Clock-Time

Chú Giải Tịn Mừng - Chúa Nhật Lễ Thánh Gia Thất

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại biến cố Thánh - Gia - Thất lánh nạn sanh Ai Cập, một đàng nói lên sự quan phòng của Thiên Chúa và đàng khác nói lên Thánh Gia : Chúa Giêsu - Đức Maria - thánh Giuse tuân phục thánh ý Thiên Chúa .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH A

LỄ THÁNH GIA THẤT

 

 
(Mt 2, 13- 15. 19- 23)


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

TỪ BÊLEM VỀ NADARÉT

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Ai là nhân vật chính của giai thoại này: thánh Giuse? Đức Maria? Chúa Giêsu ? Tại sao ?

2. Hãy tìm trong Cựu ước các bản văn làm hậu cảnh cho trình . thuật này.

3: Hãy so sánh giai thoại này với Xh 2, 15 và 4, 19- 22. Có tương đồng nào giữa các từ ngữ được dùng và biến cố được thuật lại không? Phải chăng không có song đối kiểu mẫu giữa Môisen và Chúa Glêsu ? (x. Cv 7,29).

4. Mt đã làm cách nào để gởi lên một vài biến cố chính của lịch sử Israel và cho độc giả thấy rằng Chúa Giêsu tổng lược lại ơn gọi của dân tộc ấy?

5. Khi so sánh các bản văn Cựu ước mà Mt tham chiếu với câu trích đẫn ông đưa ra, ta thấy được gì? Kiểu chú giải của ông có được "lương thiện" không? Lập luận dựa trên Thánh Kinh của ông phải chăng chỉ liên hệ tới người Do thái? Phải nghĩ sao về lời trích dẫn ở câu 23, mà ta chẳng thấy đâu trong Cựu ước ?

6. Mt nhấn mạnh đến việc trốn sang Ai cập hay cuộc trở về từ Ai cập? Phải nghĩ sao về tiêu đề mà nhiều bản dịch Kinh Thánh gán cho đoạn văn này ?

7. Làm sao chứng minh theo lịch sử việc giết hại các thánh anh hài?

8. Đâu là lý do thần học của việc tường thuật câu chuyện tàn sát các hài nhi? Câu chuyện ấy ngày hôm nay còn có ý nghĩa cho chúng ta không ?

1. Văn thể và cơ cấu của đoạn 2, 13-23 làm cho nó thành một đơn vị văn' chương riêng. Mỗi một trong ba trình thuật hàm chứa ở đây đều khởi đầu bằng một đoạn tường thuật ngắn gọn nhưng long trọng, không chi tiết ly kỳ, và kết thúc với một suy tư về chủ đề: định mệnh Chúa Giêsu hoàn thành lời ngôn sứ. Các trình thuật ấy đều được kiểu thức hóa, giản lược vào cái chính yếu và thích nghi để' dạy giáo lý. Đối với Mt, cái quan trọng không phải là sự chính xác trong chi tiết tường thuật, song là ý tưởng sau đây: Chúa Giêsu đã hoàn thành mọi lời tiên báo. Nhưng dù các trình thuật ấy có được kiểu thức hóa và thấm nhuần suy tư thần học như thế, người ta cũng không nên kết luận chúng thuộc thần thoại ly kỳ ít nhất ta hãy ghi nhận: các sự kiện Mt tường thuật ó đây chẳng có gì lạ lùng khó tin cả: việc trốn sang Ai cập của các gia đình Do thái bị tình nghi, những hành vi bạo ngược bệnh hoạ.n của Hêrôđê,: việc định cư tại Galilê để tránh nạn kfl.ủng bố đang hoành hành trong vương quốc Arkhêlaô, tất cả đều tương ứng hoàn toàn với những gì chúng ta biết được về thời đại ấy. Tuy nhiên, qua các biến cố của phần này, Mt muốn minh giải một chủ đề ông ưa thích hơn là tìm cách tường thuật suông các sự việc. Chủ đề ấy là: chương trình của Thiên Chúa quan phòng được thực hiện không những dù gặp sự gian ác của con người (âm mưu của Hêrôđê), song còn nhờ sự gian ác đó nữa.

Trong phần này, Mt muốn đặt nổi ý tưởng: Đấng Messia bị dân mình khai trừ và bắt bớ. Phù hợp với quan niệm các giáo sĩ Do thái cho rằng thời cánh chung sẽ có một cuộc Xuất hành mới, ông nhìn thấy trong loạt biến cố này một cuộc Tân Xuất hành, tiên báo cuộc Xuất hành chung cục của lịch sử nhân loại mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện trong sứ vụ Người: một lần nữa, trẻ nít Do thái bị một ông qua tàn sát; song như Môisen được thu dấu và cứu thoát, Chúa Giêsu cũng được thoát nạn ; Thiên Chúa đã gọi Israel từ Ai cập về, bây giờ chính Chúa Giêsu, Israel mới, cũng đi ra khỏi Ai cập.

2. Vì vậy, trong biến cố đầu tiên kể lại đây, quan điểm của Mt chẳng phải là nói về cuộc trốn sang Ai cập, song là việc lời bỏ Ai cập trở về đất Islael. Quan điểm đó được nhấn mạnh bằng câu trích dẫn hô sê: "Từ Ai cập, Ta đã gọi con Ta về " (Hs 11, 1) Như thế, mục đích chính yếu của việc trốn sang Ai cập trở nên rõ ràng: Giavê đã làm cho hài nhi Giêsu biểu lộ được ơn gọi thiên sai của mình khi gọi Người ra khỏi Ai cập. Theo sách Xuất hành, người Hy bá đã được đặt làm dân Thiên Chúa, và được ơn thiên triệu trở nên segullah hay sở hữu của Thiên Chúa khi được gọi ra khỏi Ai cập. Bởi đó ngay sau khi đoàn người đến Sinai, Giavê đã phán với họ qua miệng Môisen rằng: "Từ nay, Ta sẽ làm cho các ngươi nên sở hữu đặc biệt của Ta giữa mọi dân tộc" (Xh 19,5). Cũng thế, khi ra khỏi Ai cập là Chúa Giêsu biểu lộ ơn gọi làm Tân Israel; vì vậy mà Giavê mới gọi Người là "Con yêu dấu " khi Người chịu rửa ở sông Giođanô.

3. Câu chuyện tàn sát các hài nhi ở Bêlem (cc. 16-18) là âm hưởng tự nhiên của việc các đạo sĩ đi tìm hài nhi "vua dân Do thái" (cc.7-8). Lần này, Hêrôđê xuất hiện như kẻ song đối với Pharaon, vị vua đã truyền giết các trẻ trai Israel trước thời Xuất hành (Xh 1, 15- 22). ở đây, câu chuyện có vẻ khó tin vì lẽ Hêrôđê dễ dàng tìm được ngôi nhà các đạo sĩ thăm viếng ở Bêlem; lời trích dẫn Gr 31, 15 cùng thể văn quá giản dị và long trọng của trình thuật hình như cho thấy đây là một sáng tác có tính cách giáo lý hơn là tài liệu. Tuy nhiên cơn giận mù quáng và ngông cuồng ấy của Hêrôđê quả phù hợp với những gì ta biết được về mấy năm sau cùng của ông. Có lẽ con số trẻ em bị tàn sát không quá 20, vì mật độ dân số và sinh suất vùng Bêlem thời ấy khá thấp (tính toán của D.Buzy). Bởi thế ta hiểu tại sao Flavius Josèphe không hề ghi lại biến cố đau thương này.

Câu trích dẫn Gr 31, 15 hình như Mt dịch rút ngắn từ bản của các Massorètes (là bản Cựu ước hy bá được các tiến sĩ Do thái ở Massore chua thêm ký hiệu cho dễ đọc. Tiếng hy bá chỉ có phụ âm, nên hệ thống ký hiệu đó đóng vai trò nguyên âm. Chú thích của người dịch). Vị ngôn sứ trình bày Rachel, mè Giuse (các chi tộc Ephraim và Manassê) và Beniamin, đội mồ chỗi dậy (mồ gần Rama, khoảng 8km bắc Giêrusalem) để khóc than nỗi bất hạnh của con cháu bị quân Assyri bắt đi lưu đày (722 trước công nguyên). Truyền thống Do thái đã đồng hóa lộn Ephrata, nơi có ngôi mộ Rachel, với Bêlem (St 35,19) khiến cho Mt liên kết bản văn Gr với hoàn cảnh hiện thời. Tuy nhiên để hiểu ý hướng của Mt khi tham chiếu chương này của Gr, cần lưu ý rằng bầu khí của đoạn thơ thay đổi ngay từ câu tiếp theo câu Mt trích dẫn: "Giavê phán thế này: Thôi im đi tiếng khóc và mắt hãy ráo lệ ? Vì ngươi sẽ lĩnh công xứng đức cù lao: chúng sẽ từ xứ quân thù trớ lại. Sẽ có hy vọng cho hậu duệ ngươi: con cái ngươi sẽ trở lại bờ cõi chúng " (Gr 31 ,16-17). Câu này dùng dẫn vào lời hứa long trọng về Giao ước mới:

"Này sẽ đến những ngày sấm của Giavê, Ta ký kết với nhà Israel và nhà Giuđa) một giao ước mới, không phải như giao ước Ta đã kết với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay chúng để đem chúng ra khỏi đất Ai cập. Giao ước đó, giao ước của Ta, chính chúng đã hủy bỏ. Bấy giờ, Ta đã cho chúng thấy uy quyền của Ta, sấm của Giavê. Nhưng bây giở là giao ước Ta ký kết với nhà Israel sau những ngày đó, sấm của Giavê. Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong tâm cốt chúng và Ta sẽ viết lên tim lòng chúng" (Gr 31, 31 -33) . Thành ra đối với Mt, việc Chúa Giêsu trở về từ Ai cập đánh dấu khởi điểm hoàn thành sấm ngôn trên: "Giao ước mới " Giêrêmia đã tiên báo nay được thực hiện dần trong Chúa Giêsu vậy.

4. Trong giai thoại sau cùng của đoạn văn này, Mt trở lại ý tưởng Xuất hành, nhưng lần này không so sánh Chúa Giêsu với tập thể Israel song là với môi sen. Như môi sen đã bí mật thoát chết (Xh 2, 1 - 10) và đã sang nước ngoài tỵ nạn để trốn Pharaon (Xh 2, 11- 15) trước lúc công khai đối đầu với ông ta theo lệnh Giavê sau khi được tấn phong làm ngôn sứ (Xh 3, 1- 12); cũng vậy Chúa Giêsu đã trốn tên bạo chúa, tránh được cuộc tàn sát (cc. 13-15) và về ẩn náu tại Nadarét (c.23) rồi tái xuất hiện và rao giảng công khai, sau khi được phong làm Messia lúc chịu phép rửa (ch. 3-4). Chính Mt để lộ ra chủ ý song đối này khi trích lại một câu của Xh 4,19: "Vì những kẻ tìm hại tính mạng ngươi đã chết rồi". Cuối cuộc xuất hành này, Chúa Giêsu sẽ xuất hiện trên sân khấu công khai, dẫn đầu đoàn lũ bước theo Người (4, 25), và bấy giờ Người sẽ ban cho họ Lề luật mới (Diễn từ trên núi, ch. 5-7), như Môisen tại Sinai sau khi ra khỏi Ai cập.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Hãy trốn qua Ai cập". Ai cập là nơi lánh nạn thường xuyên của các người Do thái bị bách hại (Lv 11, 40 ; 2V 25, 26), nhất là từ khi có những xáo trộn thời anh em Macabê. Từ thế kỷ VI trước Chúa ki tô, tại Ai cập đã có một cộng đoàn ngoại kiều Do thái hùng hậu. Có thể Giuse chỉ tới Aris, phía nam Gaza, nơi thuộc lãnh địa Ai cập và trực tiếp đặt dưới quyền kiểm soát của Roma từ năm 31 trước Chúa Kitô. Dầu thánh gia chọn nơi cư ngụ ở đâu, thì đi từ bê lem đến Ai cập cũng mất 5, 6 ngày đi bộ.

Thành ngữ "lùng bắt để giết ai" đặc biệt gợi lại Xh 2, 15 là đoạn liên hệ tới Môisen. "Ông trốn qua Ai cập" : Mt lấy lại động từ anachôrein áp dụng cho Môisen trong Xh 2,15 (bản 70). Động từ này là đặc ngữ của hành văn và tư tưởng Mt, dùng diễn tả việc Chúa Giêsu dời nơi này đi nơi khác vì bị người ta từ chối không tin (4, 12 ; 12, 15 ; 14, 13 ; 15, 21) . Trong truyền thống Kitô giáo về sau, anachôrein trở thành một từ ngữ chuyên môn của chế độ tu trì: anachorétisme (ẩn tu đạo) tương đương với một sự ra đi và tách biệt trần thế (vô đạo). Trước đó, trong hy ngữ thông thường, động từ này chỉ sự từ bỏ đời sống công khai, hoặc chỉ việc nông dân Ai cập trốn vào hoang địa để tránh sưu cao thuế nặng.

"Ban đêm" : kiểu nói này có mục đích cho thấy Giuse mau mắn tuân theo lệnh Chúa truyền. Lời thông tri mơ hồ của thiên sứ: "cứ ở đó cho tới khi ta nói lại " cũng nhằm làm nổi bật đức vâng lời của thánh Giuse.

"Từ Ai cập Ta đã gọi con Ta về" : Mt trích dẫn Hs 11, 1 theo bản Massorètes, trong lúc bản 70 dùng chữ "con cái nó" thay vì "con Ta ". Sấm ngôn Hôsê ám chỉ cuộc Xuất hành của Israel, dân đã từng được gọi là "con Ta" trong Xh 4, 22. Dựa theo lối song đối Israel-Chúa Giêsu của Mt, ta phải kết luận rằng Chúa Kitô mang trong mình dân mới của Thiên Chúa, tức Giáo Hội, và lôi Giáo Hội theo trong cuộc Xuất hành cánh chung của Người.

"Thì này một thiên sứ hiện ra trong mộng cho Giuse và bảo: Hãy chỗi dậy),, đem Hài nhi và mẹ Người ... ". Ngữ vựng và bút pháp các câu 13-14 và 19-21 giống nhau đến nỗi các mệnh đề xem ra đã được đúc cùng một khuôn với mục đích khắc ghi vào tâm trí độc giả.

"Đất Israel" (cc.20-21) Danh xưng cổ điển của miền Chúa hứa. "Vì họ đã chết rồi": Mt dùng số nhiều ở đây, dù không hợp với Hêrôđê, là vì muốn ám chỉ Xh 4,19, muốn đối chiếu Môisen và Chúa ki tô. Trong Cựu ước, Pharaon và Ai cập tượng trưng cho sự cứng tin và chai đá tâm hồn; trong Tân ước thành Giêrusalem và Hêrôđê đóng lại vai trò đó.

"Arkhêlaô cai trị miền Giuđê từ năm 4 trước công nguyên đến năm 6 sau công nguyên. Lịch sử cho biết ông ta dữ tợn chẳng kém phụ vương, nhưng không thông minh và khôn lanh về chính trị bằng. Mt chẳng bảo tại sao Giuse muốn xa rời vùng cai trị của Arkhêlaô, có lẽ vì muốn cho thấy thánh nhân hoàn toàn quyết định theo sự hướng dẫn thần linh qua thiên sứ. Vì vậy Giuse bỏ Giuđê (vùng đất Do thái bất tín) mà "về miền Galilê" (vùng đất dân ngoại sẽ tin vào Chúa Giêsu; x.Mt 4,12-16).

"Người sẽ được gọi là Nazôrêô" (N.t.Thuấn: Nazarêô) : Mt coi việc Chúa Giêsu sống tại Nazarét như sự hoàn thành nhiều bản văn ngôn sứ. Tương quan giữa Nazôrêô và Nazarét chắc hẳn rõ ràng đối với các độc giả nguyên khởi của Mt, tuy nhiên khoa chú giải hiện đại chưa làm sao xác định được tương quan ấy. Người ta thường đề nghị hai cách giải thích :

1.Nazôraios có lẽ liên hệ với naziraios (bản 70) là phiên âm hy ngữ của tiếng hy bá nâir. Nâir, như Samson chẳng hạn, (Tl 13, 5- 7 : đọan văn thường được đối chiếu với Mt 1- 2) là một kẻ "được tách biệt", "được dành cho Thiên Chúa" (thánh), chịu những giới luật khắt khe. Lc có trình bày Gioan Tẩy giả (1,15) rồi Chúa Giêsu (1, 35) như một nâzir, kế nghiệp các kê thánh hiến của Cựu ước ấy. Cho dù nền tảng ngữ học của lối giải thích này vững vàng đến đâu, ta cũng chẳng thấy làm sao văn mạch Mt 2 lại có thể phù hợp được với ý tưởng tự hiến này.

2.Nazôrêô có lẽ liên hệ với tiếng Hy bá nésèr, "chồi non, mầm non" của cây. Thế mà nhiều bản văn thiên sai của Cựu ước lấy lại hình ảnh này (Is 4,2; Gr 23,5; 33,15 và nhất là Is 11, 1 : "Một chồi sẽ mọc ra từ gốc Giessê"; Dcr 3, 8 ; 6, 12 chỉ gọi đơn sơ người Thiên Chúa sai đến là "Chồi lộc"). Danh xưng ấy ám chỉ việc tự hạ khiêm cung của Đấng Messia. Phải thú nhận rằng lập trường này yếu hơn lập trường trước về phương diện ngữ học, song nó lại phù hợp hơn với văn mạch của Mt 2 đang nói về Chúa Kitô bị bỏ quên và bị bắt bớ. Nazarét là một thành vô danh trong Cựu ước và hình như bị tai tiếng nữa (Ga 1, 46) ; do đó, khi đến ở trong thành ấy, Chúa Giêsu thật sự muốn hạ mình. Cũng có thể Mt muốn ám chỉ hoàn cảnh của các Kitô hữu thời ông là những kẻ thường bị người Do thái khinh miệt gọi bằng tên "bọn Nazarêô ". Tình cảnh nhục nhã của Kitô hữu tương ứng với tình cảnh của Chúa họ vậy.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu vừa là Môisen mới vừa là con Đavít. Bêlem, thành của Giessê, giữ một vị trí trung tâm, trong lúc Ai cập, quê hương của môi sen, chiếm phần lớn trình thuật. Suốt cả cuốn sách, một luôn luôn quan tâm duy trì tính cách vương đế và tính cách đa vít của con người Chúa Giêsu lẫn khía cạnh "Môisen" của sứ vụ Người. Việc trốn qua Ai cập và từ đó trở về không phải là một ngoặc đơn ngẫu nhiên trong vận mệnh Chúa Giêsu, song là một sự kiện đầy ý nghĩa liên kết vận mệnh này với cả lịch sử Israel. Chẳng phải sự ngẫu nhiên làm chủ cuộc đởi Chúa Giêsu, song là kế hoạch của Giavê, Đấng diều khiển mọi sự với một quyền năng tối thượng.Mọi ý đồ đen tối của con người, mọi hoàn cảnh bất trắc đều được Ngài lợi dụng để thực hiện chương trình cứu rỗi.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu xuất hiện trong một thế giới thù nghịch, nhưng có một Đấng mạnh hơn Người,mạnh hơn kẻ thù Người, hằng chăm sóc vận mệnh Người và đảo lộn âm mưu mọi thù địch. Thiên Chúa cũng quan phòng trên cuộc đời ta như thế ..

2. Tuy nhiên, Quan phòng không có nghĩa là biến cuộc đời Chúa Giêsu thành một con đường đầy hoa: đời Người vẫn có thử thách gai chông (bị lưu đày, nên cớ tàn sát các hài nhi Bêlem, gặp cảnh bất ổn chính trị do vua Arkhêlaô ...) . hoạt động quan phòng là cho các thử thách một ý nghĩa, là đưa chúng vào trong một chương trình cứu rỗi, vì "với nhung kẻ yêu mến Thiên Chúa, thì Ngài đồng công cộng tác biến mọi sự nên lành" (Rm 8,28)

3. Việc giết hại các trẻ thơ vô tội ngây n.ay còn được tiếp tục trong các gia đình qua việc li dị hoặc phá thai, và trong thế giới qua việc kém mở mang, đói kém, chiến tranh. Người Kitô hữu phải quan tâm đến những tai họa ấy, nếu không, họ sẽ trở thành đồng lõa với các Hêrôđê của mọi thời.

4. Quyền bính của thánh Giuse, cha gia đình, là quyền bính của một trung gian. Ngài đã nhận lệnh từ Thiên Chúa và truyền lại cho các phần tử trong gia đình. Quyền bính ấy là một phục vụ. Mục đích Ngài nhắm không phải là thửa mãn chính mình việc đi qua Ai cập gây rắc rối không ít cho cuộc sống ngài), song là phục vụ con, tránh cho con mình một nguy hiểm nào đó. Đức Maria và Chúa Giêsu vâng lời ngài một cách trung thành, nhận ra Lời Thiên Chúa trong lời ngài. Ước gì cũng có sự hòa hợp và bổ túc giữa các vai trò trong gia đình chúng ta, nơi mỗi người được kêu mời sống ơn gọi riêng của mình trong tình yêu và lòng kính trọng kẻ khác.

5. Ta hãy luôn chuẩn bị lên đường, vượt qua thử thách Ai cập đi về "miền Galilê của chư dân", để loan báo cho mọi người Đấng mà họ mải đi tìm song chẳng biết tính danh.

Noel Quession - Chú Giải

LỄ THÁNH GIA

Mt 2,13-23

Sau khi các nhà chiêm tinh đến thăm Bê-lem...

Nếu bạn có một sách Tin Mừng tại nhà bạn và nếu các bạn có chút hiếu kỳ thiêng liêng, hãy đọc lại những câu truyện này.

1. Trong gia phả, Đức Giêsu được gọi là Con Đa-vít, Con Ap-ra-ham.

2. Trong tin báo cho Giuse, chính hài nhi này bắt đầu thực hiện những lời hứa trong Kinh Thánh, và được mạc khải như Thiên Chúa cứu độ, Thiên Chúa ở cùng chúng tôi

3.Rồi theo Mátthêu, tiếp ngay đến cuộc thăm viếng của các nhà chiêm tinh ? Không có những mục đồng Do Thái Giêrusalem, dẫu thế, được báo cho biết trước về chuyệ đang xảy ra trong vùng ngoại ô kế cận (Bê-lem cách độ 8km !) vẫn không động tĩnh... trong khi những người nước ngoài từ Phương Đông đến từ xa, phục lạy trước hài nhi, được gọi khi ấy là "vị đứng ra sẽ chăn dắt Đo Thái dân của tôi".

Khi các nhà chiêm tinh dã ra về, thì sứ thần

Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse.

Trong trang mà chúng ta sắp đọc, tên Giuse được kêu

lên bốn lần. Đó là người duy nhất được gọi tên như thế. Giuse là vai trung tâm của câu truyện. Chủ gia đình, ông chịu trách nhiệm nhóm nhỏ, luôn luôn được giới thiệu vô danh cho hai nhân vật khác là Hài nhi vâ Mẹ của Hài nhi. Chúng ta cũng sẽ lưu ý rằng trên trang này, Giuse có tầm quan trọng lớn lao, ông không nói một lời. Chính ông lâ người ở phần trước sân khấu, là người nhận trực tiếp các sứ điệp trên trời, lại không nói... mà ông hành động.

Này ông, dậy đem hài nhi và mẹ người trốn sang Ai cập.

Ôi, cái tiếng Dậy đi !

Tất cả những người nghiên cứu tiếng Do Thái sẽ nhận ra kiểu nói rất hay gặp trong Kinh Thánh. "Khum! "Dậy đi" . Cái thể mệnh lệnh, cái động từ chỉ tất cả những lời kêu gọi. Ap-ra-ham (St 13.1), Elia (IV 19,5). Nàng yêu dấu của Diễm Ca (2.10), Giôna (Gn 1,2), Giêrusalem (Is 60,11), Đanien (10,11). Tiếng "Dậy đi !" đầy dẫy trong Tán ước : Mát-thêu 2,13 - 2,20 - 9.5 - 17.7 - 26,46 ; Máccô 10,49 ; Lu ca 17,19 - 22,46 ; Gioan 5,8 ; Công Vụ 3,6 - 8,26 - 9,34 - 9,40 - 12,7 - 14,10...

Nếu tôi biết lắng nghe, tôi sẽ nghe thấy, cả tôi nữa.

Thiên Chúa lặp lại "Dậy đi !".

Thiên Chúa muốn con người đứng dậy. Thiên Chúa

đẩy những con người năng động.

Trong cuộc sống gia đinh mà chúng ta mừng lễ hôm nay, có biết bao nhiêu cơ hội có thể đưa chúng ta đến chỗ khước từ, đầu hàng, chạy trốn, từ nhiệm... Và đây là tiếng gọi của Chúa, trong đáy đêm tối của chúng ta, trong tình huống bức bách đè nặng trên vai chúng ta, nói lại với chúng ta : "Đứng lên ! Dậy đi I".

Có một thứ hình ảnh Thánh Gia hiền dịu, êm ả vả bị sai lạc. Máng cỏ bằng giấy đá, quá "hợp môi sinh", những mục đồng xinh xắn và những con cừu nhí, những tràng hoa ánh sáng... có cái nguy làm cho chúng ta coi "chuồng bò lừa nới Thiên Chúa sinh ra (đó là một cái sườn mái !) là một nới nóng nực và rất tiện nghi. Và với cái vẻ dịu hiền hay với thái độ chiếu cố, người ta tìm được cái chuyện thần tiên hớp với khẩu vị các trẻ em. Nhưng đấy không phải là Giáng sinh thật. Có thể tai hại nhiều nếu máng cỏ cổ truyền chỉ là một sự trung tín với quá khứ, trong khi nó là một sự kỳ vọng cho hiện tại và tướng lai. Gia đình mâ bạn nhin ngắm với sự hiền dịu trong cái hang hốc nhà quê, có lẽ bạn quên rằng nó đã bị liệng đi trên các nẻo đường lưu đầy chăng ? Khi đó bạn đã dựng lên một "thánh gia" không có thực. Và bạn nói liều : "Thật quá đẹp... nhưng ở nhà chúng tôi không giống như thế, nơi mãi ấm của chúng tôi , gia đinh của chúng tôi buộc phải sống giữa những âu lo : sức khỏe, tranh chấp, ngân sách, những khó khán định hướng, những cuộc đối thoại không thể có được...".

Những mái ấm trẻ... hay những mái ấm nào khác...

Tồi dám chắc với các bạn, các bạn có thể nhìn xem gia đình của Giuse, có Hài nhi và Mẹ người. Và hãy tỉnh ngộ ! Giống như mọi gia đinh, gia đinh ấy cũng biết đến những giằng xé, những khắc khoải, nó cũng bị cuốn trong những cơn lốc của lịch sử. Và chúng ta nhớ lại câu nói nổi tiếng của Charles Péguy "Những người cha và người mẹ này "' những kẻ phiêu lưu vĩ đại của thế giới hiện đại này !"

Cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vi vua Hê-rô-đê sấp tìm giết Hài Nhi đấy.

Hình ảnh thực, như thế đấy. Một đôi lứa trẻ trung,đó là một cáp vợ chồng không bếp không nhà. Số phận thê thảm của những người tị nạn, những người bị xua đuổi trốn chạy về nới vô định, bị đuổi khỏi nhà họ vì chiến tranh, đói ăn, thất nghiệp, hay ý thức hệ đàn áp. Những trẻ em Việt Nam, Li Băng Cam Bốt, áp-ga-nít-tăng,... và nhiều nới khác. Những hình ảnh không cằm lòng được đang lảm xáo động sự yên ổn của chúng ta. A, không, máng cỏ năm nay không đẹp... Thế thi bạn hãy nghĩ, họ đã có ý tướng, trong giáo xứ,chúng tôi làm máng cỏ bằng tre mục...hay bằng vải lưu cho những trại tị nạn... hay bằng gạch nén gợi ra những nơi trú ngụ đáng thương của những kẻ xấu số trong những vụ động đất... và họ đã để Hài nhi trên rơn, thứ rơm rác thật !

"Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài nhi đấy..."

Họ muốn giết trẻ con... Than ói, vâng, hiện nay...

Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập.

Để nhấn manh đến sự vâng phục của Giuse, sự thi hành ý muốn của Thiên Chúa được diễn tả chính xác trong những lời lẽ của sứ điệp nhận được từ trên cao.

Đi ngay ban đêm !

Đi trong đức tin : làm thế nào ? Cần phải cứu Hài nhi cứu độ ? Người đã được loan báo như Thiên Chúa Cứu Độ, Thiên Chúa ở cùng chúng ta ? Và cần phải che chở Người ngay bây giờ ? Nghịch lý của Thiên Chúa tự đặt mình vào trong tay chúng tôi ? Thiên Chúa không tự bênh vực. Cần phải "cứu" ! đức tin... ban đêm... Thiên Chúa được đặt lại trong tay những người tin.

Ông ở Ai Cập cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng thiên sứ : Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai cập.

Trong mùi tử khí tự trị, một sự cứu thoát bộc phát, Chúa nói : Con ta !

Trên cái nền bi thảm của các biến cố xảy đến trong gia đình này, có sự gì khác tác động : một ánh sáng chiếu soi tình hình... một dự tính của Thiên Chúa,... được bộc lộ trong những lời sấm của ngôn sứ. . một khuôn mật ẩn giấu, đầy hy vọng. Nghịch lý mới của Thiên Chúa : chính lúc mà người ta cảm thấy phải đi, thì đúng là lúc Tin Mừng trích dẫn một tiết Kinh Thánh ở đó vấn đề đặt ra là trở lại...

Người ta chỉ nói về sự lưu đày để nói về việc xuất hành. Người ta chỉ gợi ra cái chết để nói về sự sống... Còn bạn, trong cuộc sống của bạn, bạn được mời gọi nhìn thấy mặt bị che khuất của điều xảy đến với bạn.

Toàn thể gia đinh và chạm với những cái bất an. Việc chúng ta tìm kiếm những sự an toàn là điều bình thường. Giuse thậm chí còn nhận lệnh của Chúa thì sự tìm kiếm những của cải tạm thời, chẳng phải càng được chúng ta đặt bên dưới việc làm tròn lời Kinh Thánh sao ? sống Tin Mừng, hoàn thành các ý muốn của Thiên Chúa, kiên trì trong cái mà Thiên Chúa đòi hỏi tôi. Mỗi Kitô hữu, mỗi gia đình... hoàn tất một phần của lịch sử thánh, một dự tính huyền nhiệm của Thiên Chúa. Và đó không phải là trong lúc đi ra khỏi các tình huống của chúng ta, thậm chí khó khăn, thậm chí mong manh, nhưng bằng cách khám phá ở đó các mặt bị che khuất mà đức tin bày tỏ ra cho chúng ta.

Sau khi vua Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai cập, báo mộng cho ông rằng : Này ông. dậy đem Hài nhi và Mẹ Người về đất ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài nhi đã chết rồi. Giuse trỗi dậy dưa Hài nhi và Mẹ Người về đất Ít-ra-en.

Những kẻ muốn tìm giết Hài nhi ? Con số nhiều lạ lùng. Cho đến đây, người ta chỉ nói đến Hê-rô-đê... Nhưng Mátthêu nghĩ đến một trường hợp có trước trong Kinh Thánh và miệt mài đưa tất cả câu truyện của ông vào việc gợi ra số phận của Môsê, mà Pharaon tìm cách giết chết (St 2,15). phải trốn sang Ai Cập và trở về, bởi vì tất cả những người muốn tìm giết đều đã chết (Xh 4,19-20). Khoa chú giải Do Thái, trong các giáo đường, luôn luôn sử dụng phương cách, mà người ta gọi là "midrach", nhằm làm sáng tỏ một đoạn Kinh Thánh bằng những biến cố của thời sự...để chứng minh rằng ý đồ của Thiên Chúa cứ tiếp tục. Đức Giêsu, trong bản thân của Người, tái hiện lịch sử dân tộc Ít-ra-en : bạo vương muốn khử trừ cậu Môsê được Thiên Chúa sai đến để cứu dân Người... bạo vương tung ra cuộc tàn sát các trẻ nhỏ (St 1,10)... nhưng lại không thể làm gì được chống lại người mà Thiên Chúa che chở và trở nên Đấng Cứu độ dân Người ... dẫn dắt dân này về Đất Hứa.

Ngày nay lịch sử này vẫn luôn luôn tiếp tục. Không gì mà Thiên Chúa không thể làm được. Người tiếp tục viết thật thẳng trên những đường cong của chúng ta. Ý đồ của Người vẫn tiến lên, bất chấp mọi sự.

Nhưng vì biết A-khê-lau đã kế vị người cha là Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông sợ không dám về đó. Mãi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilê, và đến ở một thành kia gọi là Nadarét để ứng nghiệm lời, các ngôn sứ rằng : Người sẽ được gọi bằng Na-da-rét.

Bản văn này nói cho chúng ta biết rõ ràng là trước hết Giuse đã có ý định trở về Giu-đê. Nhưng tất cả những kẻ muốn tìm giết Đức Giêsu, chưa biến mất hết. Mặt khác, một ngày kia, Đức Giêsu sẽ trở lại trong chính miền Giu-đê này, và về đó để bị giết chết. Cuộc thụ nạn diễn ra ở cuối cuộc hành trình này. Cái chết luôn luôn ở đó. Tin Mừng ngày hôm nay đầy chết chốc. Chính vì cần thiết mà Đức Giêsu đến sống tại Ga-li-lê miền xa xôi, một nửa ngoại giáo, khá xa đất Thánh Giêrusalem. Đối với Mát-thêu, miền Galilê ngoại giáo này (Mt 4,12-16) là biểu tượng của thế giới phổ quát, nơi mà sứ vụ của Đức Giêsu được thực hiện, nơi mà Đấng đã sống lại hiện ra nhiều lần, và từ đó mà sứ vụ khởi phát. Và bạn nữa, phải chăng bạn không sống trong những miền Galilê loại mới ư ?



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Hãy đem Con trẻ và Mẹ Người trốn sang Ai cập"

Mt 2,13-25 . 19-23

I / Ý CHÍNH :

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc thánh Giuse đem Hài Nhi và mẹ Người chốn sang Ai Cập, để nói lên việc Thiên Chúa quan phòng mọi sự .

II / SUY NIỆM :

1 ) " Thiên thầnChúa hiện ra với ông Giuse " :

Thiên thần Chúa hiện ra cả thẩy bốn lần với Giuse : ( Mt1, 20 ; 2, 13 ; 2, 19 ; 2, 22 ) .

* Trong giấc ngủ : diễn tả một tình trạng thụ động, nghĩa là khi Thiên thần hiền đến không phải để mời gọi cộng tác, nhưng để ra lệnh và thi hành Vì thế Giuse được Thiên thần hiện ra là để nhận lệnh và thi hành đem Con Trẻ trốn sang Ai Cập và đem trở về . So sánh với những lần Thiên Thần hiện ra với Giacaria ( Lc1, 11 - 20 ) và Maria ( Lc1, 26 - 38 ) thì thấy có sự không biệt .

* Maria và Giacaria : trong lúc tỉnh thức tại tư thất và đền thờ . Ở tư thế chủ động có nghĩa là được mời gọi để cộng tác chứ không phải để được nhận lệnh thi hành như Giuse .

* Sự không biệt này nói lên cái trổi vượt của vai trò Đức Maria và Gioan Tiền sứ qua Giacaria trong chương trình cứu chuộc của Chúa Giêsu .

2) "Hãy thức dậy đem Hài Nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập" :

Lệnh truyền này nói lên sự can thiệp của Thiên Chúa trong sự quan phòng của Người . Sự can thiệp này đưa Hài Nhi trốn sang Ai Cập để thoát nạn khủng bố của Hêrôđê, cũng giống như sự can thiệp của Thiên Chúa đối với Maisen được cất dấu và khỏi nạn trẻ con Do thái bị nhà vua Rôma bách hại .

* "Hãy trốn sang Ai cập" : Ai Cập là nơi lánh nạn thường xuyên của các người Do thái bị bách hại (1V11, 40 ; 2V25 - 26 ) . Quãng đường đi từ Bêlem đến Ai Cập mất chừng 5 - 6 ngày đi bộ .

* " Tìm kiếm Hài Nhi để sát hại" : ở đây đặc biệt gợi lại ( Xh 2, 15 ) là đoạn liên hệ tới Maisen Mát thêu gợi lại là để diễn tả việc Đức Giêsu rời nơi này đi nơi không vì bị người ta từ chối không tin (Mt2, 14 ; 12, 15 ; 14, 13 ; 15, 21) . 3 ) " Trốn sang Ai Cập đang lúc ban đêm" :

Kiểu nói này có mục đích cho thấy Giuse mau mắn tuân lệnh Chúa truyền .

4 ) " Ông ở lại đó cho tới khi vua Hêrôđê băng hà" :

Kiểu nói này có mục đích làm nổi bật đức vâng lời của thánh Giuse .

5 ) " Ta gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập" :

Câu này Mátthêu trích dẫn của Tiên tri Hôsê 11, 1 có ý ám chỉ cuộc xuất hành của Israel, dân đã từng được gọi là " Con Ta" trong Xh 4, 22 .

Dân Israel được gọi từ Ai Cập trở về đất hứa thế nào, thì Chúa Giêsu mang trong mình dân mới của Thiên Chúa tức là Giáo Hội cũng được xuất hành từ dương gian về quê trời qua ngày cánh chung như vậy .

6 ) " Bấy giờ Hêrôđê nổi cơn thịnh nộ... " :

Hêrôđê, một con người độc ác lại đa nghi, đã không chút ngần ngại dùng những phương tiện xấu để bảo vệ ngai vàng của ông .

Vì thế, khi thấy mình bị các Đạo sĩ đánh lừa, ông đã nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả các con trẻ ...

Ở đây Mátthêu đặt Hêrôđê như một kẻ song đôi với Pharaon, vị vua đã truyền giết các trẻ trai Israel trước thời thời xuất hành ( Xh 1, 15 - 22 ) .

Trong cách song đối này, Máttthêu muốn làm nổi bật việc Maisendc cất dấu và cứu thoát khỏi cảnh tàn sát trẻ con Do thái cũng giốnh như việc Hài Nhi Giêsu được đem đi trốn thoát cảnh tàn sát trẻ em ở Bêlem .

7) " Thế là ứng nghiệm lời Tiên tri Giêrêmia" :

Tiên tri Giêrêmia kể lại (ar31, 15 ) : trước khi bị phát lưu sang Babylon, người Do thái đã bị điệu cả về thành Rôma, chỗ chôn bà Raken, mẹ ông benjamin . Tiên tri coi điều đó là quá nhục nhã và cảm thấy như bà raken ra khỏi mồ khóc lóc, không ai có thể an ủi được, Mátthêu trưng lời Tiên tri này để chứng tỏ việc Hêrôđê muốn ám hại Hài Nhi Giêsu, nên đã ra lệnh sát hại bao con trẻ, là điều nhục nhã và đáng thương cho bà Raken ra khỏi mồ để khóc than hơn nhiều .

8) " Khi Hêrôđê băng hà ..." : khi Hêrôđê băng hà thánh Giuse được báo mộng để trở về .

9)"Hãy chỗi dậy đem ConTrẻ và Mẹ Người về đất Israel" :

+ Đất Israel : đây là danh xưng chỉ miền Chúa hứa .

+ Việc đem " Con Trẻ và Mẹ Người " về đất hứa, muốn ám chỉ Xh 4, 19 và muốn đối chiếu giữa Maisen và Đức Giêsu trong Cựu ước, Pharaon và Ai Cập tượng trựng sự cứng tinvà chai đá tâm hồn . Trong Tân ước thành Giêrusalem và Hêrôđê đóng vai trò đó .

10 ) " Nhưng nghe rằng Akêlao làm vua xứ Giuđa" :

Hêrôđê chết, Akêlao được kế nghiệp làm vua đất Giuđa. Vì ông bắt chước vua cha độc ác giết hại dân Do thái, nên Giuse e ngại không dám về đó nữa.

11)"Được báo mộng, ông lánh sang địa phận xứ Galilê..." :

Trong lúc e ngại như vậy, Giuse được báo mộng trở về Galilê thuộc quyền Hêrôđê Antipa, em của Akêlao, có vẻ ôn hoà hơn, việc Giuse đi theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa báo trong giấc mộng đã nói lên rằng Giuse hoàn toàn quyết định theo sự hướng dẫn của thần linh qua Thiên xứ . Vì vậy Giuse bỏ Giuđa, vùng đất Do thái cứng lòng tin, mà về Galilê, vùng đất dân ngoại sẽ tin vào Đức Giêsu ( Mt4, 12 - 16 ) .

12 ) " Người sẽ được gọi là Nagiarêô" :

Thật ra trong toàn bộ Kinh Thánh không gặp thấy lời Tiên tri này . Nhưng người ta có thể hiểu rằng Nagiaréth là một thành vô danh trong Cựu ước, hơn nữa còn bị khinh bỉ là khác ( Ga 1, 46 ) . Do đó Mátthêô dùng danh xưng này để ám chỉ việc tự hạ khiêm cung của Đấng Cứu Thế, khi đến ở thành ấy . Nói Đấng Cứu Thế là người Nagiarét cũng như nói Ngài bị khinh dể miệt thị vậy . Thực ra có nhiều lời Tiên tri nới như thế ( Is11, 1 ; Gr3, 8 ; 9, 19 ) ...

Cũng có thể Mátthêô dùng kiểu nói này là để ám chỉ hoàn cảnh của các Kitô hữu thời ông, là những kẻ thường bị người Do thái miệt thị gọi bằng tên " bọn Nagiarêô" . Tình cảnh nhục nhã của các Kitô hữu tương ứng với tình cảnh Đức Kitô, là cứu Chúa của họ .

III / ÁP DỤNG :

A / Áp dụng theo Tin Mừng :

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại biến cố Thánh - Gia - Thất lánh nạn sanh Ai Cập, một đàng nói lên sự quan phòng của Thiên Chúa và đàng khác nói lên Thánh Gia : Chúa Giêsu - Đức Maria - thánh Giuse tuân phục thánh ý Thiên Chúa .

B / Áp dụng thực hành :

1 ) Nhìn vào Hài Nhi Giêsu :

+ Dưới dạng vẻ một Hài Nhi sơ sinh, được Thiên Chúa quan phòng bằng sự che chở và dẫn dắt, Chúa Giêsu dậy cho chúng ta bài học tin tưởng vào hoạt động của Thiên Chúa quan phòng trong đời mỗi người chúng ta .

+ Hài Nhi Giêsu lớn lên trong âm thầm tại Nagiarét, một thành vô danh và bị người đương thời khinh miệt, Chúa Giêsu dậy cho chúng ta bài học khiêm nhường trong âm thầm để làm lớn mạnh cho đời sống nội tâm .

2 ) Nhìn vào Đức Maria :

Qua câu chuyện lánh nạn này, chúng ta nhận thấy số phận của Hài Nhi Giêsu cũng là số phận của Đức Maria : " Đem Hài Nhi và Mẹ Người lên đường trốn", " Đem Con Trẻ và Mẹ Người về đất Israel " .

Đức Maria nêu cho chúng ta tấm gương càng gắn bó với Đức Giêsu, chúng ta càng tham gia vào số phận của Người ở trần gian . Vì thế chúng ta không lạ gì : " Vì danh Thầy mà các con bị người đời ghen ghét" Mc 13, 13 .

3 ) Nhìn vào thánh Giuse :

+ Trong câu chuyện này, Giuse được Thiên thần hiện ra cả thảy bốn lần, nhưng Giuse chỉ nghe lệnh mà không đối đáp lời nào, chứng tỏ Giuse là một gương mẫu vâng lời và sống âm thầm .

+ Giuse đem gia đình lên đường trốn lúc ban đêm, Giuse nêu gương cho ta đức tính mau mắn và can đảm vâng lời .

+ Qua việc thi hành lệnh của Chúa qua các Thiên thần, Giuse phải luôn luôn từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa . Ở đây nêu gương cho ta : phải biết quên mình để thực thi ý Chúa, để tuân theo kỷ luật và phục vụ tha nhân .

4 ) Nhìn vào Hêrôđê :

+ Hêrôđê để tính ham hố quyền lực và danh vọng chi phối, nên đã phạm tội ác tàn sát Hài Nhi . Con người để dục vọng chi phối thì rất nguy hại .

+ Hêrôđê thấy mình bị các Đạo sĩ đánh lừa . Thật ra các Đạo sĩ không đánh lừa, nhưng các ngài thực hiện ý Chúa đi đường khác để trở về . Vì Hêrôđê có ác ý trong lòng nên sự phán đoán trở nên chủ quan và tàn ác . Những trái ý chúng ta gặp phải trong đời sống chưa chắc là điều xấu và tai hại cho ta, vì biết đâu đó là ý Chúa muốn như vậy để nên ích cho ta, miễn sao ta biết bỏ mình để thực thi ý của Ngài thì mọi sự đều nên tốt, nếu không, sẽ gây ra tai hại và nguy hiểm như trường hợp Hêrôđê vậy .

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh GIuse Sài Gòn