Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XXXI Thường Niên C

Tin Mừng Lc 19: 1-10 Tin Mừng hôm nay thuật lại việc ông Giakêu ăn năn trở lại để nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa, và địa vị người tội lỗi trong chương cứu chuộc của Chúa Giê-su Kitô.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN C



Kn 11,22-12,2 ; 2Tx 1,11-2.2 ; Lc 19,1-10

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

GIAKÊU (Lc 19,1-10)

1. Chúng ta đang ở cuối cuộc đời công khai của CGS. Đức Kitô sắp lên Giêrusalem để chịu chết, dù các tông đồ không hiểu ý nghĩa sự loan báo cuộc tử nạn (18,31-33). Vậy chính trong một viễn tượng bi thảm mà sắp diễn ra những biến cố sau đây: Chúa chữa lành người mù trên đường đến Giêrico, ông Giâkêu ăn năn trở lại. Bầu khí này làm nổi bật những cử chỉ của CGS.

Chữa lành bệnh nhân, việc người ta ăn năn trở lại một cách đặc biệt, đối với Đức Kitô thì không phải đơn thuần là những hành vi thương xót có tính cách vật chất hay tinh thần. Chúng có ý nghĩa tiên tri do CGS, thủ lãnh các tiên tri làm chủ. Quả vậy, Ngài biết rằng ngôn ngữ con người có thể diễn tả các ý niệm nhân loại, nhưng bất lực khi biểu lộ một vài thực tại tinh thần cao siêu hơn. Khi tiếp tục truyền thống tiên tri của Israel trong thứ ngôn ngữ này, Ngài không thể không biết rằng các cử chỉ trong một vài hoàn cảnh có thể thay thế cho từ ngữ và có thể nói lên ý nghĩa của cái vô hình một cách hữu dụng hơn. Những cử chỉ tiên tri này của Đức Kitô làm thành một thứ giáo huấn cụ thể dễ hiểu đối với những người đơn hèn nhất, nhưng lại khiến những người khôn ngoan nhất phải thán phục. Chắc chắn đó là một sự chuẩn bị cho những cử chỉ mà CGS phải làm sau đó dưới hình thức nhiệm tích. Việc ông Giakêu ăn năn trở lại dạy ta cách rõ ràng về lòng thương xót của TC, về địa vị người tội lỗi trong chương trình cứu chuộc và về chiều kích mầu nhiệm mà bất cứ nhà nào mở cửa đón đấng Kitô đều đạt được.

2. Lúc gần tới Giêrico, một người mù tuyên xưng Ngài là Con Vua Đavit. Và CGS đã chữa lành ông ta. Người được làm phép lạ quấn quít theo Ngài và tất cả đám đông bắt đầu ca tụng TC và Ngài đã làm những điều kỳ diệu dường ấy. Tiếng vang của việc chữa lành đầu tiên này lan rộng như cát bụi bay tới Giêricô. Một trong những người đầu tiên nghe được tiếng vang này là ông trưởng ty quan thuế.

Lc thường không nói lên các chi tiết liên quan đến những nhân vật mà ông đề cập đến. Tuy vậy, ông cũng cho ta biết tên của viên chức này là Giâkêu. Cái tên này có nghĩa là "người trong sạch". Về phía Lc, phải chăng đó là chuyện hài hước ? Bởi vì một người thu thuế mệnh danh là "người trong sạch" cho ta cảm tưởng tương tự như một người hà tiện có biệt hiệu là "người quảng đại". Nếu Lc không muốn làm hề để chúng ta cười thì những người ở Giericô, chính họ chắc chắn biết cái tên này không thích hợp với con người chút nào: Giâkêu, người tôi lỗi do bởi chức vị, dưới mắt họ được gọi tên là kẻ bị khai trừ. Giâkêu là người thu thuế; ông giàu có nhờ đó, nhưng cũng vì đó mà gặp phải bất hạnh.

3. Đức Kitô là người đưa ra sáng kiến giúp ăn năn trở lại. Đã đến lúc CGS xin hoặc nhận sự trợ giúp để tạo nên cơ hội cho Ngài ban ân sủng. Ngài xin người đàn bà xứ Samaria một chút nước để mạc khải cho Ngài biết Ngài có một thứ nước hằng sống làm hết khát và có thể biến cải bất cứ hữu thể nào thành nguồn nước tuôn trào trong cuộc sống vĩnh cửu. Ngài nhận dầu thơm của người đàn bà tội lỗi để minh nhiên hóa việc tha thứ Ngài ban cho bà trước mặt mọi người. Như vậy, TC làm người muốn biểu lộ một tình yêu chứ không phải là một sự thương hại. tình yêu sáng tạo và cứu độ trước hết chấp nhận đường lối đơn giản, thân tình của tình bạn là nhận ngay trước khi trao ban. Và chắc chắn đó là một trong những biểu lộ cao cả nhất của lòng thương xót của TC đối với những hữu thể mà Ngài muốn ban đầy ơn phúc.

Trong khi vị hoàng tử cải trang thành người ăn mày để bố thí mà không đánh mất danh dự, thì CGS đến với người thu thuế đang ở trên cây, như một người giảng rong để kiếm ăn: Ngài nói với ông: "Giâkêu, trèo xuống mau". Trong cái vội vàng của CGS có một thứ hài hước đầy dịu dàng, gần như là Chúa muốn nói với ông: Giakêu ta đói lắm rồi, vội vàng lên chứ ! Thực vậy Ta muốn khẩn trương tới nhà ngươi để mầu nhiệm cứu độ mà Ta mang đến cho thế giới được hoàn tất nơi ngươi.

"Thấy vậy, mọi người xôn xao và nói: ông này đến trọ nhà một người tội lỗi" (c.7). Gương xấu lên tới tột điểm khi CGS không những chỉ quyết định dùng cơm tại nhà người thu thuế, mà còn muốn ở lại đó một thời gian. Nguyên việc dùng cơm với những người tội lỗi công khai đã là nặng rồi; hơn nữa việc tạm trú trong nhà người tội lỗi công khai chắc chắn làm người ta chỉ trích ầm ĩ. Lời xôn xao này, không phải chỉ do một vài người biệt phái ưa chỉ trích, nhưng chắc chắn là của toàn thể đám đông.

4. "Nhưng Giakêu nhất quyết nói với Chúa: vâng, lạy Chúa, con sẽ lấy nửa gia tài của con để cho người nghèo..." (c.8a). Thật vậy, Giakêu đang đón Đức Kitô nơi cửa nhà ông. Dường như, ông cố ý tuyên bố công khai với hai chủ đích. Một đàng muốn nói lên sự thành tâm ăn năn trở lại của ông, Đàng khác, một cách nào đó, ông có ý khẳng định trước mặt mọi người rằng CGS đã làm đúng khi chọn trọ tại nhà một người không có tà tâm như người ta tưởng. Khi công khai thống hối để nói lên tấm lòng đơn sơ quảng đại của ông, Giakêu đã cho cử tọa thấy và biết cái nhìn phi thường của vị tiên tri ghé qua Giêricô hôm ấy. Cái nhìn của Ngài thành công ở chỗ đụng tới tim đen và từ đó làm lóe lên ánh sáng của TC.

Câu nói của người thu thuế trùng hợp cách kỳ lạ lời cầu nguyện của người biệt phái đầy kiêu căng - xem dụ ngôn thuật lại ở trên - "Tôi dâng một phần mười của cải của tôi" (Lc 18,12). Tuy nhiên giữa người tự kiêu vì đã chu tất của lễ mình dâng và người tội lỗi công khai dưới tác động của ân sủng, bằng lòng cho đi nửa gia tài, thật là khác biệt giữa một lòng sùng đạo cách ngu ngốc với một người như thánh Phanxicô khó nghèo hoặc thánh Gioan TC, là những vị đã bị đảo lộn bởi những tác động đầu tiên của TC. Khi hy sinh như thế, không có gì là nặng nề đối với người biết mình đã được tha thứ.

Thế nhưng, Giakêu để ý ngay đến việc bác ái và công bằng. Ông biết rõ là khi hành nghề, ông đã có thể lạm thu thuế má và bây giờ ông hối hận và muốn sửa lỗi. Ông áp dụng cho ông luật ghi trong sách xuất hành Ai cập (Xac 21,1) được Đavit nhắc lại (2S 12,6) được dự trù trong những trường hợp tương tự. Giakêu cũng phát biểu rằng chỉ có lòng bác ái mới xóa sạch các vết nhơ do việc làm tiền quá đáng của ông, rằng chỉ có sự công bằng mới xóa sạch bất công. Dù sao ông cũng không keo kiệt.

5. Bấy giờ, CGS quay về phía Giakêu, nhưng lại nói với tất cả cử tọa; hình thức văn phạm của Lời Ngài (Ngài nói về ông Giakêu ở ngôi thứ ba) chứng minh điều này. Qua đó, Ngài hòa giải Giakêu với cộng đoàn Israel, trả lại cho ông các đặc quyền thừa tự lời hứa. Ngoài ra, Ngài còn công khai bác bỏ luận điệu của những luật sĩ tham quyền, theo đó , một số người tội lỗi công khai không thể có hy vọng được cứu rỗi. Cuối cùng, những lời này một lần nữa nhắc lại sứ mạng của Con Người "đến tìm kiếm và cứu vớt những gì lạc mất" (x.Lc 15,6.9.24.32).

Khi quảng đại đón nhận ơn cứu độ, Giakêu khẩn trương thi hành lời khuyên quí báu nơi phúc âm Lc: phải mau mắn biến cải những sự giàu có thế gian thành những giá trị thiêng liêng theo định luật nhiệm mầu về sự giao hoán do Đức Kitô đề ra: "Của cải, các ngươi hãy bán đi mà bố thí. Hãy sắm cho mình những túi tiền không hề hư hỏng, kho tàng không hề hư hao trên trời, nơi trộm cắp không lai vãng và mối mọt không nhấm nát. Bởi vì, kho tàng các ngươi ở đâu thì lòng các ngươi ở đó" (Lc 12,33-34). Thật vậy, phải có ân sủng do sự hiện diện của CGS mới có thể khuất phục cách mau lẹ một nhà tài chánh thay đổi hệ thống kinh tế của mình.

6. Câu chuyện Giakêu có một sắc thái đặc biệt khi được đặt trên hậu cảnh CƯ, gợi lại sự hiện diện đáng sợ của TC trong một vài nơi đặc biệt. TC, đấng xưa kia chỉ vào nơi cung thánh của đền thờ với vẻ lộng lẫy cao cả của vinh quang Ngài, bây giờ đang ở trong nhà người tội lỗi với vẻ đơn sơ của Ngôi Lời Nhập Thể. Chắc chắn, đền thờ Salomon xây đã trở nên nơi gặp gỡ của dân tộc tội lỗi với TC của họ (1V 8,20-40), thế nhưng, thực tế người ta đến đó triều bái hoàng tử để xin Ngài thương xót. Ngày hôm nay TC di tản chiến thuật, chính Ngài đến cư ngụ nhà người tội lỗi.

Có một cái gì đó đã thay đổi trong quan niệm về cung thánh và người Kitô hữu bây giờ không còn thấy Đền thờ của họ như kiểu mẫu thời xưa. Đối với người đàn bà Samaria, CGS mạc khải ngày tàn của các cung thánh muốn trở thành trung tâm của thế giới: TC phải được tôn thờ "trong tinh thần và chân lý" (Gio 4,24). CGS cũng nói cho chúng ta biết thân xác của Ngài là đền thờ mới (Gio 2,19-21). Khi CGS vào nhà ông Giakêu, Ngài chính là đền thờ đích thực, là cung thánh duy nhất, từ đó tuôn ra nước hằng sống cho đời sống vĩnh cửu đến thánh hóa nhà người tội lỗi.

Nhà của người bất xứng, nhờ có Đức Kitô hiện diện, trở thành một nguyện đường, nơi đó cử hành phụng vụ về lòng xót thương và nghi lễ hiệp thông. Giakêu trần tình nơi cửa nhà ông. Không ai cấm ông ngồi bên CGS trong bữa ăn được dọn ra sau khi Ngài vào nhà. Như vậy trong một vài giờ, tại một căn nhà ở Giêrico có cử hành mầu nhiệm thánh, khiến nhà ở của con người trở thành nơi cư trú của Đền thờ chân thật duy nhất là nhân tính của CGS.

KẾT LUẬN

Câu chuyện Giakêu ăn năn trở lại gồm tóm tất cả những từ ngữ cũng như những ý tưởng đặc trưng của Lc: hôm nay, ơn cứu độ; cứu vớt những ai lạc mất; (người) nhỏ bé, (người) tội lỗi, (người) thu thuế; ý định cứu độ của TC là cần thiết; sự vội vàng đón tiếp vào nhà, sự vui mừng. Chính ân sủng dồi dào của TC và thiện ý đầy tràn của con người được tỏ lộ tại Giêricô, thành phố mà từ đó CGS lên Giêrusalem, thành chờ đợi lịch sữ cứu độ hoàn tất, là nơi phát xuất ơn cứu độ.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. CGS để ý thấy Giakêu đang ở trên cây sung và Ngài là người có sáng kiến mang lại ơn cứu độ cho ông. Về phía Giakêu, ông ước ao gặp CGS và làm mọi cách để cho Ngài thấy cũng như được thấy Ngài. Sự gặp gỡ kỳ quặc giữa kiểu cách con người và sáng kiến của Chúa xem ra rõ ràng trong cảnh này tại Giêrico. Dù với hai chủ đích khác nhau, hai tiếng gọi đã gặp nhau, tiếng gọi của con người muốn đi ra khỏi chính mình và vận dụng mọi cách để đạt được điều đó và tiếng gọi của Chúa muốn tìm kiếm những ai lạc mất.

2. Giakêu không thiếu gì, ông giàu có, ông đã thỏa mãn được những khát vọng của mình; tuy nhiên, ông vẫn còn kiếm tìm một vật gì khác, một con người nào khác vì cảm thấy tâm hồn băn khoăn; có thể ông không biết CGS là ai, thế nhưng bị một thứ gì đó thúc đẩy ông muốn nhìn xem vị tiên tri này: chỉ ngay sau đó ông mới nhận biết Ngài. Dường như ông Giakêu và CGS, cả hai đều xúc động do cùng một hấp lực hỗ tương.

3. Trong câu sau cùng của trang phúc âm này, CGS xem ra không nói với ông Giakêu, đúng hơn Ngài nói với các nhân chứng, với đám đông. Ngài bắt đầu câu "người này cũng là con cái Abraham". Qua đó, hình như Ngài muốn nói với chúng ta biết rằng mọi người đều là con TC và nếu chúng ta từ chối hoặc khai trừ ai chính là vì chúng ta ngu dốt, hoặc thiển cận. Rồi Ngài nói tiếp: "Bởi vì Con Người đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì lạc mất". Ở đây cũng vậy, Ngài muốn dạy chúng ta đừng giới hạn ánh sáng phúc âm, chỉ dành riêng cho những người xem ra xứng đáng đối với chúng ta.

4. Sự gặp gỡ giữa Giakêu tội lỗi và CGS tượng trưng cho chính tâm trạng của chúng ta. Trong mỗi người chúng ta đều có con người tội lỗi và Chúa. Con TC đến sống trong mỗi người tội lỗi; trong mỗi tín hữu, Giakêu vẫn tiếp tục hiện hữu cho đến khi "Chúa dùng quyền năng của Ngài mà kiện toàm những ý định ngay lành", như thánh Phaolô viết trong thư gởi tín hữu Thessalonica mà chúng ta vừa nghe đọc. Điều này khiến chúng ta vừa bạo dạn để có thể chu toàn những đòi hỏi riêng biệt do đức tin của chúng ta, bất chấp dư luân của "đám đông chung quanh", cũng như lưu ý chúng ta phải luôn thận trọng khi có ý kiến về những người khác.

5. Người rước lễ cũng đón nhận CGS vào nhà mình. Để việc hiệp thông Thánh Thể trở thành hiện tại của ơn cứu độ, người rước lễ phải sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì Chúa biết.

6. Trong thánh lễ này, chúng ta hãy cầu ngumyện cho nhau, cho mọi người, vì tất cả chúng ta đều là những kẻ "bị lạc mất" mà Chúa đang tìm kiếm để cứu vớt.


Noel Quession - Chú Giải

Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy...

Giê-ri-khô, một địa danh bất thường trong môn địa lý của hành tinh này : thành phố thấp nhất của trái đất. . .thấp hơn mặt nước biển 250 mét ! Khi những người sống ở mức thấp đó ; ngay khi họ quyết định đi từ nới họ ở, họ chỉ có thể đi lên cao. . . Da-kêu sẽ khởi hành ở chỗ rất là thấp.

Giê-ri-khô, một biểu tượng cho nhân loại già nua : nó là một trong những thành phố cổ nhất trái đất. . . có những di tích mà số tuổi lên đến tám ngàn năm trước Đức Giêsu Kitô. Khi Ap-ra-ham dẫn đàn súc vật đi ngang qua thì nơi đó đã là một thành phố có số tuổi hơn sáu ngàn năm . . . Da-kêu sẽ rất giống với nhân loại từ muôn thuở. . .

Giê-ri-khô thành phố cuối cùng trong cuộc hành trình của những người hành hương lên Giê-ru-sa-lem. Đối với Đức Giêsu ngày hôm đó là một ngày leo dốc mệt nhọc ! Đồi cái Sọ (tiếng Do Thái là Gôn-gô-tha) ở đàng kia, gần cổng Ép-ra-im, cách đó hai mươi kilô mét, ở đầu một con dốc dài bất tận và ở đó cao hơn một ngàn mét so với ốc đảo Giê-ri-khô.

"Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy..." Giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình cuối cùng.

Đức Giêsu hoàn toàn sáng suốt về điều đang chờ đợi Người trên kia, ở Giêrusalem. Hôm qua có lẽ hoặc hôm kia, Người đã gọi riêng các bạn hữu. Người đã loan báo cho họ điều sắp xảy đến : "Này chúng ta lên Giêrusalem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất. Quả vậy, Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Người và. ngày thứ ba Người sẽ sống lại" (Lc 18, 31.34). Nhưng thánh Luca nói với chúng ta, mười hai Tông Đồ của Đức Giêsu không hiểu gì cả. Chỉ mình Đức Giêsu sáng suốt, lòng tràn ngập những mối suy tư.

Và kìa có một người tên là Da-kêu.

Phải chăng là sự hài hước ? hoặc là sự chế giễu ? Cái tên "Zakkay" này trong tiếng Do Thái có nghĩa "Người Thanh Khiết, Người Công Chính". Con người tội lỗi công khai ấy lại có tên "thanh khiết, trong sạch" làm chúng ta nghĩ tới một kẻ lừa bịp ác tâm mà người ta đặt cho biệt danh là "người vô tội, dịu dàng" !

Nhưng chúng ta hãy chờ cho câu chuyện chấm dứt.

Ai mà biết được ông ta sẽ không mang tên thật của mình….vào lúc cuối .

Ong đứng đầu những người thu thuế và là người giàu có...

Da-kêu, người tội lỗi bởi nghề nghiệp, trong lúc này đúng ra đáng có cái tên "kẻ bị tuyệt thông" . Một con người ghê tởm, bị mọi người ghét bỏ. Phục vụ cho đoàn quân chiếm đóng La Mã. Thỏa hiệp với ngẫu tượng, Hoàng Đế Bóc Lột ! Kẻ bóc lột những người nghèo ! Một Thủ trưởng vô liêm sỉ của những người thu thuế, đã thu những món lại to lớn khi bỏ đói dân nghèo và phô trương sự giàu sang, xa hoa trong ngôi biệt thự sang trọng nhất thành phố. Cách đó ít lâu Đức Giêsu đã nói về điều đó : "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa" (Lc 18,25).

Da-kêu, một con người bị tránh xa như bệnh dịch. Kẻ tội lỗi hoàn toàn bị hư mất. Đồ thối tha. Cấm không được giao du với hạng người hư hỏng ấy. Người ta nhổ xuống đất và quay mặt đi khi đi ngang qua con người ấy.

Ong ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn... ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu vì Người sắp đi qua đó.

Một chuỗi những "biểu tượng : A ! ông ta lùn quá lùn nên không nhìn thấy Đức Kitô. . . đám đông thù nghịch ; cả một dư luận phải vượt qua, để xem Đức Kitô... leo lên một cây (cây nào lạ lùng bằng cây thập giá !) để xem Đức Giêsu . . . Những sự giải thích tượng trưng không làm mất đi sử tính của các chi tiết cụ thể : người ta phải nhớ lại ở Giê-ri-khô, vào thời của Luca đã xảy ra một biến cố khó tin là sự hoán cải của "kẻ đứng đầu những Người thu thuế. Vả lại mọi chi tiết hoàn toàn tự nhiên. Lúc mới vào thành phố, Đức Giêsu đã chữa lành một người mù ~lc 18, 35.42). Tiếng vang của việc chữa lành này lan ra nhanh chóng như vệt thuốc súng. Người ta biết rằng Da-kêu đã có ước muốn "xem" Đức Giêsu đó, leo lên một cây sung dưới ánh mắt châm biếm của đám đông. . . mà không còn quan tâm đến phẩm giá của một thủ trưởng nhân sự Tổng Kho Bạc của Đế quốc !

Tôi thử tưởng tượng điều gì có thể thúc đẩy Da-kêu, bất chấp sự chế giễu đã xắn chiếc áo thụng của một ông trưởng giả Do Thái và có lẽ cái áo choàng La Mã để leo lên cây sung như một thằng nhóc tầm -thường ? Vì tính tò mò chăng ? Vì sự lôi cuốn mầu nhiệm chăng ? Vì nỗi khắc khoải mơ hồ và chán chường cuộc sống của mình chăng ? ông ta đã sống để đếm tiền và khuấy- động thành phố của ông. Mọi người tránh xa ông. . . ông biết rõ tại sao : nhân danh pháp luật, ông bức bách họ. Nhưng rồi khi người ta nói Đức 'Giêsu đi qua đó và Người là bạn của những người không được ai yêu thương. Lúc đó, ông giữ cửa kho bạc đã leo lên một cây đang trổ hoa để xem Đức Chúa. . .

Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông...

Người ta có thể gọi chỗ ấy là "nơi hai ánh mắt gặp nhau". Bề ngoài, cái nhìn đầu tiên là của Da-kêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu. Nhưng sẽ không có gì xảy ra nếu như Đức Chúa đã không ngước mắt nhìn lên người ở trọ lạ lùng, trên cây sung. Tôi ở yên một lúc để tưởng tượng, để chiêm niệm hai ánh mắt gặp nhau đó. Đức Giêsu và ông Da-kêu đang nhìn nhau !

Chúng ta tiếng rằng chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa, trong khi mà chính Người "tìm kiếm" chúng ta trước, tự muôn đời ! ôi chào ! Ngày hôm đó, Đức Giêsu đã phải sung sướng hạnh phúc ! Còn vài cây số nữa là đến Giê-ru~a-lem, còn vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được hiến dâng để cứu chuộc nhân loại... Công cuộc cứu chuộc cao đẹp nhất của Người sẽ thành công ? Mọi nỗi chơi vơi cô quạnh của thập giá mọi hình phạt mà Người sẽ gánh trên lưng, mọi vết thương xé ra ở tay chân đẫm máu của người... Người biết, biết chắc chắn là điều đó có ích. Người đã cứu thế gian, khi tiến lên "Giê-ru~a-lem". Da-kêu là hoa trái đầu mùa. Hỡi hạn, là người tội lỗi, bạn đã được Thiên Chúa tạo dựng chỉ để "xem" khuôn mặt của Người". Hỡi bạn, là người tội lỗi, hay nhận ra mình được tha thứ khi ánh mắt bạn gặp ánh mắt của Đấng yêu thương bạn.

Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông !" 

Qua những lời ấy, chúng ta đoán ra rang chính Đức Giêsu đã tìm kiếm Da-kêu. Mọi sụ diễn ra như thể Đức Giêsu đã dụ kiến hành động của Ngưđị : Đức Giêsu được mời đến nhà ông và ông được ưu tiên chọn lựa đối với mọi người khác ở Giê-ri-khô. Người đã chọn lựa kẻ thấp hèn nhất, kẻ bị khinh bỉ nhất.

Đó là cách mà Đức Giêsu dùng để yêu cầu một người nào đó phục vụ Người để rồi Người ban cho họ một ân,sủng của bậc đế vướng : hoàng tự trở thành người ăn xin để ban cho mà không làm thương tổn.

Đức Giêsu dường như chỉ là một người giảng thuyết lưu động tìm một bữa ăn và một 'cái giường để nghỉ qua đêm. Và thân mật biết bao trong sự vội vàng ấy ! "Này ông Da-kêu xuống mau đi !" như thể Đức Giêsu muốn nói : Này ông Da-kêu, tôi rất đói, mau lên nào !" . Cũng thế, Đức Giêsu đã xin nước uống của một phụ nữ Sa-ma-ri bị bỏ rơi, bên bờ giảng. Cũng thế Người đã chấp nhận việc xức dầu thơm của người đàn bà tội lỗi nhân ông Si-mon, một người Pharisêu.

Ong vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Người. 

Sự vội vàng khi ông từ cây nhào bổ xuống tương ứng với sự vội vàng của Đức Giêsu.

Niềm vui là dấu chỉ sự gặp gỡ với Đức Giêsu. Một khoảnh khắc vui mừng và hân hoan ngắn ngủ, kể từ Bài ca Ngợi khen (Magmífigat) của Đức Maria qua niềm vui của hai môn đệ trở về Em-mau.

Còn bạn, là người tội lỗi, bạn có những lúc vui mừng không?

Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau : "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ !"

Đức Giêsu đã từng đòi hỏi không được gây ra những cớ làm cho người ta vấp ngã (Lc 17, 1.3) nhưng chính Người đôi lúc không ngần ngại gây ra bởi những thái độ không phù hớp với dư luận của thời đại Người . . . đặc biệt vì lòng nhân từ khác thường của 'Người đối với những tội lỗi ! Đức Giêsu là "Cứu Chúa" đến độ làm người ta vì thế mà khó chịu. Người tha thứ đến độ gây cớ vấp ngã cho những người công chính. 

Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng : "Thưa Ngài này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo , và nếu đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn".

Thánh An-brô-siô trong bài thuyết giảng của ngài ở Milan đã nói "Không có lỗi khi mình giàu, nhưng khi mình không biết sử dụng tài sản của mình . . . " Và toàn bộ Tin Mừng của Thánh Luca dường như muốn nói rằng cách duy nhất sử dụng hợp lý tài sản của thế gian này là chi dùng nó, đem cho nó đi ! "Hãy bán của cải mình đi mà bố thí" (Lc 12,33). "Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn hữu (Lc 16,9).

Da-kêu đã bị đảo lộn bởi lòng quảng đại của Đức Giêsu đối với ông. Ong muốn đem lại cũng niềm vui ấy cho những Người khác.

Da-kêu khốn khổ với tất cả vàng bạc của mình.

Da-kêu hoàn toàn sung sướng khi chia sẻ niềm vui.

Đức Giêsu nói về ông ta rằng : "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tố phụ Ap-ra-ham. Vì Con Người đến đế tìm và cứu những gì đã mất".

Đức Giêsu đã qua những giờ nói chuyện trực diện với Da-kêu. Họ đã nói với nhau điều gì ? Họ đã ăn uống cùng bàn . . . mặt giáp mặt. Trong mọi tôn giáo kể cả tôn giáo ở Ít ra-en, Thiên Chúa là Đấng đáng sợ mà Đền thờ khuyến khích sự kính sợ linh thiêng đó.

Trong Đức Giêsu, chính Thiên Chúa di chuyển và đến ở nhà kẻ tội lỗi" vậ từ ngây đó, các nhà thờ, kể cả những đại thánh đường chỉ là ngôi nhà khiêm tốn của Da-kêu . . .nói mà những lũ tội nhân và các thánh tìm gặp nhau với Thiên Chúa trong tình huynh đệ. Giáo Hội chuộc "những gì đã mất" .

Giờ đây, Da-kêu có thể mang tên thật của mình... "Người thanh khiết"... người được thanh khiết hóa.



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Con Người tìm kiếm và cứu cha những gì đã hư mất" (Lc 19,1-10)

I. Ý CHÍNH :

Tin Mừng thuật lại việc ông Giakêu ăn năn trở lại để nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa, và địa vị người tội lỗi trong chương cứu chuộc của Chúa Giê-su Kitô.

II. SUY NIỆM :

1. "Chúa Giê-su vào Giêricô và đi ngang qua thành …" :

Câu mở đầu giới thiệu về nơi chốn và nhân vật của câu chuyện : Câu chuyện này xảy ra ở Giêricô, một thành phố cách Giêrusalem 37 km. Có hai thành Giêricô, một thành cũ bị Giosuê phá hủy và một thành mới do Hêrôđê xây cất cách nhau chừng 15 phút đi bộ. Tại Giêricô, Chúa đã chữa lành cho một người mù tên là Bactimê (Mc 10,46) và cũng tại nơi đây Chúa Giê-su cũng đặt làm khung cảnh cho câu chuyện người Samaritanô nhân hậu (Lc 10,30-35).

Giakêu là trưởng ty quan thuế giàu có ở Giêricô. Cái tên (Giakêu) có nghĩa là "Người trong sạch" nhưng ông lại bị liệt vào hạng người tội lỗi do chức vụ quan thuế của ông.

2. "Ong tìm cách để nhìn xem Chúa Giê-su Kitô …" :

Lúc tới gần Giêricô, một người mù tuyên xưng Chúa Giê-su là con vua Đavít, và Chúa Giê-su đã chữa anh lành. Người được phép lạ này quấn quít theo Người (Mc 10,45) và tất cả đám đông dân chúng bắt đầu ca tụng Thiên Chúa vì Người đã làm những việc kỳ diệu. Tiếng vang của việc Chúa chữa lành hết bệnh này lan rộng hết thành Giêricô. Một trong những người đầu tiên nghe được tiếng vang này là Giakêu. Ong tìm cách để tìm xem Chúa Giê-su là người thế nào, vì ông biết Chúa Giê-su sắp đi ngang qua đó.

3. "Ong chạy lên trước, trèo lên một cây sung …" :

Có lẽ cây sung này khá lớn, nhưng những cành đầu tiên không cao lắm. Giakêu thân hình thấp bé muốn ăn chắc, để nhìn xem cho rõ, ông đã chạy lên trước, và trèo lên cây sung này.

Đây là cử chỉ nói lên lòng khao khát của Giakêu muốn được nhìn thấy Chúa Giê-su tận mắt, chứ không chỉ nghe thấy tiếng vang của Người đối với người bình thường. Cử chỉ này không có gì đáng nói, nhưng đối với Giakêu, một người thu thuế tội lỗi bị người ta khinh bỉ và sống cách biệt, mà lại có lòng khao khát như vậy thì quả là người có thiện chí và có lòng ngay.

4. "Khi vừa đến nơi, Chúa Giê-su nhìn lên …" :

Phần Chúa Giê-su, Người xác nhận lòng ngay thiện chí của Giakêu. Trong cách đối xử của Chúa Giê-su "Nhìn xem ông" "Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi", ta nhận thấy Chúa Giê-su biết rõ con người Giakêu, chứ không phải là cuộc gặp gỡ tình cờ, ngẫu nhiên. Chúa đã gọi đúng tên ông như đã quen biết ông từ lâu rồi. Chúa tỏ ý muốn vào nhà thăm và ở lại với ông như một người bạn thân.

Đây là cử chỉ nói lên lòng nhân từ thương xót và gần gũi của Chúa Giê-su đối với Giakêu, một người tội lỗi mà có lòng ngay và thiện chí tìm gặp Chúa và muốn trở về với Chúa.

5. "Ong vội vàng tụt xuống …" :

Vì được quá lòng mong ước, nên Giakêu cũng có một lòng mến khách, một đức tính sẵn có trong dòng máu Do Thái, đã vui mừng tụt xuống khỏi cây sung để đón tiếp Chúa. Giakêu chỉ muốn nhìn xem Chúa, còn Chúa thì đòi vào nhà ông chứng tỏ ơn Chúa vượt quá lòng mong ước của con người.

6. "Mọi người thấy vậy, liền lẩm bẩm …" :

Theo quan niệm của người Do Thái, việc giao thiệp với người tội lỗi đưa đến sự dơ bẩn (Lc 5,30 ; 7,34 ; 15,2) nhưng ở đây Chúa Giê-su không chỉ quyết định đến thăm nhà người thu thuế tội lỗi, mà còn muốn lưu lại tại nhà người đó một thời gian nữa, thì quả là một điều gây ra khó chịu cho không những mấy người biệt phái ưa thích chỉ trích, mà còn làm cho những người thấy vậy liền lẩm bẩm : "Ong này lại đến trọ một nhà người tội lỗi".

Việc lẩm bẩm như vậy tỏ thái độ khắc khe của con người Đức với tội nhân, nhưng cử chỉ đón nhận của Chúa Giê-su đối với tấm lòng ngay và thiện chí của Giakêu lại là thái độ đầy tình thương và cứu độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.

7. "Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi" :

Được đón nhận lòng nhân hậu và thương xót của Chúa Giê-su, Giakêu đã tỏ bày một tâm trạng muốn hoán cải đời sống bằng cách ông muốn thực hiện ngay việc bác ái và công bằng, mà ông biết rõ khi thi hành nghề thuế vụ ông đã có thể lỗi phạm, và bây giờ ông hối hận và muốn sửa đổi. Ong áp dụng cho mình luật ghi trong sách Xuất Hành (Xh 21,1) được Đavít nhắc lại (2 Sm 12,6) và được dự trù trong những trường hợp tương tự. Thái độ hối cải của Giakêu đã nói lên rằng chỉ có lòng bác ái mới xóa sạch vết dơ do việc làm tiền quá đáng của ông, và chỉ có sự công bằng mới xóa được bất công mà ông đã gây ra khi hành nghề thuế vụ. Thái độ của Giakêu muốn chứng thực việc thực thi giáo huấn của Chúa Giê-su về vấn đề sử dụng của cải vật chất (Lc 12,33) "Của cải các ngươi hãy bán đi mà bố thí. Hãy sắm cho mình ví tiền không hề cũ nát, kho tàng không hao mòn trên Trời, nơi trộm không lấy được".

8. "Hôm nay nhà này được ơn cứu độ …" :

- "Hôm nay" Nói lên tính cách hiện tại của ơn cứu độ vì sự hiện diện của Chúa Giê-su chính là sự cứu độ (Lc 2,11 ; 3,22 ; 5,26 ; 13,22 ; 19,9).

- "Nhà này" nói lên nơi chốn, nơi nào có Chúa Giê-su hiện diện, nơi nào có ơn cứu độ, vì vậy muốn nói rằng, nhà của người thu thuế này bất xứng, nơi người Do Thái xa tránh, nhưng bây giờ nhờ có Chúa Giê-su hiện diện, nên đã trở thành một nguyện đường, từ đó phát sinh nước hằng sống, vì chính Chúa Giê-su là Đấng đang tìm kiếm và cứu chữa điều gì hư mất.

- "Con cái Abraham" Giakêu, người Do Thái cho là tội lỗi, không thuộc về dòng dõi Abraham, thì nay nhờ ơn cứu độ lại là con cái Apraham một cách đúng nghĩa : Con cái Abraham không phải theo xác thịt nhưng là người được Thiên Chúa cứu độ.

III. ÁP DỤNG :

A. Ap dụng theo Tin Mừng : 


Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn dạy chúng ta về lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân có lòng hoán cải, và về thân phận của người tội lỗi trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

B. Ap dụng thực hành :

Nhìn vào Chúa Giê-su :

a) Xem việc Người làm :


+ Chúa Giê-su nhìn lên và trông thấy ông : Cái nhìn của Chúa Giê-su đối với Giakêu, một con người tội lỗi, không phải là cái nhìn ngẫu nhiên, xa lạ bình thường, nhưng là cái nhìn khơi cảm có tính cách khơi động chính nội tâm của Giakêu. Noi gương Chúa, chúng ta hãy có cái nhìn giao cảm đối với những người mà bình thường người ta xa cách, chúng ta không ưa, để khơi dậy sự thân tình và lòng chân thật của họ.

b) Nghe lời Chúa nói :

+ "Hỡi Giakêu hãy xuống mau" : Mỗi khi chúng ta có lòng ngay và thiện chí muốn nhìn ngắm Chúa, chúng ta cũng sẽ gặp được lòng tốt và nhân từ của Chúa khơi động lòng ta. Đó là những giây phút suy niệm và cầu nguyện sốt sắng của ta.

+ "Hôm nay Ta sẽ lưu lại tại nhà ngươi" : Những ơn lành Chúa ban xuống cho ta, thường là những ơn quá lòng mong ước của ta. Điều này chứng tỏ lòng thương xót và quyền năng vô biên của Thiên Chúa và đồng thời khích lệ lòng trông cậy và phó thác của ta đối với Thiên Chúa.

+ "Con Người đến tìm kiếm và cứu cha điều gì hư mất" : Tin tưởng vào lời Chúa này, chúng ta dễ dàng để Chúa chiếm đoạt và cứu chữa ta bằng cách hoán cải đời sống và sống theo tinh thần của Chúa, đồng thời chúng ta hãy là dụng cụ để Chúa dùng vào việc và cứu chữa những gì hư mất bằng đời sống Tông-đồ.

Nhìn vào Giakêu : 

+ Giakêu bất chấp dư luận, đã trèo lên cây để nhìn xem Chúa. Chúng ta có đủ can đảm để vượt qua mọi trở ngại để suy niệm cầu nguyện hòng tìm gặp Chúa không ?

+ Giakêu đã dùng của cải vật chất để đền bù tội lỗi, chúng ta hãy dùng những của cải Chúa đã ban cho để phục vụ tha nhân mà đền bù tội lỗi.

Nhìn vào dân chúng :

Họ khắc khe với tội nhân vì họ có quan niệm theo kiểu loài người. Là con cái Chúa, chúng ta phải có lòng nhân từ và thương xót đối với tội nhân …/.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn