Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXVI Thường Niên A

Tin Mừng Mt 21: 28-32: Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn hai người con, để trình bày về đời sống đạo đức đích thực, được thể hiện qua việc làm chứ không phải chỉ bằng lời nói suông.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM A

Mt 21:28-32

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON

(Mt 21, 28- 32)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Hãy so sánh sự đối nghịch giữa "nói" và "làm" ở đây với câu kết luận của Diễn từ trên núi (7, 21) và lời xác quyết ở 23, 3. Phải chăng đó là một chủ đề quan trọng trong Mt?

2. Ai là người đối thoại của Chúa Giêsu: đám đồng? Nhóm Biệt phái ? Các môn đồ ?

3. Đâu là điểm tương tự giữa dụ ngôn này và dụ ngôn đứa con hoang đàng? (Lc 15, 11 -32).

4. Chúa Giêsu muốn nói gì khi khẳng định quân thu thuế và lũ đàng điếm "qua trước các ông" mà vào Nước Thiên Chúa? Phải chăng đây chỉ là một vấn đề "trước" về thời gian, trước về thứ hạng?

5. Các người đối thoại của Chúa Giêsu đã nói vâng với Thiên Chúa theo nghĩa nào, và nói không theo nghĩa nào?

6. "Vì Gioan đến với các ông theo đàng công chính": câu này có nghĩa là gì?

1. Mt đã tập trung trong phần này (ch.19-23) ba dụ ngôn nói lên sự đoạn tuyệt, phân cách: hai người con (cc.28-32), thợ vườn nho sát nhân (cc.33-34), tiệc cưới (22,1- 14). Đầu bộ ba, mà có lẽ bắt nguồn từ truyền thống Aram, Mt ghi lại cơ hội nói lên chúng (21 , 23-27). Đó là Chúa Giêsu đang tranh chấp với nhà chức trách Do thái tại Giêrusalem; họ đòi Người đưa ra bằng chứng về ủy nhiệm thần linh mà bấy lâu Người vẫn sách viện. Người liền lái vấn đề sang Gioan Tẩy giả : ủy nhiệm của ông từ đâu mà đến? Nếu từ Thiên Chúa, tại sao nhà chức trách Do thái không tin theo ? liền đó là tới dụ ngôn ta đang nghiên cứu.

2. Chính các thính giả quy hướng dụ ngôn (cc.28-30) về lối giải thích thứ nhất (c.31). Đây là một phương sách thông dụng: người đối thoại được đưa đến chỗ vô tình bày tỏ lập trường và như vậy là tự lên án; y tán thành một dụ ngôn răn đời mà không ngờ mũi dùi của nó lại chĩa vào chính y. Các ngôn sứ đã dùng mánh lới này nhiều, chẳng hạn Natan đã khiển trách Đavít về tội ông phạm bằng cách lúc đầu nói thật bóng gió (2Sm 12). Đây đúng là một luận cứ ad hominem (luận cứ đối nhân). Lối giải thích thứ hai liên kết dụ ngôn với những gì đi trước bằng việc đề cập đến Gioan Tẩy giả; qua ông này, hầu như toàn bộ lịch sử cứu rỗi được gợi lại.

3. Dụ ngôn đưa vào sân khấu hai người con trai. Thiết tưởng cần nhấn mạnh một chút cái danh từ này (mà đúng ra nên dịch là "hai người con"). Thoạt nhìn, mối liên hệ giữa ông cha với hai đứa con thật in hệt. Vì không phải một bên là con, bên kia là tôi tớ, cũng chẳng phải một người là con thứ, một đứa là con trưởng. Hai kẻ được lệnh đi làm vườn nho đều là con hết. Nếu về phía người cha có một sự biệt đãi, thì đó chỉ là hậu quả do lối cư xử của các con ông, chứ không phải theo óc phân biệt mà ngay từ đầu hắn đã cho thấy tình yêu nơi ông có tính cách bất công, thiên vị.

Thành thử bản văn chẳng nhấn mạnh đến tính cách của hai người con và càng không nhấn mạnh đến điều chúng nói. Cái phân biệt chúng rốt cuộc chính là việc chúng sẽ làm hay không làm theo lời yêu cầu của cha. Đứa thứ hai bên ngoài trông đầy đủ đức hạnh: lịch sự đến độ khúm núm, cung kính ra vẻ đạo đức vồn vã ưng thuận quá mức độ thực hiện như lời. Còn đứa thứ nhất cứng đầu nhưng tốt lành tâm địa.

Tiếng vâng mà thực sự là không, tiếng không mà thực là vâng có lẽ làm độc giả nghĩ hai anh chàng thật bất định, ưa nghịch đời, đầy óc mâu thuẫn, nếu người ta chẳng tiết lộ vì sao tiếng không ban đầu của đứa nhất đã biến thành tiếng vâng dạ, thành một việc "thực hiện ý cha". Tính khí bất định không giải thích nổi sự chuyển hướng này, tính khí càu nhàu cũng chẳng cắt nghĩa gì hơn được. Cả hai tính khí không là thìa khóa của dụ ngôn. Nếu bảo là chìa khóa tức là cho xen vào những dữ kiện tâm lý chẳng mấy nằm trong nhãn giới Tin Mừng. Chỉ có thể giải thực.h việc thay đổi thái độ nơi người con thứ nhất bằng sự thống hối đích thực, một lòng thống hối mở được cửa nước trời lòng thống hối tạo nên niềm tin yêu.

4. Khi đã đồng ý nhìn nhận làm giá trị hơn nói, đáng ra các thính giả của Chúa Giêsu phải chấp thuận cái lý tiềm ẩn trong đó và phải bắt đầu đến lượt mình ăn năn hoán cải. Những người thu thuế và gái điếm (hạng vô luân thường đạo) lý như ngày nay ta (vẫn còn bảo) đã có thể sống nhiều năm xa cách Thiên Chúa. Họ đã có thể vô luân thường (vô lề luật) và vẫn còn có thể như vậy, nhưng họ không phải là không có đạo lý (đức tin). Để được cứu rỗi, họ đã chấp nhận phó thác và tín nhiệm vào một con người (Gioan Tẩy giả).

Như thế họ gần với ơn cứu rỗi hơn những Biệt phái giả hình nói vâng mà chẳng làm gì hết (x. 3, 3). Tiếng vâng của những kẻ này chỉ được cái bộ mã: một truyền thống lâu đời về sự mực thước, một sự trung tín bề ngoài không thể chối cãi nhưng lại từ chối công việc làm vườn nho, công việc lớn lao của Thiên Chúa là tin vào Chúa Giêsu Kitô. Việc họ tỉ mỉ giữ luật có lẽ sẽ làm cho họ vinh dự nếu họ ý thức mình làm là làm cho Thiên Chúa, và nếu họ không đặt tất cả tin tưởng vào chính bản thân và vào các nhân đức giả tạo của mình Họ có thể đã sống và sẽ còn sống với Lề luật, nhưng họ không có đức tin vậy.

5. Nói đúng ra, Chúa Giêsu chẳng loại bỏ sự phân biệt giữa những kẻ tuân hành và những kẻ vi phạm Lề luật. Người không chấp nhận sự buông tuồng của hạng này mà cũng chẳng lên án lòng trung tín của hạng kia. Nhưng người tỏ cho cả hai biết một con đường mới mà điều qui chiếu chủ yếu không còn là lề luật nữa. Một viễn tượng mới đã được mở ra: nó đem đến nhiều tự do hơn trước lắm yêu sách quá tỉ mỉ và ít câu thúc hơn trước một chương trình sống chỉ đè nặng và làm vấp ngã con người.

Viễn tượng mới này đòi hỏi phải tin vào sứ điệp của vị Tiền hô và do đó vào Chúa Kitô. Nó giả thiết lòng thống hối. Để vào Nước Trời, thực ra chỉ cần một điều kiện: lòng thống hối mà đức tin là một khía cạnh, cái lòng thống hối bao hàm một thái độ nội tâm sâu xa. Khi phạm tội, ta đã xây dựng lại với Thiên Chúa, bây giờ ta quay về với Ngài, với ý thức đầy đủ là ta không thể tự mình dứt bỏ được tội đã phạm, và vì thế phải trông cậy vào một Đấng khác. Các ngôn sứ đã xem đó là phương thế duy nhất tránh khỏi sự đoán phạt của Thiên Chúa, và "nhóm còn lại" chính là nhóm của những người thống hối ăn năn. Tính tự mãn của Biệt phái đã cản ngăn họ trở nên thành phần của nhóm còn lại này, vì thế họ tự đặt mình dưới án phạt của Thiên Chúa một cách tất nhiên.

6. Lòng thống hối, ơn của Thiên Chúa, một lần nữa dẫn ta về chính con người Chúa Kitô, và trong Người ta nói Amen (tiếng vâng của ta) cho vinh quang Thiên Chúa (2 Cr 1, 20). Dĩ nhiên phải mong rằng khi nghe lời yêu cầu của Chúa Cha, lập tức ta thưa vâng và đem thi hành ngay: vâng thì cho đúng là vâng vậy " (Gc 5,12). Và điều này ta có thể làm được trong Chúa Giêsu là Đấng "đã chẳng phải là vừa "vâng" vừa "không", trái lại chỉ toàn là "vâng" nơi Người " (2 Cr 1, 19 ), cái tiếng vâng của lời hứa mà Thiên Chúa không hề hối tiếc" (Rm 11, 29), nhưng cũng là tiếng vâng của con người đến để làm theo ý Đấng đã sai mình (Ga 4, 34 ; 5, 30 ; 6, 38...). Điều Chúa Giê-su yêu cầu thính giả Người đến lượt họ cũng hãy làm, là tin vào Người, người Con mà Chúa Cha đã sai đến (Ga 6, 29).


CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Các ông nghĩ sao? Một người có : hai con . . . ". Như ở 18, 12 và 22,42, Chúa Giêsu xin ý kiến không phải của môn đồ Người, mà là của các đối thoại viên hay địch thủ. Người này tượng trưng cho Thiên Chúa, như ta có thể diễn dịch dựa trên lời áp dụng Chúa Giêsu sẽ nói sau; hai đứa con của ông tượng trưng hai hạng làm nên dân Do thái thời đó: những "người tội lỗi" hay dửng dưng, không mấy giữ Lề luật và các qui định của giáo sĩ, và những "người công chính" hằng trung thành với tôn giáo chính thức, tức ở đây là các thủ lãnh của Israel. Hãy lưu ý là: hai hạng đều là con Thiên Chúa. Đối với cả hai, bản văn hẳn nhấn mạnh về tính chất (đạo đức, có chân lý tốt hay không), cũng như lời ăn tiếng nói của họ, mà về điều họ sắp làm hay không làm. Trên điểm này, Chúa Giêsu và đối phương người đều nhất trí với nhau (c.31b; xem thêm 23,3: các Biệt phái ngự tòa Môisen và dạy người ta làm, y như Chúa Giêsu). Ở đây cũng như mọi chỗ khác trong một, động từ làm (poiein) là căn băn.

"Hôm nay": Chữ này quan trọng chứ chẳng phải chơi; ông cha trong dụ ngôn không muốn mất giờ giả định về tâm tính, dữ kiện khác biệt của hai con mình; ông đặt cả hai đứa trước cùng các lệnh sẽ quyết định vận mệnh của chúng.

"Về sau": Không nên xem thành ngữ này là một ám chỉ đến lương dân, những kẻ vào Nước Trời sau người Do thái như một số nhà chú giải đã nghĩ. Lối giải thích gượng ép đó không ăn khớp với các hoàn cảnh mô tả trong dụ ngôn. Quả thế, người con thứ nhất trước tiên đã từ chối vâng lời, đó không phải là trường hợp của lương dân: sở dĩ họ vào muộn hơn trong Nước Trời, chỉ vì Nước Trời đã chưa được trình bày cho họ. Đàng khác, câu giải thích rõ ràng Chúa Giêsu thêm vào đã loại bỏ lối chú giải trên.

"Nó hối hận": Nơi đây Mt không dùng động từ "thống hối" (melanoiein) nhưng dùng một động từ khác (metamelesthai); động từ này chỉ xuất hiện thêm trong Mt 27, 3, nhưng lại được dùng nhiều trong bản 70 theo nghĩa hoán cải, trở về với Thiên Chúa (Ed 14, 22 ; Tv 105, 45 ; Xh 13,17...). Người ta không giải thích tại sao người con ấy lúc đầu bướng bỉnh, sau cùng lại hối hận, mà chỉ khẳng định sự kiện thôi. Nhưng gương của nó đáng ra phải làm đứa thứ hai suy nghĩ: chắc hẳn đấy là lý do tại sao nó được đưa vào sân khấu đầu tiên (dù có một số thủ sao đã đảo ngược vai trò, có lẽ để gợi lên sự đối chiếu Israel dân ngoại).

"Vâng, thưa Ngài": Tiếng "Ngài" đây, lạ lùng trên môi đứa con, có thể giải thích được dễ dàng nếu cho người cha là Thiên Chúa. Đây là một tiếng vụt qua bóng bẩy nhằm chuẩn bị cho lời áp dụng sắp tới.

"Qua trước các ông mà vào Nước Thiên Chúa" : Động từ được dùng chỗ này là proagein; ở đây, chữ pro (trước) không có một nghĩa thời gian nhưng có một nghĩa khai trừ. Các người tội lỗi chẳng đi trước Biệt phái song sẽ chiếm chính chỗ của họ trong Nước Trời. Đây là một ngữ điệu Aram, như có một bản văn giáo sĩ đặt vào miệng Thiên Chúa những lời này: "Ai đã đi trước Ta trong việc sáng tạo?", nghĩa là: "Ta đã sáng tạo thế gian, chứ chẳng phải một ai nào khác" (Targ. Hi 41, 3).

"Theo đàng công chính": Thành ngữ (Cn 8, 20 ; 12, 28, Pr 2, 21) diễn tả việc chấp nhận không những hạnh kiểm luân lý của Gioan Tẩy giả, mà còn toàn thể sứ vụ của vị Tiền hô. Thực vậy khi công bố nước Thiên Chúa đang tới gần, Gioan Tẩy giả đã cho thấy dấu hiệu về sự công chính đích thực sắp đến, sự công chính mà Chúa Giêsu mang lại một cách sung mãn tràn đầy. Gioan và Chúa Giêsu đã không giảng dạy hai đường khác nhau, nhưng đã chỉ cùng một con đường duy nhất, con đường thống hối và quay về với Thiên Chúa: trong 3,2 và 4, 17, Mt đã cố công làm nổi bật sự tương đồng sứ điệp này khi đặt vào miệng hai Đấng những lời nói như nhau. Thành thứ kẻ không tin Gioan (nghĩa là chẳng xem ông như người đại diện hữu quyền của Thiên Chúa) cũng sẽ không tin Chúa Giêsu, Đấng mà Gioan loan báo vậy.

KẾT LUẬN

Khi so sánh dụ ngôn này với dụ ngôn đứa con phung phá, ta thấy được mối liên hệ giữa Chúa Giêsu với hàng thủ lãnh Israel đã đổi thay sắc thái đến độ nào. Đứa con nói không và về sau hối hận chắc hắn ít bị khiển trách hơn anh chàng phung phá, song đứa nói vâng rồi chẳng làm một tí mảy mạy thì bị lên án nghiêm khắc hơn người anh cả ghen tương. Trong trường hợp sau này, thính giả dụ ngôn có cảm tưởng người cha vẫn còn trông mong lấy tình yêu bao phủ lòng ghen tương đê tiện của đứa con cả. Nhưng khi nghe dụ ngôn hai người con, người ta đoán chắc Chúa Giêsu chẳng còn hy vọng hoán cải các người Biệt phái. Họ đã chứng kiến sự thánh thiện của Gioan Tẩy giả, lòng thống hối của những người thu thuế và tội lỗi mà rồi chẳng chút động tâm. Xem ra lòng chai đá của họ không thể biến cải được nữa.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Chúa Kitô dạy ta đừng dự đoán giá trị đạo đức của người ta theo các phạm trù chính thức cũng như theo các cam kết lý thuyết hay trên nguyên tắc. Vì cuối cùng, chính cách sống sẽ biểu lộ nhân tâm con người.

2.Tiếng Chúa Cha mời gọi ta đi làm vườn nho hãy còn được tiếp tục gởi đến cho ta. Nó sẽ gợi lên tiếng ta câu trả lời nào ? Phải chăng ta sẽ là những kẻ khéo nói cố tránh đưa vào hành động những câu trả lời đẹp đẽ dựng lên ? phải chăng ta sẽ coi những ước vọng cao quí, những quyết định hay ho là những hành vi đã thực hiện.

3. Sự thống hối cần có để vào Nước Trời chẳng bao giờ chỉ làm một lần là đủ. Phải luôn luôn làm lại, hôm nay cũng như ngày mai. Nếu không, những người thu thuế và đàng điếm (mà ngày nay vẫn còn) sẽ chiếm mất chỗ của ta trong Nước Trời, vì đức tin của họ chân thật hơn đức tin của ta, và cuối cùng sẽ mang nhiều hoa trái.

4. Nơi người con thứ nhất, rõ ràng là cái ý thức về việc nó từ chối đã gây nên lòng hối hận và thúc đẩy nó vâng lời. Thành thử thật là lạ lùng, chính một lời từ chối thẳng thừng với Thiên Chúa, một tội lỗi quá hiển nhiên đã giúp người con kiểm điểm lại thái độ của mình đối với Ngài và đã sửa đổi. Cũng vậy những người thu thuế, đàng điếm, bị dân chúng liệt vào hạng tội lỗi, đã không thể bị ảo tưởng về tình trạng của họ trước mặt Chúa, nên vì thế dễ thấy, dễ ao ước và dễ thực hiện sự công chính mà Chúa đề nghị với họ hơn. Ở đây họ trở nên chân dung của tất cả chúng ta, theo một cấp độ rõ ràng nhiều hay ít. Được Chúa yêu cầu mãi, ta khám phá ra mình đã nhiều lần thản nhiên từ chối thánh ý Ngài, ta đo lường được khoảng cách giữa cái ta đang là với cái đúng ra ta phải trở nên, và đó là một điều kiện đầu tiên để vào Nước Chúa. Không phải là cần phạm tội thêm để làm như một con đường đến cùng Chúa : từ bản chất; tội chỉ làm ta xa Ngài. Nhưng một khi đã phạm, chính tội cũng có thể được sử dụng để trở về với Thiên Chúa. So sánh với một nhân đức giả hình, tội ít ra vẫn có cái "lợi" (nếu có thể nói được như thế) là tạo nên một ảnh trạng rõ rệt: người ta bị dồn vào chỗ phải thống hối hay tiếp tục ngoan cố trong điều dữ, trong lúc nhân đức giả tạo bên ngoài của người Biệt phái, vì bịt mắt không cho ông thấy mình xa Thiên Chúa, đã ngăn chận ông thực lòng hoán cải ăn năn.

5. Thành thử cái quan trọng chẳng phải là khởi điểm, là những lần từ chối đã qua, là các tội dồn đống từng làm nên bao tiếng không với Chúa. Cái quan trọng là nhìn lại những tiếng không của mình để đổi thành tiếng dâng. Điều đó luôn có thể làm được với ân sủng của Thiên Chúa.

Noel Quession - Chú Giải

Mt 21:28-32


Đức Giêsu nói với các thượng tế vằ kỳ mục :"Các ông nghĩ sao ?.."

Dụ ngôn bắt đầu như thế và thực ra gởi đến các từng lớp lãnh đạo của thời đại Người, "các thượng tế và kỳ mục. Văn cảnh có tính chất bút chiến : Đức Giêsu vừa đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền Thờ (Mát-thêu 21,12-17)...rồi một cách tượng trưng Người đã làm cây vả chết khô vì nó không có trái (Mát-thêu 21,!8-22). Những "kẻ cầm quyền" ở Giêrusalem tức giận hỏi Người có quyền gì để làm những hành động khiêu khích ấy. Chính lúc đó, theo bản văn của Mát-thêu, Đức Giêsu đáp lại bằng ba dụ ngôn :Hai người con... những tá điền sát nhân... những khách mời dự tiệc cưới... (Mt 21,28 - 22,14). Cuộc khổ nạn đến rất gần. Đức Giêsu thật sự bị ám ảnh bởi ý tưởng Người sẽ bị loại trừ bởi chính những người lẽ ra phải tiếp đón Người.

Nhưng chúng ta không thể ở mãi trong cách giải thích lịch sử" về cuộc khổ nạn.

Nếu chỉ áp dụng những dụ ngôn của Tin Mừng cho "chúng người khác" thì quả là gian dối. NGàY NAY, các dụ ngôn được nói với mỗi người chúng ta.

Lời kêu gọi tối hậu của Đức Giêsu phải tra vấn chúng ta : "Bạn, X..,, Y...., bạn nghĩ gì về điều đó ?"

Một người kia có hai con trai. ông ta đến nói với người thứ nhất : "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho". Nó đáp : "Con không muốn đâu !". Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi

Bạn nghĩ gì về điều này ? .

Phản ứng đầu tiên của chúng ta là thấy đứa con quả là vô lễ khi nói với cha nó cách thiếu tôn trọng. Và rồi chúng ta thấy nó dễ thường, nó thay đổi ý kiến một cách thật thà và đi hoàn thành ý muốn của cha nó.

Đức Giêsu, khi đưa ra câu chuyện đơn sơ này đã không cho một lời giải thích nào về mặt tâm lý. Người chỉ cho chúng ta một con người "thay ' đổi " . . . "hoán cải " . . . Và đó là một mạc khải củng cố chúng ta. Thế giới hiện đại với những dòng tư tưởng hiện nay; các phương tiện truyền thông cố làm cho chúng ta tưởng rằng con người bị điều kiện hóa và như bị giam hãm luôn trong chủ nghĩa tất định, lấy đi của chúng ta mọi trách nhiệm và mọi tự do. Đặt những sự thất bại, khiếm khuyết của chúng ta lên trách nhiệm của xã hội của tính khí người khác quả là có lợi ! Trái lại, Đức Giêsu đưa chúng ta về trách nhiệm của mình khi nhắc lại rằng các ván bài không bao giờ được chọn trước. Dù quá khứ của chúng ta là gì, dù trước đó chúng ta từ chối điều gì một sự thay đổi là luôn luôn có thể. Đức Giêsu là Đấng không bao giờ giam hãm một người nào trong quá khứ , Đức Giêsu là Đấng cho mỗi người cơ hội của mình, dù đó là người tội lỗi nhất.

Như thế chúng ta được mạc khải rằng Thiên Chúa không nhìn chúng ta "đông cứng" nhưng "đang trở thành".

Trong những khó khăn hiện nay của chúng ta, Người nhìn thấy con người mới có lẽ sắp được sinh ra từ đó. Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì Chúa đặt vào lòng chúng con niềm hy vọng ấy. Lạy Chúa, xin giúp chúng con không làm đông cứng người khác,... đừng dán lên người khác một nhãn hiệu không thể thay đổi . . . nhưng cho họ có cơ may đổi mới. Tuy nhiên, chúng ta đã đoán ra rằng Đức Giêsu có một ý tưởng khác trong trí óc Người. Tại sao Người đã mô tả đứa con thứ nhất" nói ' tiếng không, nhưng dầu sao nó đã vâng lời.

Ông đến gặp người thứ hai và cũng bảo như vậy nó đáp : "Thưa ngài, con đây !" nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ?"

Rõ ràng người con thứ hai được nhấn mạnh. Sự tương phản nổi bật như ý muốn. Và trong văn cảnh bút chiến tranh cãi giữa Đức Giêsu và các quyền bính tôn giáo tại Giêrusalem, Đức Giêsu nhắm đến họ, những thượng tế và kỳ mục. Nhưng " NGÀY NAY vấn đề cũng đặt ra cho chính chúng ta. Bạn nghĩ gì về vấn đề đó ? Người nào trong hai người con đã làm theo ý muốn của người Cha ?

Họ trả lời : "Người thứ nhất"

Thật vậy chúng ta không thể có câu trả lời khác. Những lời nói đẹp mà thôi không đủ. Chính những hành động của chúng ta mới đáng-kể chớ không phải ý định của chúng ta. Dưới góc độ này, Đức Giêsu rất hợp với thời đại : Thế giới ngày nay thán phục tính hiệu quả. Người ta nghi ngờ những người nói hay - những kẻ đại ngôn - chỉ làm cho chúng ta say sưa bới những lời tuyên bố trống rỗng. Nhưng ý thức hệ lý thuyết đều mất hết tốc độ. Người ta phán đoán những lời hứa dựa vào những kết quả có thực.

Nhưng chúng ta chớ phán xét những người khác. Người con thứ hai này thường rất giống chúng ta. Chúng ta cũng tiền hậu bậc nhất. Ví dụ như chúng ta cho rằng mình là những "tín hữu' nhưng "không hành đạo". Chúng ta nói theo Thiên Chúa bằng môi miệng nhưng không theo bằng hành động .

Hoặc giả, chúng ta san sàng hát kinh Tin Kính ở nhà thờ, những suốt tuần lễ thì làm ngược lại. Biết bao lần chúng ta đã nói với Thiên Chúa : "Nước Cha trị đến. . . ý Cha thể hiện. . . " mà thái độ của chúng ta có tương ứng với những lời tuyên bố cao đẹp ấy không ? Nhưng chúng ta đã được cảnh báo : "nói" không quan trọng bằng "làm". Người ta không đánh lừa được Thiên Chúa. Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : "Lạy Chúa ! Lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời" (Mát-thêu 7,21). Và Thánh Gioan diễn tả : "Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi nhưng phải yêu thường cách chân thật và bằng việc làm" (1 Gioan 3,18).

Đức Giêsu nói với họ : "Tôi bảo thật các ông những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông".

Đức Gìêsu dẫn vào kết luận b ằng một công thức long trọng . "Tôi bảo thật các ông !" . Khi Đức Giêsu sử dụng công thức này, luôn luôn Người muốn loan báo một điều gì rất quan trọng. Vả lại ở đây, quan điểm của Người làm người ta kinh ngạc và gần như gây vấp ngã.

Bằng cách nào ? Bằng cách cho chúng ta một ví dụ về "những người tội lỗi chuyên nghiệp" , những người tội lỗ bởi tình trạng đời sống, những người tội lỗi công khai chăng ? những người thu thuế là những người thỏa hiệp với tiền bạc ? Những cô gái điếm là những người thỏa hiệp về xác thịt ?

Tuy nhiên, thật tệ hại khi tưởng tượng rằng Đức Giêsu biện minh cho "lợi lộc" mà "tình dục sai lệch" đem lại. Câu tuyên bố nghịch nghĩa này cũng như dụ ngôn nói trên của Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến sự hoán cải.

Tội lỗi tệ hại nhất chính là lòng tự mãn : không cần đến Thiên Chúa ! bất chấp đến Người. Và chúng ta biết rằng vào thời của Đức Giêsu những người tin rằng mình công chính" quả thật đã không cần ơn cứu độ mà Đức Giêsu đem lại cho họ. Nhưng những người tội lỗi đàn ông có, đàn bà có đã chạy đến cùng Chúa Giêsu như đến Cứu Chúa của họ.

Nhà văn Péguy đã diễn tả một cách tài tình khía cạnh ấy của tội lỗi, vốn là một điều xấu tự bản chất trở thành một điểm hút thấm đối với ân - sủng. "Người ta đã thấy ân sủng xâm nhập vào một linh hồn bại hoại, và người ta thấy ân sủng cứu sống 'những gì đã bị hư mất. Nhưng người ta không thấy nó xuyên qua cái gì không "thấm nước" . . . Những con người tử tế lương thiện hoặc sau cùng những con người mang danh như thế mà tấm áo giáp của họ không có chỗ khiếm khuyết. Bởi vì họ không thiếu sót gì, người ta không mang lại cho họ điều gì".

Phải chăng như những người tội lỗi mà Đức Giêsu đề cập tôi biết chuyển những tội lỗi của tôi thành cơ hội mầu nhiệm để mong ước ân sủng cứu thoát tôi khỏi những giới hạn của minh ?

Phải chăng tôi hay xét đoán bề ngoài những con người sa đọa nhất, thay vì cho họ cơ hội chưa từng có, theo đường lối của Tin Mừng. "Những kẻ tội lỗi công khai sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông". Đức Giêsu nói về hạng người nào ? Người nói với ai bằng "các ông" ? Những hạng người tin rằng mình công chính và bị gạt khỏi Nước Thiên Chúa là ai ? Đôi khi tôi có thuộc vào hạng người đó không ?

Lạy Chúa, xin hay thương xót chúng con !

Vì ông Gioan Tẩy Giả đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy ; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin.

Trong lúc đụ ngôn "hai người con" nhấn mạnh đến sự tương phản giữa "nói " và làm !" " giữa nói "có " trên môi miệng và nói không trong hành động... kết luận này nhấn mạnh sự tương phản giữa "tin" và 'không tin". Câu này có trong Tin Mừng Thánh Lu ca trong một văn cảnh khác (Lc 7,29-30). Đã hẳn Mát-thêu đã thay đổi chút ít để đặt câu ấy ở đây để đáp lại câu hỏi mà Đức Giêsu đã đặt ra ở trước bài Tin Mừng này : "Vậy, phép rửa của ông Gioan do đâu mà có ? Do Trời hay do người ta ?" (Mát-thêu 21,25).

Một lần nữa, qua những người đồng thời của Đức Giêsu, chính chúng ta được tra hỏi. Dù qua lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả hay lời rao giảng của Đức Giêsu, thì lúc nào cũng chính là Thiên Chúa yêu cầu chúng ta nói tiếng vâng" bằng một đức tin "sống động". Và tiếng "vâng" ấy của đức tin thường là một "sự hoán cải, một sự đổi mới cuộc đời.

Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.

Đức tin trong Tin Mừng trước tiên không phải là sự liên kết với các chân lý phải tin bằng trí tuệ. Đúng ra đó là sự liên kết ý muốn của mình với ý muốn của Thiên Chúa kêu gọi chúng ta : "Hôm nay con hãy vào làm việc trong vườn nho của Thầy !". Hoặc là người ta đáp ứng với lời kêu gọi ấy của Thiên Chúa, hoặc là qua những sự kiện cụ thể, người ta không đáp ứng lại. Có một từ nhỏ mà quan trọng trong đức tin Kitô giáo chúng ta, một từ không được dịch ra bất cứ ngôn ngữ phụng vụ nào và chúng cho mọi tín hữu, đó là từ Amen có ý nghĩa chính xác là "xin vâng bằng các hành động" mà chúng ta phải nói với Thiên Chúa : Amen…vâng. . đúng vậy, tôi tin, chắc chắn là như thế, tôi trở về, tôi chấp nhận điều đó cho cuộc sống mỗi ngày của tôi...". Mỗi Chúa nhật, miệng chúng ta đọc bao nhiêu tiếng Amen ? Và chúng ta đưa vào thực hành trong tuần lễ tiếp theo bao nhiêu lần ?

Vì Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã không vừa là có vừa là không, Người chỉ toàn là có... Vì thế cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên Amen để tôn vinh Thiên Chúa (l Cô-rin-tô 1,19).


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Những người thu thuế và gái đếm

sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông"


I. Ý CHÍNH

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn hai người con, để trình bày về đời sống đạo đức đích thực, được thể hiện qua việc làm chứ không phải chỉ bằng lời nói suông.

II. SUY NIỆM

1/ "Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão":

Tại đền thờ Giêrusalem (Mt 21, 23-27) nhà chức trách Do Thái, tức là các thượng tế và các kỳ lão, đòi hỏi Chúa Giêsu phải đưa ra bằng cớ để chứng minh quyền cớ của Chúa Giêsu có nguồn gốc từ Thiên Chúa. Để trả lời Chúa Giêsu liền lái vấn đề sang Gioan Tẩy Giả rằng:Ủy nhiệm của Gioan Tẩy Giả từ đâu mà đến? Nếu từ Thiên Chúa, tại sao nhà chức trách Do Thái không tin theo? Nhân cơ hội này, Chúa Giêsu đã nói lên dụ ngôn hai người con.

2/ "Các ông nghĩ sao…"

@ Đây là kiểu hỏi để gây chú ý cho người nghe, Chúa Giêsu thờng dùng kiểu nói này nhiều lần (Mt 18,12; 22, 42). Riêng ở đây Chúa Giêsu không hỏi các môn đệ, nhưng hỏi các thượng tế và các kỳ lão.

@ Người kia: Cách nói trống này có ý ám chỉ Thiên Chúa .

@ Có hai người con: Ở đây chỉ nêu lên hai người con mà không xác định thêm chi tiếc ai là con cả, con thứ, hoặc con nào tốt, con nào xấu. Như vậy có ý đặt hai người con trước một sự đối xử công bằng, khách quan không thiên vị, của người cha.

@ Khi áp dụng về hai người con này, người ta thường cho rằng hai người con đó có ý ám chỉ hai thành phần của dân Do Thái:

+ Một bên bị liệt vào số những người tội lỗi nhưng lại biết làm tho giáo huấn của Chúa, đó là các người thu thuế và gái điếm

+ Một bên là những người có vẻ công chính, nhưng lại cứng lòng không chịu tiếp nhận giáo huấn của Chúa . Đó là các thượng tế và các kỳ lão.

Cả hai hạng người này đều là con của Thiên Chúa. Ở đây không chú trọng đến tình trạng đạo đức của mỗi người con đó. Cũng không để ý tới lời nói, nhưng quan tâm đến việc họ không làm hay sẽ làm.

3/ "Hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha"

@ Hôm nay, chỉ thời gian hiện tại, có giá trị như một việc cấp bách phải làm ngay, vì nó có liên hệ ến một mệnh lệnh sẽ quyết định vận mệnh của mình: "Nầy, chính bây giờ là thời đại sủng. Này chính bây giờ là ngày cứu độ" (2Cr 6,2).

@ Hãy đi làm vờn nho cho Cha: diễn tả một công việc làm theo ý của Thiên Chúa.

4/ "Con không đi…"

Diễn tả một sự từ chối, bất tuân. Đây là thái độ của những kẻ tội lỗi, sống ngợc với lề luật Chúa và Giáo Hội.

Nhưng sau nó hối hận và đi làm: Ở đây không nói lý do tại sao nó hối hận, chỉ đơn giản nêu lên sự kiện tốt đẹp là "hối hận" và "đi làm". Điều này chứng tỏ sự hối hận là động lực thúc đẩy việc đi làm. Vì muốn nhấn mạnh sự "hối hận và đi làm", nên ở đây đã kể người con này trước. Trong khi đó có một số văn bản khác, có ý dùng dụ ngôn này để ám chỉ cách rõ rệt là hai hạng người là Israel và dân ngoại đã ể theo thứ tự ngược lại.

5/ "Thưa cha, vâng con đi…"

Cách thưa diễn tả một thái độ ngoan ngoãn, lễ phép của người con này.

@ Nhưng nó lại không đi. Vâng theo lời nói nhưng từ chối theo việc làm: ngôn hành bất nhất, chứng tỏ một nếp sống vụ hình thức. Ở đây có ý ám chỉ đến những người cầm đầu dân Do Thái: là các thượng tế và các kỳ lão, là những người tỏ ra đạo đức, nhưng lại không làm theo lời Chúa dạy.

6/ "Ai trong hai người con đã làm theo ý cha?"

Đặc câu hỏi này, một đàng Chúa muốn cho các thượng tế phải tỏ ra nhận thực của mình về điều hay lẽ phải, đàng khác Chúa cũng muốn cho những người nghe nhận thấy rõ sự mâu thuẩn giữa cá thượng tế và kỳ lão là những người giử luật tỉ mỉ và trung tín bề ngoài, nhưng lại từ chối công vệc của Thiên Chúa là tin vào Đức Giêsu Kitô.

7/ "Tôi bảo thật các ông…"

Lẽ tất nhiên Chúa Giêsu không nói dối cũng chẳng nói đùa mà chỉ nói thật thôi. Nhưng sở dĩ Chúa muốn nói lên như vậy là có ý nhấn mạnh một điều Ngài sắp quả quyết.

- "Những người thu thuế và gái đếm…"

Đây là hai hạng người đã bị xã hội Do Thái khinh bỉ và không giữ luật Maisen và sống trong tội lỗi.

- "Vào Nước Thiên Chúa trước các ông…"

" Vào Nước Thiên Chúa trước" ở đây không có ý chỉ thời gian trước hay sau, nhưng có ý nghĩa là thay thế. Những người thu thuế và gái điếm là những người biết hối hận và tin theo giáo huấn của Chúa, nên họ sẽ chiến chỗ trong Nước Trời thay thế cho các thượng tế và các kỳ lão.

8/ "Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính…"

Gioan Tẩy Giả, qua đời sống đạo đức cá nhân và qua lời giảng, đã chỉ cho dân Do Thái biếtnhững điều cần phải chu toàn để thực hiện ý Thiên Chúa , đó là đường dẫn người ta đến Đấng Cứu Thế và làm cho người ta nên công chính. Những thượng tế và các kỳ lão đã không tin theo đường đó, ngược lại những người thu thuế và gái điếm đã tin theo nhờ lời giảng của Gioan Tẩy Giả.

9/ "Còn các ông…"

Sau khi xem thấy điều đó, những thượng tế và kỳ lão đã thấy lối sống đạo đức của Gioan Tẩy Giả và đã được nghe những lời ông giảng dạy, đồng thời họ cũng đã được chứng kiến những người thu thuế và gái điếm, thế mà họ vẫn không nhúc nhích gì. Họ đã cứng lòng tới mức không lay chuyển được.

Điều này muốn nói tới những người sống đạo đức giả vụ hình thức mà không để tâm trí đến việc hoán cải đời sống và thánh hoá bản thân, mặc dù họ đã từng được nghe giảng dạy, từng chứng kiến những gương lành và những ơn trở lại của người khác.

III. ÁP DỤNG

A/ Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta có một đời sống đạo đích thực bằng cách biết lắng nghe và tuân giử lời Chúa trong đời sống hằng ngày.

B/ Áp dụng thực hành:

1/ Nhìn vào Chúa Giêsu

a) Xem việc Chúa làm:


Chúa Giêsu đã khéo léo trình bày dụ ngôn này nhằm mục đích giúp người nghe tự rút ra kết luận (họ đáp: người con thứ nhất) người nghe đây lại là các thượng tế và các kỳ lão mà dụ ngôn đang nhắm tới. Phương pháp trình bày dụ ngôn này cũng giống như tiên tri Nathan kể cho Davit để sữa lỗi ông (2Sm 12) hoặc dụ ngôn chủ nợ (Lc 7, 41-43). Chúng ta noi gương Chúa dùng phương pháp này trong vệc dạy dỗ hướng dẫn và cải hoá tha nhân.

b) Nghe lời Chúa nói:

- "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho": Hằng ngày, nhất là hôm nay, Chúa vẫn gọi chúng ta đi làm vường nho cho Chúa qua các việc bổn phận, các việc bác ái từ thiện:

@ Ta hãy thưa vâng rồi nỗ lực và chăm chỉ thực hiện sự vâng đó.

@ Nếu trót thưa không hoặc thưa không rồi không đi làm và hãy hối hận và đi làm

"Ai trong hai người con đã làm theo ý Cha mình": Chúa thường đặt câu hỏi tương tự như vậy với mỗi người chúng ta, để đòi hởi quyết định phải lực chọn cho phù hợp với tiếng lương tâm chân chính của mình.

"những người gái điếm và thu thuế sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông". Chúa muốn nhắc chúng ta đừng khinh thường hay thất vọng về những người khô khan, xấu xa, tội lỗi, bởi vì sẽ có lúc họ đón nhận ơn Chúa để hối ận và trở lại hoàn thệ đời sống. Bổn phận của chúng ta là phải nâng đỡ những người đó.

"Vì gioan đã ến với các ông trong đường công chính": Chúa muốn cảnh giác vì chúng ta không chịu nhìn nhận những gương lành của tha nhân, đã không chịu nghe theo những lời giảng dạy của Giáo Hội , của những người trên, để hoán cải và hoàn thiện đời sống của mình.

2/ Nhìn con người biết hối hận:

Việc hối hận đổi mới con người chúng ta. Việc này không phải chỉ thực hiện một lần rồi xong nhưng vì con người chúng ta yếu đuối, chúng ta sẽ phải lập lại vệc đó suốt đời.

3/ Nhìn vào con người thưa vâng rồ không đi:

- Chúng ta hãy kiểm điểm lại tiếng vâng của chúng ta đối với Chúa , nhất là đối với ba lời khuyên Phúc Âm.

- Ta muốn người khác giữ lời hứa với ta. Vậy ta cũng đừng thất hứa với Chúa.


HTMV Khóa X - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn