Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXIX Thường Niên C

Tin mừng Lc 18: 1-8: Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê su dạy mỗi người chúng ta luôn phải kiên trì trong việc cầu nguyện.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT TUẦN XXIX THƯỜNG NIÊN C


 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

THẨM PHÁN BẠO NGƯỢC VÀ BÀ GÓA QUẤY RẦY

1. Câu nhập đề (c.1) xác định ý nghĩa dụ ngôn: việc cầu nguyện kiên trì, trong các hoàn cảnh thất vọng nhất (pantote: trong mọi hoàn cảnh, dù thế nào đi nữa) không chỉ là một bổn phận hay một nhân đức, mà là một nhu cầu thiết yếu phải là (dei). Phải kiên trì và liên lỉ cầu nguyện, không thoái nhượng, giảm sút, không buông thả (egkakeo). Ngoài Lc với một lần duy nhất dùng chữ đó, người ta chỉ thấy động từ egkakeô nơi Phaolô (Eph 3,13; Gal 6,9; 1Th 3,13; 2Cor 4,1.16). Cách dùng động từ này hầu như luôn có màu sắc cánh chung và CGS đã nhiều lần khuyên bảo kiên trì cầu nguyện như thế ngay sau khi gợi lên cuộc quang lâm của Ngài (Lc 21,36; Mc 13,32-37), nên mệnh lệnh "không buông thả" có một ý nghĩa chuyên môn. Nghĩa là, trong khi chờ ngày Đức Kitô trở lại, đấy là thời thử thách, các môn đệ không được trì trệ hay buông thả việc cầu nguyện. Thay vì chán nản vì lời khẩn cầu xem ra vô vọng, họ phải phấn đấu chống lại mệt mỏi và tiếp tục việc bổn phận lây chừng nào có thể.

Câu nhập đề này phải luôn qui hướng để hiểu dụ ngôn. Đây không chỉ là lời giáo huấn về việc cầu nguyện nói chung, mà là lòng kiên trì bền chí khi cầu nguyện; sự kiên trì này vừa là thái độ chính yếu của môn đệ trong thời cánh chung, vừa cũng là môt thử thách cam go của thời sau hết. Đó là điều dụ ngôn muốn xác quyết trước hết: chiếm hữa sự công chính, nghĩa là sự giải thoát dành cho các người được chọn lúc Chúa tái giáng; đoạn nói đến lý lịch của các thính giả: "Ngài nói với họ", với chính các môn đệ đã từng nghe các giáo huấn trước kia; sau cùng câu kết luận gợi lên việc Con Người trở lại (c.8) và kết thúc bằng việc tiên báo ngày Ngài đến lần cuối (17,22-24). Không thể hiểu sự đối chọi giữa lời cầu xin bền bỉ của bà góa và tính ù lì của vị thẩm phán, nếu không chú ý đến chủ đề cánh chung này. "Dụ ngôn này liên hệ chặt chẽ với những điều trước, nghĩa là với các khó khăn các tín hữu sẽ gặp, và với việc Con Người đến: (Lagrange). Nhiều tác giả cũng đồng ý như thế: Godet, Zahn, Rengstorf, Schlatter, Oesterley, Creed, Vaganay.

Khi được các người biệt phái hỏi về thời gian Vương quốc TC sẽ đến (17,20), CGS trả lời biến cố này không thể quan sát được, vì Vương quốc có bản tính thiêng liêng. Ngay sau đó, Ngài quay lại nói với các môn đệ về những điều kiện của việc tái hiện, vừa thình lình và nhanh như chớp. Quả thực, sau khi Ngài ra đi, các tín hữu phải sống trong mọt thời kỳ bị kềm kẹp, đầy khổ hình, nên đã khẩn khoản van vái Đức Kitô vinh hiển tỏ mình ra cách khải hoàn chiến thắng, và đến can thiệp bênh đỡ họ: "Các ngươi ao ước thấy được một ngày của Con Người mà thôi nhưng cũng không thấy được " (17,22). Ước nguyện sôi nổi được giải phóng khỏi người hung dữ được nhận lời. Chúa sẽ tỏ mình ra cách hữu hình. Do đó phải chờ đợi trong đức tin cho đến ngày cuối cùng, là ngày Ngài sẽ xuất hiện sáng láng, "như chớp lòe từ phương trời này đến phương trời kia" (17,24). Lúc đó, có hiều người vẫn ngủ mê, sống cách vô tư, không bận tâm đến đời sống tôn giáo, tự cho mình đã được an toàn, giống như ngày hôm trước xảy ra lụt hồng thủy; và ngày tàn phá Sôđoma (17,26-30). Vì ngày quang lâm đến bất ngờ, nên các môn đệ được khuyên nhủ phải luôn sẵn sàng (17,31-33). Vì cũng như các đại họa trước, Con Người sẽ đến thình lình, không ngờ trước được, do đó quá chậm trễ, khi đến giây phút cuối cùng mới nghĩ đến những dự phòng cần thiết để được cứu thoát. Bài học thật rõ ràng: trái với lần xuất hiện thứ nhất, tiệm tiến và thấy được, lần tái hiện sẽ thình lình và nhanh như chớp; nhưng vì còn lâu mới đến, nên sẽ đến bắt chợt từng người. Do đó phần đông không còn nghĩ đến ngày đó nữa, và đắm chìm trong trạng thái hôn mê thiêng liêng. Ngay những kẻ đã từng kêu xin Chúa đến cứu giúp xem ra quá thất vọng và trong tâm khảm không còn niềm ao ước thuở ban đầu là nhìn thấy ngày của Con Người nữa. Chính để dạy về việc phải luôn nhiệt tâm, phải cầu nguyện không ngừng - Khi Chúa chậm đến và xem ra giả điếc trước các lời kêu xin - mà Ngài đưa ra dụ ngôn người thẩm phán bạo ngược và bà góa kiên trì này.

2. Dụ ngôn đã vắn tắt phác họa chân dung con người ích kỷ. Nếu y làm việc thiện, đó không phải vì y quyết định trở nên tốt, nhưng một tình cớ nào đó đã may mắn tạo nên sự trùng phùng giữa việc thiện người khác và ích lợi riêng tư của y: trong trường hợp đang gặp, khi minh xử cho bà góa cứng đầu này, chỉ vì y muốn được yên thân.

So sánh một người như thế với Cha trên trời là một điều không thể được. Dụ ngôn sẽ làm ta khó chịu, nếu so sánh trực tiếp như thế; nhưng nếu được xem như một chủ đề tương phản (thème à contraste), dụ ngôn thật tuyệt diệu và ý nghĩa. Hình ảnh đáng ghét của người ích kỷ, bây giờ trở nên châm biếm: "Hỡi các thính giả, đâu là lý luận của các người, các người chấp nhận một vị thẩm phán bạo ngược ích kỷ có thể vui lòng minh xử cho một người không liên hệ gì với y, còn các người lại nghi ngờ TC tốt lành vô cùng lại có thể từ chối lời cầu xin của các người được chọn sao ?". Từ câu 7 trở đi, vị thẩm phán bạo ngược là đề tài tương phản. Chính CGS đưa ra phản đề: hãy nghe vị thẩm phán bất lương phán. Y nói gì ? Ta sẽ minh xử cho bà, hầu bà để ta yên thân. Còn TC thì không giải oan minh xử sao ? Cách đặt câu hỏi như thế này là để làm cho câu phản đề được mạnh hơn. Để đối chiếu với vị thẩm phán chỉ yêu chính mình, không sợ TC cũng như loài người, đối với y, bà góa chỉ là một người quấy rầy, CGS đưa ra hình ảnh người cha trên trời vô cùng nhân từ, luôn lo lắng cho kẻ được chọn, luôn kêu cầu Ngài ngày đêm. Sự kiên nhẫn cầu nguyện được qui chiếu với tính cứng đầu của bà góa. Cũng như bà ta, các môn đệ sẽ bị ngược đãi trong thế giới, phải chịu những bất công, không được ai bênh vực chở che. Họ chỉ có TC lưu tâm đến. Nếu họ bền chí tiếp tục cầu nguyện không sờn lòng. Vị thẩm phán tới cao sẽ không thể làm ít hơn "vị thẩm phán bất công và bạo ngược".

3. Sự kiên trì đầy công nghiệp này, điều kiện để được nhậm lời, giả thiết là "trong một thời gian dài" TC kiên nhẫn và lặng thinh, xem ra bất màng đến con cái mình. Do đó phải hiểu câu 7b: kai makrotthumei ep autois, là câu đã được giải thích nhiều cách. Một số tác giả đã nối kết hai động từ của câu: "Và TC chẳng minh xử cho các kẻ được chọn hằng kêu cầu Ngài ngày đêm và Ngài lại trì trệ với họ sao ?".

Thực ra, cần phải lưu ý trước tiên đến thì của các đông từ, nó không cho phép nối thì hiện tại makrothumei với subonctif aoriste pôiêsêi, nhưng đòi nối kết lòng kiên nhẫn của TC với tiếng van nài liên lỉ và hiện thực của các môn đệ. lúc ấy, câu 7 lập lại 2 chủ đề của dụ ngôn: một đàng, cầu nguyện không bao giờ buông thả. Đàng khác, sự trì hoãn của vị thẩm phán giả điếc làm ngơ không chịu giải quyết vấn đề. Mệnh đề cuối cùng, thay vì là câu nói lên một tư lợi phụ thuộc, đã xác định tương đồng giữa vị thẩm phán và TC: cả hai đều trì hoãn, dù có tiếng kêu cầu.

Makrothumein là động từ mà các bản papyrus không hề dùng, các bản văn cổ điển ít xử dụng, nhưng được thánh kinh dùng nhiều. Trong TƯ nó có nghĩa "kiên nhẫn chịu đựng, bao dung", và có ý ám chỉ lòng kiên nhẫn - tính bao dung của TC muốn cứu rỗi mọi người. Đó là một ý chí kiên trì hằng muốn tha thứ, thay vì giận dữ tội nhân, tìm thời cơ và chuẩn bị các dịp thuận tiện để giúp tôi nhân ăn năn hoán cải. Lòng kiên nhẫn của TC là một trong những thành tố hữu hiệu nhất để thực hiện ơn cứu độ phổ quát (Rm 2,4; 9,22; 1Tm 1,16). Từ đó, sự bất động hay bất can thiệp của TC, thay vì được coi như là dấu hiện Ngài tỏ ra thờ ơ lãnh đạm, lại là bằng chứng lòng nhân từ của Ngài; không có gì đáng tức giận, như bà góa đã không tức giận trước sự chậm chạp và chống đối của thẩm phán. Chính trong thời gian trì hoãn này mà ta phải tiếp tục bền chí cầu xin, không sờn lòng, vì kinh nguyện nằm trong chương trình kiên nhẫn của TC.

Cần phải trích dẫn trọn vẹn thần học cánh chung của 2P 3,9-15: "không phải Chúa chậm trễ giữ điều đã hứa (lời CGS hứa sẽ trở lại) như có kẻ cho đó là trễ tràng, nhưng Ngài xử khoan dung đối với anh em (makrothumei), bởi không muốn ai phải hư đi, nhưng là hết thảy tìm đường hối cải. Còn ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm; trong ngày đó các tầng trời xèo xèo biến sạch; ngũ hành cháy rụi; đất và các công trình trên đất bị bắt gặp... Vì muôn vật sẽ bị tiêu tan như thế, thì anh em phải nên người thế nào về đức hạnh thánh thiện, và lòng đạo đức trong sự ngóng đợi và cố hối mau cho ngày TC chóng tỏ hiện, ngày sẽ làm các tầng trời bốc cháy tiêu tan và ngũ hành bị thiêu... Trời mới và đất mới đó là điều ta ngóng đợi chiếu theo lời hứa của Ngài... Bởi thế, trong lúc chờ đợi, anh em hãy cố gắng để nên tinh toàn vô tì tích, mà sống trong bình an trước mặt Ngài, vì hãy nghĩ rằng lòng khoan dung kiên nhẫn (makrothumia) của Chúa chúng ta là ơn cứu rỗi của anh em.

Vậy giờ đây, việc TC trì hoãn đã được biện minh trong dụ ngôn vị thẩm phán ù lì. Vâng, TC trì hoãn; đúng là Ngài không can thiệp, dù biết bao,lời kêu van đến Ngài; và chính vì thế mà câu 7b kai makrothumei ep autois nhấn mạnh. Chữ kai có thể có nghĩa concessive, tương tự như ei cai của câu 4: "dù rằng", hay như kaitoi, kaiper, nhưng đúng hơn nên mặc cho nó nghĩa adversative, đã được TƯ dùng nhiều (Lc 13,17; 10,24; Mc 4,17; Gio 7,19; 16,32; 20,29; Cvsđ 7,5...) và tương đương với chữ Waw trong ngôn ngữ Sêmit. Dù sao, chữ kai nói lên sự trùng phùng giữa hai hoạt động và đồng nghĩa với "thực vậy, thực ra" (Cvsđ 22,28; 1Th 2,19; 1Cor 14,19; Col 3,8; 4,3). Phải chăng TC sẽ không minh xử cho các người được chọn mà Ngài hằng yêu mến họ và họ hằng kêu cầu Người, trong lúc thực ra Ngài trì trệ việc nhận lời, phải chăng Ngài điếc ? Nói các khác, Chúa xác quyết tính cách hiệu nghiệm của lời cầu nguyện bền chí (dù xem ra vô hiệu) như gương cầu nguyện của bà góa.

Đây là một mầu nhiệm. Theo thói quen, CGS không minh giải thêm nhưng tái xác quyết lời trấn an: "Ta bảo thật các ngươi, Ngài sẽ kíp minh xử cho họ" (c.8a). "Ta bảo thật các ngươi" là tiếng mời ta nghĩ ngay đến uy quyền của Chúa. Phải tin, dù bề ngoài có vẻ thất vọng: quả thực, TC trì hoãn, nhưng ta bảo đảm cùng các ngươi, ngày kia Ngài sẽ minh xử, như vị thẩm phán này đã minh xử.

4. Vị thẩm phán này đã bất ngờ tự ý quyết định xử án, không có gì tiên báo ông sẽ can thiệp cả. TC cũng sẽ minh xử một cách tương tự như thế, en tachei. Thành ngữ này nói lên tính cách gấp rút, vội vã nhưng cũng có nghĩa thời gian sắp hành động: sắp đến; hay chỉ cách thức hành động: hành động "bất ngờ", "thình lình", như cạm bẫy đột xuất xảy đến, gây nên kinh ngạc, sửng sốt. Chính trong nghĩa cuối cùng này mà ta phải hiểu thành ngữ en tachei mà Lc thường dùng ở 3 chỗ khác nữa (Cvsđ 12,7; 22,18; 25,4).

Vì thế trong dụ ngôn này, en tachei không nhằm nói lên việc TC sắp can thiệp, vì như thế là đi ngược lại với giáo huấn minh nhiên của dụ ngôn cũng như lời xác quyết trì trệ của câu 7a, nhưng nói lên cách Ngài sẽ can thiệp: thật bất ngờ và thình lình để cứu rỗi các kẻ đã được chọn. TC có thể trì hoãn cho đến lúc nào Ngài muốn ra tay hành động; nhưng khi Ngài thể hiện công bằng và quyền năng của Ngài (công bằng và quyền năng mà con cái Ngài hằng kêu xin từ lâu), Ngài không thể hiện cách từ từ, tiệm tiến, nhưng cách nhanh lẹ khôn tả: "Trong một nháy mắt" hay "như chớp từ phương trời này đến phương trời kia" (Lc 17,24), như Ngài đã làm khi xảy ra lụt hồng thủy và khi thiêu đốt Sodôma (Lc 17,26-33).

5. Tuy nhiên có sự khác giữa ngày quang lâm và các đại họa đó. Noê, "người công chính" (2Pet 2,5) là một tâm hồn mạnh tin, điều này đã cứu ông và gia nhân (Dth 11,7); nhưng vào thời sau hết và vì các cuộc bách hại, đức tin sẽ biến mất (2Th 2,3), đức ái của một số đông sẽ nguội dần (Mt 24,12). Sau một thời gian thinh lặng, CGS ưu sầu gợi lên việc chối đạo tổng quát: "Nhưng khi Con Người đến, hỏi còn thấy đức tin trên trái đất này nữa chăng ?" (c.8b). Những kẻ được chọn, nhờ lòng đạo đức sốt sắng của họ, là những kẻ phải cố hối cho ngày Đức Kitô tái giáng mau đến (2P 3,12), sẽ bị thử thách đến nỗi lòng kiên nhẫn của họ sẽ bị ảnh hưởng và TC phải rút nhắn các ngày đó, "bằng không, sẽ không ai được cứu thoát" (Mc 13,20.22). Chính vì thế mà CGS khuyên môn đệ mình đừng buông thả, nhưng phải tiếp tục cầu nguyện liên lỉ dù gặp hoàn cảnh nào, như bà góa kia luôn bền chí trước vị thẩm phán ù lì: trong thời gian (có vẻ khá lâu) giữa việc Đức Kitô ra đi và trở lại (x.Lc 19,12), "phải cầu nguyện liên lỉ, chớ nhàm chán" (c.1). Vì đó là ơn cứu rỗi.

KẾT LUẬN

Sau khi dài dòng nhắc đến việc Chúa Cứu Thế sẽ đến cách khải hoàn để báo thù, và sau khi vấp phải sự kiên nhẫn và im lặng của TC, con người sẽ vô cùng ngạc nhiên về ngày quang lâm. Nhưng sự kiên nhẫn của các người được chọn luôn luôn cầu nguyện và không hề buông thả, phải luôn phù hợp với lòng kiên nhẫn của TC. "Các ngươi cứ bền đỗ, mới cứu vãn được linh hồn các ngươi" (Lc 21,19).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. CGS vừa loan báo cho các tông đồ những biến loạn mà nhân loại sẽ gặp khi Ngài hiển hiện vào ngày thế mạt. Vì biến cố này trì trệ và sự kiên nhẫn của người tín hữu sẽ bị ảnh hưởng. CGS phán dạy dụ ngôn này nhắm giúp họ có một thái độ thích hợp. Đó là điều chúng ta vừa đọc được.

Tác giả phúc âm xác định mục đích câu chuyện, là khuyến khích chúng ta "liên lỉ cầu nguyện, chớ nản lòng".

Và CGS kể trong thành nọ có một vị thẩm phán không kính sợ TC và khinh thường mọi người. Một bà góa đến xin xử kiện, ông từ chối, nhưng bà này, vì không thể "chạy chọt" cho ông, nên nhờ đã gan lì mà được điều bà xin.

CGS kết luận là nếu vị thẩm phán đã minh giải cho bà vì bà làm "ông điên đầu", phương chi Cha trên trời sẽ nghe và minh giải cho những người được chọn, sau khi đã dành nhiều thì giờ để tội nhân có thể ăn năn trở lại.

2. Dụ ngôn nói đến kỳ hạn TC dùng để nhận lời cầu xin của chúng ta. Sâu xa hơn nữa, dụ ngôn đặt câu hỏi: lời cầu nguyện được chấp nhận, có nghĩa gì ? Khi xin TC một điều gì rõ ràng, ví dụ, bánh hàng ngày, chúng ta có biết tất cả ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong điều chúng ta xin không ? Chúng ta có biết TC chấp nhận đến mức độ nào không, vì Ngài luôn nhậm lời chúng ta cầu xin ? Chúng ta chỉ là những con người sống trong giới hạn thời gian, luôn phân chia thành giờ, ngay hôm nay, ngày mai. Chúng ta không muốn ước vọng kinh nguyện mình ngày mai mới được thực hiện: mà muốn được liền, ngay tức khắc. Nhưng TC thấy chúng ta cách khác, vượt quá thời gian và không gian, Ngài nhận lời chúng ta nhưng luôn để ý đến những nhãn giới của số mệnh chúng ta bây giờ và tương lai. TC vượt quá "cái tức khắc". Do đó hãy biết điều này:

a/ TC luôn nhậm lời chúng ta, tại sao ? Vì Ngài là Cha vô cùng nhân từ. Xác tín việc TC luôn nhậm lời chúng ta là một trong những cột trụ cững chãi nhất của cuộc sống Kitô hữu. Nghi ngờ điểm này là phạm đến đức cậy. Do đó, khi cầu nguyện chúng ta đừng nhiều lời, vì TC biết trước và rõ hơn chúng ta những điều chúng ta xin. TC, Cha chúng ta luôn luôn sẵn sàng ban cách dư thừa điều chúng ta cần; phúc âm luôn xác quyết như thế. Nhưng tại sao phải cầu xin ? Việc cầu xin có lợi gì không ?

b/ Lợi ích của việc cầu nguyện. Vì tôn trọng tự do của chúng ta TC không áp đặt trên chúng ta những ân huệ của Ngài, Ngài đáp ứng các ước vọng của chúng ta. Lòng quảng đại của Ngài thỏa mãn vượt quá lời chúng ta cầu xin, nhưng Ngài muốn chúng ta cầu xin. Tại sao Ngài thường có vẻ trì hoãn đáp lời chúng ta ? Vì lòng ước muốn càng nung nấu, lời cầu xin càng bền chí, tâm hồn và con tim chúng ta càng rộng mở hơn. Việc cầu nguyện trước hết có ích cho chính chúng ta. Hơn nữa, khi trì hoãn ban ơn, chẳng phải là vì TC muốn tự hiến chính Ngài đó sao ?



Noel Quession - Chú Giải

Lc 18,1-8

Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.

Như thế, chúng ta không phải là những người đầu tiên gặp những khó khăn trong việc cầu nguyện. Chính các tông đồ cũng "nản chí" . Và Đức Giêsu bắt buộc phải nâng tinh thần họ lên.

Thật vậy thường thì chúng ta bắt đầu cầu nguyện với lòng quảng đại. Chúng ta đã quyết định dành một ít thời gian mỗi ngày cho việc cầu nguyện . Một đôi khi , chúng ta đây mua một tranh thánh để đặt ở góc nhà và nó nhắc chúng ta "phải cầu nguyện". Và rồi trong một vài ngày hoặc một vài tuần, chúng ta dùng một đoạn Tin Mừng và chúng ta cũng đã thử... Nhưng không có gì đã xảy ra ! Chúng ta chỉ đụng phải sự im lặng của Thiên Chúa. Những sự phân tâm, chia trí đã chiếm hết thời gian suy niệm của chúng ta. Thế rồi, chúng ta đã ngừng lại...

Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí !" Lạy Chúa, Chúa nói với chúng con như thế. Biết được Chúa hiểu những khó khăn của chúng con, tốt cho chúng con biết bao. Có một ngàn lý do để không cầu nguyện. Mọi khung cảnh của thế kỷ XX đều nói với chúng ta về hiệu quả tức thì của năng suất. Khoa học và kỹ thuật đã làm cho chúng ta tin rằng sau cùng con người có thể làm được mọi việc, ngay lập tức. Và rồi, bị sự tiêu thụ .. gặm nhắm, chúng ta chạy hết tốc độ. Chúng ta không còn có thời gian để dừng lại. . . trừ lúc bị nhồi máu cơ tim. "Bạn biết đấy, giữa những thời gian, học tập, công việc, lúc thư giản, tham gia; tôi không có thời gian cầu nguyện. Buổi sáng Chúa nhật là thời gian duy nhất để tôi nghỉ ngơi... Bạn biết đấy, tôi không đi dự thánh lễ được. .

"Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí !"

Và rồi, cầu nguyện để làm gì ? Bạn thấy rõ Thiên Chúa không nghe lời cầu nguyện của bạn... Bất công tiếp tục tồn tại trong thế giới . . . Thế thì tốt hơn hết là phải chiến đấu chống lại nó một cách cụ thể thay vì mất thời gian để cầu khẩn cho "Nước Cha trị đến" . . . bởi vì xem ra Nước Cha không bao giờ đến.

Phải cầu nguyện. . . luôn luôn. . . và liên tục. . . "

"Phải cầu nguyện không được nản chí... vững vàng trong sự cầu nguyện . . . với lòng can đảm , kiên trì . . . " .

Độ là hai hình thức rất thường gặp dưới ngòi bút của thánh Phaolô, thầy của Luca (2 Thêxalônica 1,11 ; Côlôxê1,3 ; Philêmôn 4 ; Rôm 1,10 ; 2 Thêxalônica 3,13 ; 2 Côrintô 4,1-16 ; Ga-lát 6,9 ; Êphêxô 3,13).

Người nói : "Trong thành kia, có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó cũng có một bà góa. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông : "Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi". Một thời gian khá lâu, ông không chịu".

Một lần. nữa, Đức Giêsu đã chọn một - thí dụ hắc ám hết mức để làm cho chúng ta hiểu điều Người sắp nói. Một ông quan tòa phương Đông một mình làm nhiệm vụ trong một thành phố nhỏ, không có sự kiểm tra của cấp trên, và có thể kéo dài vụ kiện tuỳ thích. Một người chẳng kính sợ Thiên Chúa, chẳng sợ hãi ma quỷ và khinh khi mọi người. Đối đầu với ông ta là một "bà góa", chính là biểu tượng của những người nghèo không nơi nhờ cậy và không có tiền của, bị những người giàu có thù địch tha hồ bóc lột... "một người đàn bà" không có chỗ dựa về pháp lý, không không để bênh vực…

Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng : "Dẫu bằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhírc đầu, nhức óc". 

Đấy là trong một ít từ, vẽ ra chân dung của một người ích kỷ và vô liêm sỉ. Nếu có khi nào ông ta làm điều tốt lành, "trả lại công bằng" thì người ta chớ có ảo tưởng mà nghĩ rằng đó là hành động của lòng nhân từ. Đơn giản là một sự tình cờ may mắn đã lằm cho lời ích của người khác trùng hợp với lợi ích riêng của ông ta. Ong ta luôn luôn chỉ hành động "vì mình". Khi làm đen tối thêm bức tranh về sự châm biếm mạnh mẽ, Đức Giêsu muốn đẩy chứng minh của Người đến cùng cực. Mọi người đều chấp nhận rằng một người độc địa như thế có thể nhận lời một bà góa mà ông ta khinh miệt... đơn giản chỉ vì để bà góa đừng "quấy rầy" ông ta nữa.

Rồi Chúa nói : "Anh em nghe quan tòa bất chính ấy nói đó ! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người ?"

Vậy đây là một dụ ngôn dùng sự trạng phản, trong đó bài học được rút ra "trái ngược" với ví dụ được nêu ra : Một quan tòa bất chính, bất công, không có lương tâm và lòng nhân từ (1). ông ta từ chối (2) thực thi-công bằng một thời gian dài. Sau cùng, bởi 'lòng ích kỷ phải nhường bộ một bà góa nghèo hèn (3) chẳng là gì đối với ông ta... để bà góa thôi quấy rầy ông ta nữa.

Trái lại, và với lý luận còn mạnh hơn rất nhiều, Thiên Chúa thì vô cùng (1) nhân từ, Người sẽ mau chóng "thực thi công bằng" cho những kẻ Người đã tuyển chọn (3 ) mà Người yêu thương vì những kẻ ấy kêu cầu Người.

Nếu một người độc ác như thế và nhẫn tâm sau cùng lại chấp nhận một lời cầu xin thì Thiên Chúa vốn nhạy cảm với những lời cầu nguyện của người nghèo sẽ còn phải làm nhiều hơn thế nữa.

Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người tuyển chọn sao ?

Trong những dòng Tin Mừng này, bốn lần chúng ta nghe Đức Giêsu nói những từ đó lặp lại như một điệp khúc : Thực thi công bằng" . . . "Trả lại công bằng" . . . ông quan tòa bởi nghề nghiệp của mình phải là hiện thân của' công lý. Công lý là một trong những giá. trị cao nhất của nhân loại... liên quan đến những "quyền căn bản của con người". "Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi người có quyền được xét xử công bình và công khai bởi một tòa án độc lập và vô tư . . . " (Tuyên Ngôn Quốc Tế về Quyền Con Người : 10 tháng 12 năm 1948).

Đức tin Kitô giáo đòi buộc chúng ta phải bảo vệ và thăng tiến công lý. Lời cầu nguyện của chúng ta chỉ trở nên chân thật nếu chúng ta đi tìm công lý. Mà nếu chúng ta "không thực thi công lý" thì… Đức Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng chính Thiên Chúa, Người "sẽ thực thi công lý".

Dù có trì hoãn - Thầy nói cho anh em biết. Người sẽ mau chóng bênh vực họ. 

Đúng vào lúc lên Giêrusalem, lúc mà Đức Giêsu sáng suốt ý thức rằng Người đang tiến đến một sự kết án bất công bởi các quan tòa không công bằng thì Luca đã báo tạo thuật lại các lời đó của Đức Giêsu : "Người sẽ mau chóng bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn . . . . Người sẽ mau chóng thực thi công lý. Khẳng định này có vẻ nghịch lý, khi chúng ta nói rằng sự bất công tiếp tục thống trị thế giới thì chẳng phải là chúng ta được mời Soi thanh luyện ý tưởng mà chúng ta tạo ra cho mình về sự chiến thắng của công lý ? Chiến thắng của Thiên Chúa, quyền năng của Người phải được thực hiện theo một cách hoàn toàn khác với cách chúng ta chờ đợi . Chúng ta luôn có xu hướng thích những quan niệm của con người , những quan niệm thiển cận của chúng ta hơn là những quan niệm của Thiên Chúa. Những lời cầu nguyện của chúng ta thường giống một thứ đòi nợ và chúng ta yêu cầu Thiên Chúa vâng lời chúng ta. Thiên Chúa như "máy phát quà tự động" là một thần tượng giả dối : bạn bỏ vào khe một đồng tiền, bạn kéo cái nút và cái máy đưa ra cho bạn một cái bánh sôcôla mà bạn yêu cầu !

Khi chúng ta có cảm tưởng không được nhận lời, chúng ta được mời gọi hiệp thông với Đức Giêsu... Người được nhận lòi một cách khác ! xin Cha cất chén này khỏi con...".Chén đau khổ không được cất đi. Nhưng, bởi cái chết, Người đi qua niềm vui mừng của sự Phục sinh.

Tuy nhiên bằng kinh nghiệm mà chúng ta biết điều này : Không phải lúc nào chúng ta cũng xin Thiên Chúa điều tốt nhất. Chúng ta không thể hiểu thấu tư tưởng của Chúa. Chúng ta sẽ ra sao nếu nhu mọi thói ngông cuồng ấu trĩ của chúng ta được nhận lời ? Chúng ta giống như mọi sinh vật và cây cỏ : Cần phải có nhịp điệu của mùa màng, sự luân phiên của nắng mưa, của mùa hè và mùa đông và cả những cơn gió mạnh... để lớn lên từ hạt đến hoa và đến quả. Một hạt mầm rẽ ra sao khi nó từ chối mọi thử thách trong dòng phát triển và muốn đòi có mùa gặt ngay hôm sau ngày gieo hạt ?

Đức Giêsu biết rõ Chúa Cha ! Người nói chúng ta phải có lòng trông cậy : "Thầy nói cùng anh em điều này. Thiên Chúa sẽ thực thi công lý cho những kẻ Người đã tuyển chọn ngày đêm hằng kêu cứu với Người . . . " .

Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?".

Thay vì có những "tín hữu" kêu cầu lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đức Giêsu đụng phải những người "vô tín" ngày đêm đều không cầu nguyện. Một câu nói thể nghi vấn và đau đớn. Phải chăng rồi sẽ có một ngày người ta sẽ không còn hỏi liệu Thiên Chúa có nhận lời cầu nguyện hay không, bởi vì sẽ không còn có những lời cầu nguyện ?

Nỗi đau của Đức Giêsu, nỗi đau của Thiên Chúa. . . khi đến gần cái chết sẽ xảy rá, không có được đức tin của dân Người chọn. Mầu nhiệm của tự do con người... tự do có thể từ chối tin, từ chối cầu nguyện.

Bất chợt, chúng ta khám phá rằng Đức Giêsu cảm thấy nỗi lo âu. Người lo âu thật sự trước việc su mạng và sứ điệp của Người bị từ khước.

Chính những người được tuyển chọn bị đe dọa bỏ đạo, bỏ đức tin. Sự tuyển chọn bởi phép rửa tội không phải là một bảo đảm. Đời sống trong một cộng đoàn Giáo Hội trong :một khoảng thời giàn nào đó không chắc làm cho người ta không trở thành vô tín. Thiên Chúa không bao giờ quên chúng ta ; còn chúng ta ? Một câu hỏi nặng nề : "Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất ?" Ngày mai, tôi sẽ còn đức tin không ? và trong ngày tôi sẽ chết ? ngày mà Đức Giêsu sẽ đến để gặp tôi ?

Sau khi đã lặp lại rằng Thiên Chúa nhân từ và luôn luôn nhận lời cầu nguyện, Đức Giêsu cho chúng ta thấy lý do thật sự những thất vọng của chúng ta : Thiếu đức tin, cùng lời cảnh cáo nghiêm khắc đó được lặp lại hàng ngàn lần trong Tin Mừng (Lc 4,18-26 - ?,9-21,23,50 - 8,5-15 -9,41 - 10,21-24 - 11,29-32 v.v...).
Ngày nay, người ta nói về "khủng hoảng đức tin". Đức Giêsu đã nói về nó. Cám dỗ bỏ đức tin không phải chỉ thời đại chúng ta mới có. Ngay từ hôm nay, tôi sẽ làm gì để nuôi dưỡng đức tin ? Phải chăng tôi cầu nguyện .

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn