hãi và bách hại. Các môn đệ của Chúa Giêsu có thói quen khi hội họp ở nhà người này, khi ở nhà kia. Họ đón tiếp nhau... Họ tin cậy nhau. Có những vụ bỏ cuộc, những người bỏ đức tin và nhóm... Họ cũng sợ... Họ cài chốt các cửa lại. Nhưng ở mỗi Chúa nhật, dấu chỉ của phòng tiệc ly được làm lại, Chúa nhật đầu tiên này: một cách huyền nhiệm, Đức Kitô lẻn vào giữa những người thân của Người, tại nơi họ đang ở: E-phê-sô, Cô-rin-tô, Giêrusalem, Roma. Vâng, mỗi Chúa nhật, chính là lễ Phục sinh! Chúa ở đó, ngay giữa cuộc đời chúng con, và chính Chúa đã làm cho chúng con được sống... Không thấy Chúa, chúng con vẫn tin.

Lạy Chúa hôm nay, chúng con cũng bị cám dỗ cài chết cữa nhà một cách sợ hãi. Khi Thần Khí thổi vào, chớ chi các bức tường trong nhà tù của chúng con sập đổ, chớ chi thời giờ ca hát của chúng con trở lại: Chúng ta hãy mở cửa nhà chúng ta cho Đức Kitô sống lại!

Trước khi đi xa hớn trong cuộc suy niệm Tin Mừng này chúng ta hãy xin Đức Kitô, để giải thoát chúng ta, làm cho chúng ta sống lại khỏi tình huống chết chóc nào. Như tội lỗi, như thử thách về sức khỏe, như những gò bó đau đớn và tuyệt vọng, như khó khăn gia đình và nghề nghiệp... Nơi mà ở đó họ đã gài then cửa!

Người nói với họ: "Bình an cho anh em!".Nói xong Người cho họ xem bàn tay và cạnh sườn Người. Các môn đệ tràn ngập vui mừng khi thấy Chúa. Đức Giêsu lại nói với họ: "Bình an cho anh em!"

Niềm vui Phục sinh, niềm vui Kitô giáo trước hết không phải là một niềm vui dễ dãi, niềm vui tự phát, thứ niềm vui nâng chúng ta lên cao khi mọi chuyện xuông xẻ, khi sức khỏe được tốt lành, tuổi trẻ ở đó đầy sức sống, khi các doanh nghiệp của chúng ta thành công, khi các quan hệ bạn bè và gia đinh được dễ chịu. Niềm vui Phục sinh, chính là niềm vui đến sau sợ hãi! Đó là niềm vui và sự bình an đi trở lên từ một tinh huống về cơ bản là thất vọng (cái chết của một Đấng bị đóng đinh) mà không gì có thể tước đoạt được! Đó là niềm vui và sự bình an đến từ lòng tin vào Đức Giêsu, ở mỗi cuộc hội họp Chúa nhật, giống như ngày đó, Đức Giêsu nguyện chúc sự bình an qua tiếng nói của vị linh mục: "Bình an cho anh chị em!". Và Công đồng Vatican II đã lập lại truyền thống xưa "hôn bình an: các Kitô hữu được mời ban bình an cho nhau, nhân danh Đức Kitô. Trao cho nhau một cái bát tay, ôm lấy nhau, mỉm cười với nhau, trong khi vừa chúc với nhau: Bình an Đức Kitô. Đó không phải là một cử chỉ tầm thướng... chính là "trở nên Đức Kitô" với người gần ta..., khi nhiều người họp nhau lại nhân danh Ta. Ta sẽ ở giữa họ.

"Như Chúa Cha đã sai Thầy. Thầy cũng sai anh em.."

Đấy! Chúng ta không tin là nói quá tốt như thế!chính Đức Kitô nói lại với chúng ta... Tôi, người đàn ông đáng thương người đàn bà đáng thương, tôi là "Giêsu" được sai đến cùng anh em tôi... đúng như Người đã được Cha mình sai đi. Ta đừng đi quá nhanh trên các từ này. Ta đừng đi quá nhanh để bắt kịp Tôma, người cứng lòng tin. Hãy nán lại trên các từ về Đức Giêsu. Chúng ta hãy nghe trách nhiệm cao vời mà Người trao cho chúng ta: "sứ mệnh" của Đức Kitô được trao cho Giáo Hội, cho tôi, một phần. Tôi được Đức Giêsu sai đi... như Đức Giêsu đã được Cha sai đi! Tôi còn phải khám phá ra ý nghĩa của hai từ này, thêm một lần nữa, đó là những từ Latinh và Hy Lạp không được dịch ra, hỡi ôi. "Sứ mệnh" có nghĩa "sự sai đi" (từ missus trong Latinh)... và "tông đồ có nghĩa là "người được sai đi" (từ Apostolos trong tiếng Hy Lạp)...

Khi tôi gặp gỡ một người nào, trong công việc của tôi, trong môi trường cuộc cống của tôi, tôi không ở đó chỉ nhân danh riêng tôi, vì lợi ích của tôi: Tôi được Đức Giêsu sai đến đó nhân danh Người, vì lợi ích của chính Người! Như Đức Giêsu đã được Cha Người sai đi! Tôi còn phải nói với một sứ điệp của Đức Giêsu: chính Người nói cho bạn biết điều mà tôi sắp nói với bạn... người đang sống trong tôi là đôi môi và thân xác của Người, ở gần với Người, để tỏ ra cho bạn tình yêu của Chúa Cha.

Khi đã nói xong. Người thổi hơi trên họ và Người nói với các ông: "Anh em nhận lấy Thánh Thần".

Ơn huệ của Thánh Thần, sự sáng tạo mới... Thần Khí của Đức Giêsu được truyền đạt cho các môn đệ của Người. Đức Giêsu đã chết, "trở lại cùng với Cha". Nhưng người Kitô hữu nhận lấy đà tiếp sức! Họ là những người mang hơi thở đầy sinh lực và Thần Khí Người... họ đi theo công trình của Người: Thánh Phaolô sẽ nói: "Anh em là Thân thể Đức Ki- tô, anh em là Đền Thờ của Thánh Thần. Thánh Gioan, chính ông cho chúng ta thấy, vì lợi ích chính mình, Đức Giêsu lập lại cử chỉ của Thiên Chúa Sáng Tạo trong sách Sáng Thế (St 2,7): "Lạy Thần Khí Sáng Tạo, xin hãy đến (Veni, Creator Spintua)".

Đối với Gioan, Lễ Hiện Xuống, chính là buổi chiều ngày Lễ PS cái chính yếu trong hoạt động của Đức Giêsu sau khi Người chiến thắng cái chết, chính là ơn huệ của Chúa Thánh Thần, Người đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ trong những kẻ chết (Rm 8,11). Trong kinh Tin Kính, đó là điều mà chúng ta khẳng định một cách chính yếu về Chúa Thánh Thần: Ngài là Đức Chúa, và Ngài ban sự sống. Thánh Thần được ban cho con người ngay chính chiều ngày Phục sinh, và Ngài sẽ tỏa sáng rực rỡ trên công trường năm mươi ngày sau, vào ngày lễ Hiện Xuống, chính cùng một Thánh Thần này, vừa mới thành công một đòn bậc Thầy nếu ta cấm nói như thế, bằng cách kéo Đức Giêsu khỏi sự chết, đồng thời mạc khải Người là Con Thiên Chúa nhờ sự Phục sinh. "Nhờ sự Phục Sinh Người được lập là Con Thiên Chúa theo Chúa Thánh Thần".

"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha.."

Trói buộc, và tháo gỡ, tha thứ và cầm buộc... các tội lỗi. Lời lẽ này là một công thức ngữ pháp aramên: người ta dùng hai từ trái nghĩa để khẳng định mạnh mẽ hơn nữa một thực tại, và nhấn mạnh lên từ "tích cực". Vì thế, khi ban cho họ Thần Khí của Người, Đức Giêsu cũng ban cho các môn đệ của Người quyền tháo gỡ con người khỏi sự xấu của mình: Từ nay, trên trần gian này, họ là những người mang theo lòng thương xót của Thiên Chúa... như Đức Giêsu khi trước: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em". Các Kitô hữu được mặc lấy sứ mệnh mà chính Đức Giêsu đã nói là của Người, trong giáo đường Na-da-rét, đầu tác vụ của Người: Thần Khí Thiên Chúa ngự trên tôi, Thần Khí Thiên Chúa đã thánh hóa tôi. Người đã sai tôi đi mang Tin Mừng cho người nghèo khó, loan báo một năm hồng ân do bởi Thiên Chúa, giải thoát những người tù đầy " (Lc 4,18-19). Tôi có phải là người mang tinh thần đó, Thần Khí giải phóng, của Thần Khí ban sự sống, của Thần Khí yêu thương, và tha thứ nhân danh Đức Giêsu không? Sự tha thứ là một ân huệ Phục sinh.

Một trong Nhóm Mười Hai, Tôma, lúc đó không ở với các ông, khi Đức Giêsu hiện đến... ông tuyên bố: "Nếu tôi không thấy... tôi sẽ không tin..."

Đấy là "người đến trễ, đến sau cuộc lễ Gặp gỡ. Tôma, luôn luôn, trong Tin Mừng, là người chỉ tin vào lương tri của mình, con người tích cực ngờ vực những hành vi táo bạo của Đức Giêsu. "Lạy Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu" (Ga 14,15). Khi Đức Giêsu nói về sự sống lại của La-da-rô, thì chính Tôma chỉ thấy sự chết (Ga11,15-16).

Tám ngày sau... Đức Giêsu lại đến: "Đặt ngón tay anh vào đây, hãy xem tay Thầy, đừng cứng lòng tin nữa..."

Đức Giêsu, dù đã sống lại, vẫn có tính khôi hài? Người đã để cho Tôma, bên ngoài, xem ra có lý trong một tuần. Chính với một cách mỉm cười mà tôi đã xem Đức Giêsu nói thẳng với Tôma. Đức Giêsu như có vẻ nói với ông: Anh bạn đáng thương của tôi ơi, bạn đã tưởng tôi chết, và vắng mặt, khi bạn nói với các bạn khác, bảo với họ là bạn không tin... nhưng tôi vẫn ở đó, vô hình, có nghe chuyện bạn nói. Dẫu vậy, tôi không tỏ mình cho bạn lúc đó. Ôi! Sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Người luôn có tất cả thời gian của Người.

Tôma nói: "Lạy Chúa của con và Thiên Chúa của con".

Đó chính là tiếng kêu đức tin của một người mà đối với anh ta, sự đụng chạm cũng thành vô ích. Anh ta đã hiểu rằng Đức Giêsu, dù vồ hình, vẩn có ở đó. Ngay giờ phút ông hoài nghi, thì Người cũng có mặt ở đó.

Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những ai không thấy mà tin.

Một mối phúc thật, mối phúc cuối cùng. Người ta không thể trông thấy những thực tại cao cả nhất của Thiên Chúa. Chỉ có đức tin mới đưa chúng ta tới đó. Đó chính là hạnh phúc đích thực.


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến "


Bài Tin Mừng hôm nay chung cho cả ba năm, nên phần suy niệm chi tiết xin xem lại những năm B và C. Ở đây chỉ thêm vài chi tiết có tính cách thực hành.

1 / Khi sống lại Chúa Giêsu đã cho các môn đệ một chứng cớ có tính cách tiêu cực về sự sống lại, đó là ngôi mộ trống. Nhưng các môn đệ, ngoại trừ Gioan ( Ga 20, 8 ) vẫn chưa sáng mắt ra. Vì thế Chúa lại cho các ông một bằng chứng hữu hình nữa, những tích cực hơn đó là việc Chúa hiện ra với chính các ông. Lần thứ nhất hiện ra không có mặt Tôma, nhưng tám ngày sau Chúa hiện lần thứ hai và có mặt Tôma ( Ga 20, 19 - 31 ) kể từ đó tất cả các môn đệ đều tin vào Chúa Giêsu phục sinh, mà Tôma là môn đệ cuối cùng tin Chúa sống lại. Tuy Chúa sẵn sàng thoả mãn những đòi hỏi của các môn đệ, nhưng bao giờ Ngài cũng muốn nâng các ông lên cao hơn " Phúc cho những ai không thấy mà tin". Lời hứa này của Chúa Giêsu cho chúng ta nhận ra rằng không một thế hệ Kitô hữu nào sẽ kém ưu ái so với thế hệ đầu tiên. Vì thế chúng ta cảm nghiệm được rằng trong đức tin, chúng ta có thể thấy Chúa và đến gần Người. ( 1 Pr 1, 8 - 9 ).

2 / Việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở đây cho thấy rằng các môn đệ đã gặp lại Chúa Giêsu đang sống. Điều này cũng có nghĩa với chúng ta rằng: hôm nay Chúa Giêsu đang sống và vì vậy Chúa Giêsu đang hiện diện với ta. Cũng như các môn đệ đang họp trong căn phòng đóng kín, hôm nay Chúa Giêsu cũng có thể vượt qua các bức tường và đang ẩn núp bên trong, để hiện ra với chúng ta bằng muôn cách thức khác nhau. Ta có tin và nhận ra như vậy không?

3 / Chúa Giêsu thường tỏ mình ra qua các dấu chỉ:

Chúa Giêsu bắt đầu cuộc sống công khai của Người bằng dấu chỉ đầu tiên: nước biến thành rượu ở tiệc cưới Cana Galilê.
- Và lời nói cuối cùng của Ngài là: " Phúc cho ai không thấy mà tin" ( Ga 20, 29 ).

Vì thế người Kitô hữu chúng ta không chỉ mê say những điều kỳ diệu trong Tin Mừng mà còn phải ham thích những lời giải nghĩa các điều kỳ diệu đó nữa. Qua việc chăm chỉ tiếp xúc với Lời Chúa, chúng ta dễ làm quen với việc đọc ra các dấu chỉ của Chúa trong các biến cố của đời sống... Hãy tin vào Tôma. Ông thấy dấu chỉ khả giác " Hãy sỏ ngón tay con vào đây, hãy xem tay Thầy..." ông đã nhận ra thực tại với hình mà con mắt xác thịt của ông không thể thấy được, đó là thiên tính của Chúa Giêsu: " Lạy Chúa tôi! lạy Thiên Chúa của tôi! ". Hãy nhìn vào Gioan " Ông thấy và ông tin". Qua ngôi mộ trống ông tin vào việc Chúa phục sinh ( Ga 20, 1 - 19 ).

4 / Qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta nhận thấy Chúa Giêsu hiền lành và kiên nhẫn trong việc giáo dục đức tin, thì chúng ta cũng phải kiên nhẫn trong việc đón nhận đức tin, việc chúng ta kiên nhẫn sống đức tin hàng ngày. Vì " Đức tin không có việc làm là đức tin chết" ( Gc 2, 17 ).

5 / Chúa Giêsu đến trao cho các môn đệ sứ mệnh mà Chúa Cha đã trao phó cho Người: " Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Ơn gọi của các môn đệ dập theo khuôn mẫu ơn gọi của Chúa Giêsu. Điều này đòi hởi chúng ta muốn sống trọn vẹn ơn gọi của mình thì phải biết chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu Cứu Thế và đón nghe lời Ngài mỗi ngày.

6 / Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn Người. Việc này cho thấy sự liên lạc giữa thân xác Chúa đã chịu khổ nạn và thân xác đã phục sinh, hay việc phục sinh không thể tách rời việc chịu khổ nạn. Và vì vậy việc phục sinh giả thiết phải có Thập giá. Điều này đòi hỏi chúng ta phải làm mới có ăn, có khó mới có công, có chịu khổ nạn như Chúa mới được phục sinh như Người. Vì vậy niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh là động lực thúc đẩy ta vui nhận mọi hy sinh trong đời sống hàng ngày.


 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Dấu chân của thiên chúa

Nhiều năm trước đây có một nhà bác học vượt qua sa mạc với mấy người Ả-rập thông thạo dẩn đường. Nhà bác học để ý thấy cứ chiều đến, khi hàong hôn sắp lặn sau bãi cát mênh mông vô tận, thì những người Ả-rập cùng đi đường đều dừng lại trải chiếu trên cát, mặt hướng về mặt trời chắp tay cầu nguyện. Nhà bác học hỏi: - Các ông làm gì vậy?

Họ thản nhiên trả lời không chút do dự: Chúng tôi sấp mình thờ lạy và cầu nguyện cùng Allah là Thiên Chúa của chúng tôi.
Nhà bác học hỏi lại một cách mĩa mai: - Vậy chứ các ông đã thấy Chúa bao giờ chưa? Có sờ tay đụng tới Ngài chưa? Hoặc đã nghe thấy tiếng của Ngài khi nào chưa?

Hướng dẫn viên Ả-rập mịm cười đáp lại: - Chưa, thực ra chúng tôi chưa hề mắt thấy tai nghe tiếng Chúa bao giờ cả.

Nhà bác học sửng sốt lên giọng: - Các ông thực là những người điên, các ông mù quáng sấp mìng thờ lạy một Chúa mà các ông chưa hề xem thấy hoặc tai chưa hề nghe tiếng Ngài.

Hướng dẫn viên Ả-rập giữ im lặng không đáp lại lời nào hết.

Sáng hôm sau, mặt trời chưa ló dạng, nhà bác học đã thức dậy, bước ra khỏi lều và nói với hướng dẫn viên: - Ông hãy nhìn xem, chắc chắn là tối hôm qua có con lạc đà nào đã đi qua đây rồi.

Một tia sáng đầy hy vọng và vui mừng lóe lên trong ánh mắt hướng dẫn viên. Ông cất tiếng hỏi nhà bác học những câu hỏi liên tiếp:

-Vậy thì chắc là ông đã thấy lạc đà đi ngang qua đây tối hôm qua chứ? Hoặc là tay ông đã sờ tới lông nó đang lúc ông ngủ chăng?

Nhà bác học thật thà đáp lại: - Không, tối hôm qua tôi ngủ ngon, đâu có thấy lạc đà và cũng không sờ tới lông nó.

Hướng dẫn viên nói: - Vậy thì ông cũng chẳng khác gì người điên. Ông quả quyết là lạc đà đã đi ngang qua đây tối hôm qua, trong khi ông lại nói là mắt ông không thấy, tai ông cũng không nghe tiếng chân lạc đà.

Nhà bác học cương quyết cãi lại: - Nhưng đây là bằng chứng rõ ràng: ông không trông thấy dấu chân lạc đà còn y nguyên trên mặt cát hay sao?

Cùng lúc đó, mặt trời từ từ ló rạng kéo dài những tia sáng rực rở trên mặt cát bao la. Huóng dẩn viên Ả- rập giang tay trịnh trọng tuyên bố;Này ông bạn của tôi ơi! Ông hãy nhìn xem mặt trời và những tia sáng rực rỡ huy hoàng kia, đó chính là dấu chân huy hoàng của thiên Chúa, Chúa chúng tôi tôn thờ.

Anh chị em thân mến,

Chúa GiêSu phục sinh đã nói với ông Tôma: "Phúc cho ai không thấy mà tin". Thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học. Đời sống được xây dựng trên khoa học, được hướng dẫn bởi khoa học, được đánh giá bằng khoa học.Cái gì cũng phải có khoa học. Mà khoa học thì phải chính xác, rõ ràng, có thể phân tích, mổ xẻ kiểm nghiệm được. Tinh thần khoa học thực nghiệm đó được áp dụng vào mọi lãnh vực, kể cả tôn giáo. Người ta nhân danh khoa học mà phê phán tôn giáo. Cái gì có tính khoa học,kiểm nghiểm được mới đáng tin, ngoài ra là vấn đề tình cảm, cuồng tín, mê tín. Thái độ phê phán và não trạng thực nghiệm của con người thời nay không kác bao nhiêu so với tâm tính thực nghiệm và cứng rắn của tông đồ Tôma thời xưa trong câu chuyện tin mừng hôm nay:

Nghe các bạn kể lại: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa phục sinh", ông Tôma vẫn không tin. Ông muốn tin dựa vào kinh nghiệm giác quan, chứ không phải dựa trên các chứng từ Chúa Giêsu đãsẵn sàng đáp ứng và thõa mãn nguyện vọng của ông. Ngài đã hiện ra và bảo ông: "Tôma, hãy đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy… Hãy đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy". Đồng thời Chúa Giêsu cũng mời gọi ông: "Đừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin…" Không những tin vì đã thấy mà còn phải tiến đến chổ tin cho dù không được thấy. Dựa vào Lời Chúa, ông Tôma đã tin mà không cần kiểm chứng nữa. Lúc ấy, Chúa Giêsu mới mạc khải chân lý này: "Ai không thấy mà tin mới là người có phúc".

Thưa anh chị em,

"Ai không thấy mà tin mới là người có phúc". Lời này như đựơc ngỏ với chúng ta, những nguời tín hữu Kitô hôm nay mà lòng tin dựa trên chứng từ của các tông đồ, chứ không dựa vào kinh nghiệm giác quan: sống cách xa biến cố Chúa phục sinh gần 2000 năm, chúng ta hãy khiêm tốn lãnh nhận đức tin. Tin nơi Tháng Kinh, tin nơi Giáo Hội, những bảo chứng đáng tin nhất không còn cách nào khác. Với ơn đức tin, Chúng ta có thể gặp Chúa và tiếp cận với Ngài. Đó là một hạnh phúc thật sự. Theo ý hướng đó, lời tuyên xưng của ông Tôma cũng phải là lời tuyên xưng đức tin của Hôi thánh, của mỗi người chúng ta vào Đức Kitô "Lạy Chúa là Thiên Chúa của con!"

Niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh thực sự đem lại cho người Kitô hữu một niềm hân hoan khôn tả, như Thánh Phêrô đã xác quyết: "Dù bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng anh em tin, nên anh em sẽ được vui mừng khôn tả, vì đã nắm chắc thành quả của đức tin anh em, là ơn cứu độ" (1Pr 1,9) Niềm hân hoan đó không chỉ lắng sâu trong tâm hồn, mà còn tràn ra bên ngoài trong cuộc đời của các Kitô hữu. Điển hình là niềm vui trong cuộc sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi: "Họ chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn sống với nhau trong tình huynh đệ, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng… tát cả các tín hữu, đều một lòng đoàn kết và để mọi sự làm của chung… Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn thể dân chúng mến thương. Và số người cứu độ gia nhập cộng đoàn ngày thêm đông" (Cv 2,42-47).

Anh chị em thân mến

Nếu Giáo Hội hôm nay có được cuộc sống như các tín hữu tiên khởi thì Giáo Hội lo sợ gì trước những tra vấn của khoa học. Chẳng những thế, Giáo Hội còn có khả năng cống hiến cho thời đại khoa học một lời chứng sống động, hùng hồn về hoạt đông của Đấng Phục Sinh trong lịch sử, ngang qua cuộc sống dấn thân của các Kitô hữu để đem lại tình yêu và sự sống cho anh em đồng loại.

Con đường của lòng tin chúng ta hôm nay là con đường của lòng mến. Càng yêu mến nhiều, càng tin chắc. Và những người có lòng mến Chúa thường không cần phải tin, mà họ thấy. Thánh Tôma, tiến sĩ cầu nguyện: "Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma, nhưng con tuyên xưngChúa là Chúa của con. Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông Chúa và yêu mến Chúa hơn nữa". Và có lẽ đó cũng là lời cầu xin của mỗi người tín hữu chúng ta, trong cuộc hành trìng đức tin trên trần thế này cho đến ngày được xuất hiện trong vinh quang với Đấng Phục Sinh./.


 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

SỐNG TRONG ANH EM

Trở nên con Thiên Chúa nhờ Bí tích Thánh tẩy, Kitô hữu - môn đệ của Đức Kitô - phải sống nơi anh em mình. Đó là điều tất nhiên. Không có sự hiệp thông huynh đệ, cộng đoàn Giáo hội sẽ suy sụp và tàn lụi như một thân xác không có linh hồn. Chiều kích hiệp thông có giá trị đặc biệt làm nên ý nghĩa cho thời đại chúng ta; là hoa trái của một niềm tin sâu xa.

Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện cho tình huynh đệ nơi Giáo hội sơ khai được tiếp tục triển nở trong Giáo hội, trong cộng đoàn và gia đình chúng ta.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Cv 2,42-47

Đời sống cộng đoàn nơi những Kitô hữu đầu tiên

Bài trích sách Tông đồ Công vụ phác họa một vài nét đặc sắc về cộng đoàn tín hữu tiên khởi ở Giêrusalem. Mọi thành viên chỉ có chung một trái tim, một tấm lòng, một linh hồn.

a. Trong sáu Chúa nhật Phục sinh, bài đọc I luôn luôn được trích từ sách Tông đồ Công vụ của Thánh Luca. Các bài đọc này làm sống lại thật sinh động đời sống của Giáo hội sơ khai.

b. Bản văn hôm nay cho chúng ta thấy ba góc độ liên kết với nhau trong cộng đoàn tiên khởi: giáo lý của các Tông đồ; tình hiệp thông huynh đệ và kinh nguyện phụng vụ.

c. Cộng đoàn tiên khởi là khuôn mẫu tình huynh đệ cho Kitô hữu hôm nay. Cần phải trở về nguồn; cần phải canh tân lại đời sống cộng đoàn theo khuôn mẫu Giáo hội sơ khai. Phải chăng đây chính là một đòi hỏi của Giáo hội hôm nay?

2. Bài đọc II: 1Pr 1,3-9

Sức mạnh và niềm vui từ đức tin

Trong niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh, Kitô hữu tìm được sức mạnh để sống trung thành và tìm được niềm vui sâu xa thấm đượm cuộc đời trước mọi thử thách khó khăn. Đó chính là bài học giá trị mà Thánh Phêrô khơi lên ngay đầu bức thư của ngài.

a. Cách chung, người ta cho rằng Thánh Phêrô viết lá thư này từ Rôma gửi cho các tín hữu ở Tiểu Á để củng cố đức tin và nâng đỡ họ trước những thử thách của cuộc bách hại.

b. Theo ý của Thiên Chúa, những khó khăn thử thách mà Kitô hữu phải đối diện hằng ngày nhằm thanh luyện và củng cố đức tin, đồng thời, cũng biểu lộ giá trị và vinh quang của Thiên Chúa.

c. Người môn đệ Đức Kitô Phục sinh, nhờ Bí tích Thánh tẩy cần phải định hình nhân cách theo ánh sáng đức tin; cần phải sống trong hy vọng về sự phục sinh của mình. Nhờ đó, vượt qua những khó khăn thử thách trăm chiều của cuộc đời.

3. Tin mừng: Ga 20,19-31

Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong nhà tiệc ly

Tin mừng Chúa nhật II Phục sinh hôm nay, kể lại hai lần hiện ra của Chúa Giêsu với các Tông đồ, đang qui tụ trong nhà tiệc ly. Lần đầu ngay chiều phục sinh; lần hai tám ngày sau.

a. Chiến thắng tất cả mọi sự giam hãm của thế gian, Chúa Giêsu đã phục sinh. Người hiện ra với các môn đệ để mang đến niềm vui và bình an cho các ông. Đồng thời, sai họ lên đường với sứ mạng thông truyền ơn cứu độ cho mọi người.

b. Sự cứng tin của Tôma là cơ hội để khơi lên đòi hỏi của đức tin nơi các môn đệ Đức Kitô. Tin là gắn bó với chính con người của Đức Kitô mà không cần phải đi tìm một chứng cứ xác thực nào như chính Chúa nói: "Phúc cho những ai không thấy mà tin".

c. Các Tông đồ qui tụ lại với nhau đón nhận Đức Kitô Phục sinh và nhận lãnh sứ mạng được sai đi. Đây là hình ảnh của một Giáo hội hiệp nhất: mọi người cùng liên đới, cùng chia sẻ và cùng gánh vác chung một niềm tin, một sứ mạng.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu Phục sinh, khơi nguồn sứ mạng của Giáo hội

Khi còn đang trên đường rao giảng công khai, Chúa Giêsu cũng đã sai các môn đệ đi loan báo Tin mừng. Tuy nhiên, xem ra những lần sai đi ấy chỉ mang tính cách huấn luyện nhiều hơn, vì Người vẫn đang trực tiếp thi hành sứ vụ. Hôm nay, sau khi phục sinh, Người đã hoàn tất công trình cứu độ Chúa Cha sai Người. Người chính thức sai các môn đệ lên đường. "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em". Sứ mạng bây giờ đã được chính thức trao phó cho các môn đệ, trao phó cho Giáo hội của Người. Chúa Giêsu ra đi, nhưng ơn cứu độ của Người vẫn còn phải tiếp tục được tuôn đổ trên muôn dân nước, phần việc đó bây giờ đã được trao lại cho Giáo hội. Chúa Giêsu Phục sinh hoàn tất công trình của Người để rồi khơi nguồn sứ mạng cho Giáo hội. Giáo hội tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu Phục sinh. Giáo hội không thay thế Chúa Giêsu nhưng thực thi sứ mạng trong quyền năng của Người, cùng với Người và nhờ Người. Hay nói cách khác, giờ đây Chúa Giêsu vẫn tiếp tục sứ mạng cứu độ của mình, nhưng Người thực hiện nơi nhiệm thể của mình là Giáo hội.

Mỗi Kitô hữu là thành phần của Giáo hội, thuộc về Giáo hội nên cũng chia sẻ cùng với toàn thể Giáo hội sứ mạng Chúa Giêsu trao phó theo đúng với khả năng và ơn gọi của mình. Không ai đứng bên lề sứ mạng, không có phần vụ gì của sứ mạng và không chịu trách nhiệm gì về sứ mạng này. Tất cả đều có trách nhiệm đưa ơn cứu độ, đưa niềm tin Chúa Giêsu Phục sinh cho con người và thời đại của mình.

2. Chúa Giêsu Phục sinh, một mầu nhiệm không dễ tin

Tin mừng hôm nay ghi lại chi tiết thú vị về Tôma, người đã không tin lời các bạn mình kể lại việc Thầy hiện ra. Chính vì thế mà ông đã mang danh là "kẻ cứng tin". Thực ra Tôma không phải là người cứng tin. Chính khi nhận ra Chúa Giêsu, ông đã thốt lên lời tuyên xưng mà các Tông đồ chưa ai tuyên xưng: "Lạy Chúa! Lạy Thiên Chúa của tôi". Đúng ra ông là người chậm tin hay là người thích những chứng cứ xác thực. Đó cũng là điều dễ hiểu đối với đòi hỏi của lý trí con người. Tuy nhiên, điều quan trọng mà Tin mừng nhấn mạnh là làm thế nào để phát triển niềm tin của mình vào Chúa Giêsu Phục sinh. Lời Chúa Giêsu đã nói với Tôma: "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin" là lời cầu chúc hạnh phúc, thứ hạnh phúc chỉ có nhờ đức tin. Tin không phải là một điều dễ dàng có ngay một lần mà là cả một cuộc sống. Tin cần được gieo, được chăm sóc để lớn lên. Việc học hỏi, sống Lời Chúa; việc gắn bó với Chúa Giêsu Thánh thể là những phương thế để phát triển đức tin của mình.

Đức tin của Kitô hữu hôm nay dựa trên nền tảng nào? Những việc tôn thờ Chúa như kinh kệ, lễ lạy có thực sự phát xuất từ niềm tin và giúp gia tăng niềm tin hay không? hay chỉ làm vì thói quen… máy móc…?

3. Chúa Giêsu Phục sinh đang hiện diện nơi nhân loại hôm nay:

Ngay sau chiều phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ. Và rồi sau đó lại còn nhiều lần hiện ra nữa. Tất cả những sự kiện này cho thấy, Chúa Giêsu luôn yêu mến, gần gũi với các môn đệ, với Giáo hội của mình. Sự hiện diện của Người sau khi sống lại là một sự hiện diện khác hẳn với sự hiện diện trước đó. Người đã vượt trên không gian và thời gian. Những giới hạn thể lý đã không còn chi phối được Người. Điều này cho phép chúng ta tin tưởng Người vẫn đang hiện diện giữa nhân loại chúng ta đây. Người đang sống, đang hiện diện nơi cuộc đời mỗi người, vẫn đang tiếp tục trao ban bình an và niềm vui cho cuộc đời. Người cũng có thể vượt qua những bức tường con người đang ẩn náu để gặp gỡ mọi người.

Sống niềm tin vào sự hiện diện của Chúa trong nhân loại, trong thế giới và trong chính bản thân sẽ mang lại niềm hy vọng, niềm vui sống. Con mắt đức tin của mỗi Kitô hữu cần phải sáng tỏ để nhận ra những dấu chỉ về sự hiện diện của Người giữa lòng đời hôm nay.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã phục sinh vinh hiển, Người vẫn đang sống và hiện diện trong cuộc sống này. Trong niềm hân hoan tin tưởng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Ngày nay Chúa Giêsu Phục sinh đang hiện diện nơi Lời của Người được công bố trong Giáo hội; nơi các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh thể Giáo hội hiến dâng và nơi đời sống của mọi thành phần trong Giáo hội. Chúng ta cùng cầu xin cho Giáo hội luôn là nơi mà con người và thế giới hôm nay gặp gỡ được Chúa Giêsu, Đấng Phục sinh.

2. Chúa Giêsu hôm nay vẫn đang sống và hiện diện nơi những con người đau khổ, bất hạnh, bần cùng trong xã hội. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người thành tâm thiện chí biết nhìn thấy Chúa nơi những anh chị em này để gia tăng tình yêu thương, sự nâng đỡ và lòng tôn trọng.

3. Tin vào Chúa Phục sinh đang sống và hiện diện là điều mang lại hạnh phúc như Chúa đã chúc: Phúc cho những ai đã không thấy mà tin. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, luôn tin tưởng gắn bó với Chúa để tìm được niềm vui sống.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu Phục sinh, chúng con vui mừng vì Chúa vẫn đang sống và hiện diện nơi cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con biết phát triển niềm tin và làm chứng cho niềm tin của mình bằng đời sống lạc quan, yêu đời và yêu tha nhân. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn