Clock-Time

Chúa Nhật Phục Sinh - XÁC NHẬN LÒNG TIN

Tin Mừng Ga 20,1-9 - Khi phát hiện ra ngôi mộ trống của Đức Giêsu, các môn đệ bắt đầu thấu hiểu những điều mà Kinh Thánh đã báo trước
XÁC NHẬN LÒNG TIN



 
DẪN NHẬP VÀ SÁM HỐI

Lễ Phục Sinh là một ngày lễ trong lịch Phụng vụ của Giáo Hội. Đức Giêsu đã chế ngự được sự chết, không chỉ cho bản thân Người, mà còn cho tất cả chúng ta nữa. Niềm vui của Lễ Phục Sinh tràn ngập trên toàn trái đất, niềm vui vì sự chết đã bị khuất phục.

Lạy Chúa Giêsu, thông qua ân sủng sự sống lại của Người, Chúa chứng tỏ cho chúng con rằng ánh sáng còn mạnh mẽ hơn cả bóng tối. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Chúa chứng tỏ cho chúng con rằng điều tốt đẹp còn mạnh mẽ hơn cả sự dữ. Lạy Chúa Kitô, xin thương xót chúng con.

Chúa chứng tỏ cho chúng con rằng sự sống còn mạnh mẽ hơn cả cái chết. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

ĐỀ TÀI CÁC BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 (Cv 10 i 34,37-43)  Chúng ta được nghe một phần bài giảng đầu tiên của Thánh Phêrô.

Bài đọc 2 (C1 3 I 1-4) : Thông qua Phép Rửa Tội của mình, chúng ta đã được chia sẻ sự sống lại của Đức Kitô, theo môt cách thức mầu nhiệm và bí ấn.

Tin Mừng (
Ga 20,1-9): Khi phát hiện ra ngôi mộ trống của Đức Giêsu, các môn đệ bắt đầu thấu hiểu những điều mà Kinh Thánh đã báo trước, nghĩa là Người sẽ được sống lại từ cõi chết.

CHÚ THÍCH THÁNH KINH

Bài đọc từ sách Công Vụ Tông đồ là một phần bài giảng đầu tiên của Thánh Phêrô. Trong đó, ngài tóm tắt sứ vụ của Đức Giêsu, đã lên đến tột đỉnh trong sự chết của Người. Nhưng sứ vụ của Ngươi không kết thúc ở đó - Thiên Chúa đã cho Người sống lại, cho phép một số nhân chứng được nhìn thấy Người. Thánh Phêrô là một trong những nhân chứng đó. Ngài tiếp tục công bố rằng Đức Giêsu chính là Đấng mà tất cả các ngôn sứ đã nói đến, nghĩa là Đấng Mêsia. Tất cả những ai tin tưởng nơi Người, thì các tội lỗi của họ đều sẽ được tha thứ.

Tin Mừng kể lại việc phát hiện ra ngôi mộ trống. Tự thân ngôi mộ trống (với những mảnh khăn liệm được xếp gọn) không phải là bằng chứng trực tiếp của sự sống lại. Tuy nhiên, điều đó lại là bước đầu tiên hướng tới việc xác lập sự thật rằng Đức Giêsu đã vượt qua cái chết và chuẩn bị cho các môn đệ gặp gỡ Chúa sống lại.

Nhiều Bài đọc của chu kỳ Phục Sinh đều có ý muốn dạy dỗ những người tân tòng theo lối sống của người Kitô hữu. Bài đọc 2  hôm nay và Bài đọc thay thế là những ví dụ hay. Do đó, mùa Phục Sinh cung cấp cho chúng ta một cơ hội để suy niệm về ý nghĩa của việc được trở thành những thành viên đã được rửa tội của Thân Thể Đức Ki-Tô.

Mỗi năm, vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh, hàng chục ngàn khách hành hương tụ họp tại Quảng Trường Thánh Phêrô ô Rôma, để được lãnh nhận Phép Lành Phục Sinh của Đức Thánh Cha. Đây là một cơ hội tuyệt vời, bởi vì người kế vị Thánh Phêrô công bố thông điệp Phục Sinh: "Đức Kitô đã sống lại, Allêluia". Ngài đang làm điều mà Thánh Phêrô đã làm trong ngày lễ ‘Phục Sinh đầu tiên - ngài đang xác nhận lòng tin của các tín hữu. Và có thể chắc chắn rằng điều này xác nhận lòng tin của những người có dịp may được hiện diện tại đó.

Phêrô đang làm điều mà Chúa đòi hỏi nơi ông trong bữa Tiệc Ly, khi Người nói: "Simon, Simon ơi, kìa Satan xin được sàng anh như sàng gạo, nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh" (Lc 22 1 31-32).

Phêrô phải củng cố lòng tin nơi các anh chị em của ông! Khi chúng ta xem xét cách thức ông hành động trong suốt cuộc Thương Khó, thì dường như ông có vẻ là người xa lạ. Làm thế nào một người có lòng tin không kiên định như vậy, mà lại xác nhận được lòng tin cho bất cứ ai? Chúng ta hãy nhớ lại một cách ngắn gọn hành động của ông trong đêm Đức Giêsu bị bắt.

Chúng ta vẫn nhớ những lời nói can đảm của ông trong bữa Tiệc Ly: "Thưa thầy, ngay cả khi mọi người đều mất lòng tin vào Thầy, thì con sẽ không bao giờ mất lòng tin vào Thầy", ông thực sự chân thành khi nói những điều đó. Ông nghĩ rằng mình can đảm và mạnh mẽ. Nhưng chỉ một lúc sau, khi Đức Giêsu cảm thấy đau buồn, cô độc và sợ hãi trong vườn cây dầu, Người đã yêu cầu Phêrô canh thức với Người, nhưng ông vẫn không thể nào làm được điều đó - ông đã lăn ra ngủ vùi. ông đã bỏ mặc Đức Giêsu phải uống chén đắng một mình. Điều tệ hại hơn đã phải đến.

Một lúc sau, trong đêm hôm đó, nơi sân nhà của vị thượng tế, có người quay sang Phêrô và nỏi "Thế chẳng phải ông là một trong những kẻ thuộc về ông Giêsu đó sao? Chẳng phải ông đã cùng trong vườn với ông ta sao?” Và điều gì xảy ra? Không phải là một lần, mà đến ba lần, Phêrô đã chối Đức Giêsu, ông chối rằng mình chưa từng bao giờ biết Người. Thế rồi gà gáy. Đến lúc đó, Đức Giêsu quay lại nhìn Phêrô và ngay tức khắc, Phêrô nhận ra được điều mình đã làm - ông đã chối không quen biết chính người bạn của mình. Rồi ông đi ra ngoài và khóc lóc thảm thiết.

Đó là giây phút thấp hèn nhất trong cuộc đời ông. Ông đã nhận ra được một sự thật rất đau lòng về bản thân. Ông không thể mạnh mẽ, không thể can đảm hoặc quảng đại như ông đã nghĩ về mình. Nhưng Đức Gỉêsu không hề coi ông là đồ bỏ đi. Người đã nhìn thấy trước tất cả điều này. Thậm chí Người còn ngăn cản điều đó nữa.

Nhưng Người vẫn tiếp tục tin tưởng nơi ông. Người biết rằng có một khía cạnh khác tốt đẹp hơn nơi Phêrô. Sau khi sống lại, Người đã phục hồỉ lại một Phêrô khôn ngoan hơn và khiêm tốn hơn ngay tại nơi mà Người đã từng ở trước đây và đặt ông làm viên đá mà trên đó, Người sẽ xây dựng Giáo Hội của Người.

Và Phêrô đã trở nên người tốt lành, ông được phục hồi và tiếp tục củng cố lòng tin cho những anh chị em trong cộng đoàn. Chính ông là người đã dẫn dắt các Tông đồ, trong việc làm chứng về sự sống lại. (Bài đọc 1). Chính ông là người quy tụ lại những kẻ đi theo Đức Giêsu vốn đã bị tản mác. Chính trên nền tảng lời chứng của ông, mà cả cộng đoàn đều trầm trồ: "Chúa đã sống lại thật rồi và Người đã hiện ra với ông Phêrô".
Ông Phêrô được gọi là một vị thánh đã từng vấp ngã. Ông được nhiều người quý mến, chắc hắn là bởi vì nhược điểm của ông làm cho chúng ta cảm thấy gần gũỉ với ông. Sự can đảm không đáp ứng được cho tất cả chúng ta. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều chỉ là những con người hay chết, không nhất quán trong lòng tin của mình. Nhưng chúng ta không được phán xét bản thân mình và ngườỉ khác qua những sai sót có tư cách nhất thời, nhưng là qua lời cam kết đối với lòng tin của mình trong cả một thời gian dài.

Chính Đức Giêsu đã xác nhận lòng tin cho Phêrô. Cũng chính Đấng sống lại đã xác nhận lòng tin của chúng ta. Chúng ta là một cộng đoàn của những kẻ tin, mà lòng tin phổ biến của những kẻ tin thì củng cố lòng tin của mỗi cá nhân.

Đôi khi, chúng ta ghen tị với các Tông đồ và các môn đệ đầu tiên. Chúng ta cho rằng họ có lợi thế hơn tất cả các Kitô hữu sau này, bởi vì họ thực sự có mặt trong những sự kiện của Tin Mừng. Họ được tận mắt nhìn thấy Đức Giêsu, đôi bàn tay của họ đã được đụng chạm vào Người. Do đó, lòng tin thật dễ dàng đối với họ. Và chúng ta cho rằng cũng thật dễ dàng đối với chứng ta, nếu giống như các Tông đồ, chỉ cần cá nhân chúng ta có thể được gặp gỡ Đức Giêsu, hoặc gống như các môn đệ đầu tiên, chúng ta được nhìn thấy những phép lạ mà Người đã thực hiện cho chúng ta.

Vâng, các môn đệ đầu tiên có lợi thế được tận mắt nhìn thấy Đức Giêsu. Nhưng phải chăng điều đó tạo ra bất cứ sự dễ dàng nào hơn cho lòng tin của họ? Khi nhìn vào Đức Giêsu, họ có thể nhìn thấy gì? Họ không thể nhìn thấy và không thể nhìn thấy được Thiên Chúa, bởi vì không ai ngay lập tức có thể nhìn thấy và nhận biết Thiên Chúa được. Nơi Đức Giêsu, họ chỉ nhìn thấy một con người có bề ngoài hình ảnh giống như họ. Nhưng khởi đi từ đó, để tin tưởng được rằng Người chính là Con Thiên Chúa, đòi hỏi một động tác vĩ đại của lòng tin.

Điều này giải thích cho sự kiện rằng có nhiều người đã từng được nghe Đức Gỉêsu nói và được nhìn thấy Người hành động, mà vẫn không hề có lòng tin nơi Người. Ngay cả chính bản thân các Tông đồ, đã từng được ở với Người ngay từ đầu, mà vẫn tỏ ra chậm tin. Được nhìn thấy không nhất thiết là tin tưởng.

Cú sốc do cuộc thương khó và cái chết trên thánh giá của Người gây ra, quả thật là quá lớn lao, đến nỗi làm cho các Tông đồ chậm tin tưởng vào nguồn tin tức về Sự Sống Lại. Khi Đức Giêsu hiện ra với họ vào buổi tối ngày Phục Sinh. Người đã khiển trách họ vì sự không tin tưởng và sự cứng lòng của họ, bởi vì họ đã không chịu tin lời những người đã được nhìn thấy Người, sau khi Người sống lại (Mc 16 : 14).
Tất cả những điều này để lại cái gì cho chúng ta? Chúng ta không thể nhìn thấy Đức Giêsu theo cách thức mà các Tông đồ đã nhìn thấy Người. Chúng ta không thể hiện diện trong căn phòng nơi diễn ra các sự kiện của Tuần Thánh, khi Đức Gỉêsu ghé vào. Chúng ta không thể được xỏ tay vào những vết thương của Đức Giêsu. Chúng ta không thể được nhìn vào khuôn mặt của Người và nói "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con". Chúng ta phải sống bằng lòng tin, chứ không phải bằng sự nhìn thấy. Tuy nhiên, nếu tin tưởng nơi Đức Giêsu, thì chúng ta phải nhìn thấy Người bằng một cách nào đó. Nhưng bằng cách nào để những người như chúng ta có thể nhìn thấy Đức Giêsu? Chúng ta phảỉ làm gì, để có được lòng tin?

Chúng ta là những môn đệ gián tiếp. Mà vì là những môn đệ gián tiếp, nên mọi sự đều khó khăn hơn theo cách thức nào đó, nhưng lại dễ dàng hơn theo cách khác. Mọi sự đều khó khăn hơn, bởi vì 20 thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi Đức Giêsu bước đi trên trái đất này. Nhiều lớp bụi đã phủ lên, ánh sáng đã bị phai mờ. Nhưng về khía cạnh tích cực, khái niệm đó trở nên "tự nhiên" theo thời gian, và vì thế, theo cách thức nào đó, lại trở nên dễ dàng hơn để tin. Nhưng đến khi mãn thời, thì về cơ bản, tất cả các môn đệ đều như nhau - tất cả đều phải làm một cú nhảy của lòng tin. Chúng ta trở nên những người môn đệ thông qua lòng tin.

Các bạn bè của Đức Giêsu đã được nhìn thấy và nghe tiếng Người nói, chỉ một thời gian ngắn sau ngày Phục Sinh, nhưng cuộc sống của họ đã được hoàn toàn thay đổi. Và bằng cách chia sẻ lòng tin của họ, cuộc sống của chúng ta cũng sẽ được thay đổi. Chúng ta sẽ có khả năng bước đi trong niềm hy vọng, bởi vì chúng ta biết rằng lòng tốt sẽ chỉến thắng sự dữ, và sự sống sẽ chiến thắng cái chết, bởi vì Đức Giêsu đã sống lại.

NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÁC

1. Viktor Frankl đã trải qua 3 năm tại Auschwitz. Anh vẫn còn sống sót, mặc dù vợ và gia đình của anh đều đã chết. Anh kể lại rằng vào một ngày kia, liền sau khi được phóng thích khỏi trại giam, anh đã đi bộ xuyên suốt vùng đồng quê, hướng về khu phố chợ, cách trại giam vài dặm đường. Cánh đồng cỏ trổ đầy hoa. Những con chim chiền chiện hót vang trong khi bay vào bầu trời. Suốt nhiều dặm khắp chung quanh đó, anh không nhìn thấy một người nào, không có gì cả, ngoại trừ mặt đất và bầu trời bao la, tiếng hót của những con chim chiền chiện, và sự thoáng đãng của không gian. Anh dừng chân lại, nhìn ra chung quanh mình, rồi ngước mắt nhìn lên bầu trời trong xanh. Thế rồi anh quỳ gối xuống cám ơn Thiên Chúa, vì đã được phóng thích. Trong khi cầu nguyện, một câu nói chợt nảy đến trong anh, diễn tả được cảm giác mà anh đang có: "Tôi đã kêu cầu Thiên Chúa từ nơi nhà tù chật hẹp của tôi, và Người đã đáp lại trong sự tự do của không gian".

Anh không thể nói được là mình đã quỳ gối tại đó trong bao lâu, miệng còn lập đi lập lại câu nói này. Nhưng sau này, anh kể "Trong ngày hôm đó và ngay tại thời điểm đó, cuộc sống mới của tôi bắt đầu. Tôi tiến triển từng bước một, cho đến khi một lần nữa, tôi được trở thành một con người.

Chúng ta không thể tách biệt niềm vui mà Frankl đã cảm nhận được ngày hôm đó, trong một cánh đồng phủ đầy hoa, với nỗi đau khổ mà anh đã trải qua trong trại giam. Trên thực tế, niềm vui này sẽ không có ý nghĩa, nếu trước đó, không xảy ra nỗi đau khổ. Tương tự như vậy, chúng ta không thể tách biệt sự sống lại của Chúa Giêsu với cuộc thương khó và cái chết của Người. Không thể tách biệt vinh quang của Người với nỗi đau đớn của Người. Mặc dù một cách chậm chạp, nhưng các Kitô hữu tiên khởi đã thấu hiểu rằng cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu chính là cách để Người đi vào trong vinh quang của Người.
Chúng ta không thể có được ngày Chúa Nhật Phục Sinh, mà không có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng khi đang trải qua ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, thì chúng ta nên nhớ đến ngày Chúa Nhật Phục Sinh.

2. Sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, khi các nữ môn đệ lên đường đi ra viếng mộ Đức Giêsu, thì họ rất thắc mắc rằng: Ai đã lăn tảng đá lớn đặt ở lối đi vào mộ?

Có một người đàn ông đã cãi nhau với cha của mình, hậu quả là suốt mấy năm trời, anh ta không hề nói chuyện với ông cụ, mặc dù hai cha con chỉ sống cách xa nhau vài dặm đường. Anh ta là người con trai duy nhất; mẹ của anh đã rời bỏ gia đình. Vì thế hiện nay, ông cụ sống cô đơn một mình. Thế giới của ông càng ngày càng nhỏ bé và tối tăm hơn, với từng ngày trôi qua. Ông cụ chưa chết đi, nhưng về mặt ý nghĩa, thì ông cụ đã như ở trong mộ rồi.

Chúng ta kinh ngạc về năng quyền mà Đức Giêsu để cho kẻ chết sống lại, quả thật đứng là như thế. Chẳng hạn, người con trai trong câu chuyện trên có thể lăn tảng đá ra khỏi ngôi mộ của người cha. Bằng một lời nói hoặc một cử chỉ, anh ta có thể giải thoát ông cụ khỏi ngôi mộ của nỗi cô đơn và tuyệt vọng của ông. Và bằng cách giúp đỡ người cha, anh ta cũng sẽ giúp đỡ được chính bản thân mình. Đây là một trong những cách đền bù đáng quý của cuộc sống, mà chúng ta không thể làm phấn chấn tinh thần cho người khác, nếu chúng ta không biết cũng tự gây phấn khởi cho chính bản thân mình.
 
PHỤNG VỤ CHÚA NHẬT VÀ LỄ TRỌNG – NĂM C
Nguyên tác: New Sunday & Holy Day Liturgies
Tác giả: Flor McCarthy S.D.B
Chuyển ngữ: Thiên Phúc