Clock-Time

Chúa Nhật XXXII Thường Niên C - Hành Trình Trong Hy Vọng

Tin Mừng (Lc 20: 27- 38) Đức Giê-su giải quyết câu hỏi mà người Xa đốc đặt ra về cuộc sống đời sau.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

chuaá nhật xxxii thường niên c

HÀNH TRÌNH TRONG HY VỌNG

 
DẪN NHẬP VÀ SÁM HỐI
 

Phục vụ hôm nay nhấn mạnh đến sự chắc chắn của đời sau. Đây là một niềm hy vọng rạng ngời. Đời sống không phải là một cuộc hành trình không dẫn đến nơi nào mà là một cuộc hành trình đến miền đất hứa của đời sống vĩnh cửu. Niềm hy vọng này không đưa đến bất cứ điều gì của con người nhưng trên lời và quyền năng của Thiên Chúa.
 
Lạy Chúa Giê-su. Chúa đã đi trước chúng con để chuẩn bị chỗ cho chúng con. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.
 
Chúa xua tan bóng tối nghi ngờ trong chúng con với ánh sáng của đức tin. Lạy Đức Ki-tô , xin thương xót chúng con.
 
Chúa liên kết chúng con lại thành dân mới của Thiên Chúa hành trình trong hy vọng hướng về miền đất hứa của sự sống đời đời. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.
 
ĐỀ TÀI CÁC BÀI ĐỌC
 
Bài đọc 1 (2Mcb 7: 1-2. 9-14) bài này kể lại (một phần) câu chuyện tử đạo của một bà mẹ và bảy người con. Họ lấy sức mạnh từ đức tin của họ về sư sống lại của những người công chính.
 
Bài đoc 2: (2 Tx: 163: 5)  Phao-lô cầu nguyện cho các tín hữu Thê-xa-lo-ni-ca để họ luôn kiên trì theo đuổi điều thiện hảo.
 
Tin Mừng (Lc 20: 27- 38) Đức Giê-su giải quyết câu hỏi mà người Xa đốc đặt ra về cuộc sống đời sau.
 
CHÚ THÍCH THÁNH KINH
 
Bài đọc 1 được lấy từ sách Ma-ca-bê, quyển thứ 2. điểm đặc biệt của sách này là giáo huấn chắc chắn về đời sau. Bài đọc kể lại (một phần) cầu chuyện tử đạo của một bà mẹ và bảy người con. Đây là một ví dụ về sự khán cự của người Do Thái chống lại những kẻ xâm lược. Người phụ nữ và các con của bà đã tìm thấy sức mạnh của họ từ niềm tin vào sự sống lại của những người công chính. Và ý tưởng này liên kết với bài Tin Mừng hôn nay.
 
Đức Giê-su được lôi kéo vào cuộc tranh luận đang diễn ra giữa những người Xa đốc và người Pha-ri-siêu liên quan đến sự sống lại. Người Xa đốc không tin có sự sống lại, trong khi người Pha-ri-siêu tin có. Người Xa đốc dùng chiến thuật Reductio ad absurdum (dồn lý lẽ của đối thủ vào chổ phi lý).
 
Đức Giê-su dùng câu hỏi chân thành ấy như một cơ hội để đưa ra một giáo huấn chân chính. Việc đầu tiên Người làm là thách thức quan điểm cho rằng đời sau chỉ là tiêp nối của đời này, với một vại sự thêm thắt. Người là sáng tỏ điều đó vì không thể so sánh giữa đời này với đời sau khi sống lại..
 
Kế đó, Người dùng một lý lẽ khác để củng cố niềm tín người chết sống lại. Thiên Chúa được biết là Thiên Chúa của người sống. Nhưng Người cũng được gọ là Thiên Chúa của các tổ phụ Ap-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Điều này có nghĩa là các tổ phụ đều đang sống.
 
Là những Ki-tô hữu niền hy vọng sống lại của chúng ta dựa vào nền tảng tình yêu mà Thiên Chúa bày tỏ với chúng ta trong Đức Giê-su (Bài đọc 2). Vì thế, các Bài đọc trên sẽ giúp cho Đức tin của những tin hữu chúng ta trở nên mạnh mẽ.
 
BÀI GIẢNG 1
Sự sống đời đời

 
Bằng những cách khác nhau, tất cả bà Bài đọc của Thánh lễ hôm nay đề cập đến đề tài sự sống đời đời.
 
Một ông già ôm yếu sông trong một túp liều ở bìa rừng. một buổi sáng mùa đông, ông thức dậy tìm được một chén cháo còn sót lại, lò sưởi trống không, và tuyết rơi đầy mặt đất. Ông cảm thấy muốn câu xin Thiên Chúa đem ông đi ra khỏi cuộc đời này cho  xong. Tuy nhiên, ông thu hết chút ít can đảm để đi vào rừng tìm củi.
 
Ông kiếm được một bó củi to, rồi ông lấy dây cột lạ và làm thành một cái nút. Tuy nhiên, khi cố gắng nâng bó củi để đặt lên vai, ông mới thấy rằng ông không thể nào nâng nó lên nổi. Một nổi thất vọng tràn ngập tâm hồn ông. Ông nhìn lên trời và nói: “Lạy Chúa, Chúa cắt con đi cho rồi, con không còn gì để thiết sống nữa”.
 
Bỗng chốc, một thanh niên vạm vỡ xuất hiện bên cạnh ông tự giới thiệu mình là tử thần và nói: “Ông gọi tôi đến phải không. Nào, bây giờ tôi ở đây rồi, tôi có thể làm gì cho ông?”nhanh như chớp ông già đáp: “Này cậu, cậu giúp tôi một tay để nâng cái này lên”.
 
Khi chúng ta còn sống chúng ta thây cuộc đời phù du ngắn ngủi. và việc chúng ta nếu kéo nó quả là bấp bênh không chắc chắn. Mặc du tư tưởng chúng ta quen dần với cái chết thì điều đó không có gì tiêu cực và bệnh hoạn. Thật vậy nó có thể là một điều tích cực. suy nghĩ về sự chết có thể dẫn đến tình yêu chân thực về sự sống. Khi chúng ta quen thân với sự chết, chúng ta chấp nhận đời sống tuần tự như thế nào, nó trở nên rất quý giá.
 
Khi đối diện với tính chất phải chết, chúng ta tiếp cận với một đời sống khác, đời sống vĩnh cửu mà hạt giống đã được gieo trồng trong linh hồn chúng ta. Cái chết là sự vượt qua một đời sống mới, đời sống này (Như Đức Giê-su nói trong Tin Mừng) hoàn toàn vượt quá đời sống mà chúng ta biết hiện nay. Điều này xem ra rất đẹp, những dễ hiểu ý nghĩa của nó không phải là chuyện dễ.
 
Chúng ta vượt qua đời sống mới ấy bằng nhiêu giai đoạn nhỏ hơn trước đó. Khi chúng ta mới sinh ra đời, chúng ta đã thực hiện cuộc vượt qua từ đời sống bên trong bụng mẹ đến đời sống bên ngoại bụng mẹ. Khi chúng ta đi học, chúng ta đã thưc hiện cuộc vượt qua từ đời sống trong gia đình đến đời sống trong một cộng đồng lớn hơn. Những người lập gia đình vượt qua đời sống với nhiều chọn lựa đến đời sống gắng bó với một người. Những người đã về hưu vượt qua đời sống có công việc được xác định rõ ràng đến đời sống không có công việc như thế. Mỗi một giai đoạn dẫn đến một thứ chết đi nhưng cũng đưa lại một đời sống mới. Khi chúng ta sống những giai đoạn này cho tốt, chúng ta chuẩn bị chính mình cho sự vượt qua sau cùng của chúng ta.
 
Điều tốt nhất giúp chúng ta đối đầu với thực tế của sự chết là đức tin Ki-tô giáo của chúng ta. Đức Tin làm chúng ta có thể đương đầu cái chết với lòng can đảm và hy vọng bởi vì chúng ta biết chugns ta có thể vượt qua nó trong Đức Ki-tô. Nhưng lòng can đảm và đức tin của những người như người phụ nữ và bảy người con trai của bà (Bài đọc 1) cũng được làm gương sáng mạnh mẽ cho chúng ta bươc đi theo họ trong đức tin. Các vị tử đạo khi làm chứng cho Thần Khí, cho chúng ta thấy rằng đời sống ấy mạnh mẽ hơn những sức mạnh của sự chết.
 
“Những chứng cứ dựa trên tính bất tử của linh hồn không ích lợi lắm. đối với Ki-tô hữu, nền tảng thật sự của tính bất tử là tình bạn với Chúa Phục Sinh và với Thiên Chúa hằng sống. Như Thánh Phao-lô đã nói: “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp”(Bài đọc 2)
 
Thiên Chúa đã hứa với chúng ta trong Đức Ki-tô và những lời hứa ấy là chắn chắn, không thể sai sót, cả cái chết cũng không thể hủy bỏ. Niềm hy vọng sống lại của ta nằm trong quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết không phải là kẻ thù đặt một dấu chấm hết cho mọi chuyện nhưng là một người bạn nắm tay và đưa chúng ta vào Vương Quốc của tình yêu vĩnh cửu.
 
BÀI GIẢNG 2
Ý nghĩa của lòng can đảm

 
Có hai loại can đảm. Loại thứ nhất ồn ào, giận dữ và quyết đoán và liên kết với những nơi như bãi chiến trường. Loại thứ hai im lặng, trong sáng và không quyết đoán. Tuy nhiên, nó hoàn toàn không khuất phục và không để nghiêng ngã theo những lời mua chuộc nào cũng như những lời đe dọa khủng khiếp nhất.
 
Chúng ta thấy một gương sáng của loại can đảm thứ hai câu chuyện người mẹ và bảy người con trai. Nhưng có những ví dụ gần với thời đại của chúng ta. Biến cố sau đây đã xảy ra trong một khu Do Thái ở Đông âu trong thế chiên thứ hai.
 
Nhà cầm quyền Đức chỉ định một người có tên là Ephraim vào chức vụ chủ tịch Hôi Đồng Do Thái. Một ngày kia, họ yêu cầu Ephraim ra đi và suy nghĩ về điều ấy. Cuối cùng, oogn trợ lại và trình một danh sách cho nhà cầm quyền Đức. Khi họ xem danh sách, thay vì thấy ba mươi tên người, họ thấy một tên người nhưng viết làm ba mươi lần. Đó chính là cái tên Ephraim.
 
Ephraim biết rằng khi làm điều đó, ông đã ký án tử hình cho mình. Tuy nhiên, ông đã từ chối phản bội bất kỳ anh em nào của mình, trước sự can đảm như thế người ta cảm thấy nghèo nàn.
 
Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng sợ hãi và cam đảm loại trừ nhau. Nhưng không phải thế. Lòng can đảm không phải là luôn luôn không sợ hãi. Nó sợ hãi và vượt qua sợ hải, hoặc tiến hành bất chấp sợ hãi. Nelson Mandella nói:
 
“Tôi học được ý nghĩa của lòng cam đảm từ các bạn tôi trong chiến đấu. Nhiều lần, tôi đã thấy những người đàn ông và đàn bà chứng tỏ một sức mạnh và sự hồi phục thách thức trí tưởng tượng. Tôi đã hiểu rằng lòng can đảm không phải là sự vắng mặt nổi sợ hãi mà là chiến thắng nó. Người can đảm không phải là người không cảm thấy sỡ hãi, nhưng là người thắng nỗi sợ hãi ấy”
 
Xác tín mình đang làm điều phải sẽ cho chúng ta một sức mạnh to lớn. chúng ta hành động vì điều thiện hảo sâu xa nhất ở trong chúng ta- vì hình ảnh của Thiên Chúa trong lòng chúng ta.
 
Như thế, lòng can đảm là một nhân đức quan trọng bởi vì không có họ, bạn không thể kiên trì thực hành một nhân đức nào khác, Tuy nhiên, thế giới không cần có quá nhiều điều này trong đời sống của nhiều người khi chúng ta nghĩ đến những đau khổ mà họ chịu đựng và những nhọc nhằn mà họ gánh vác. Lòng can đảm không to tác như khi leo núi cho bằng khi chấp nhận thất bại mà không mất tinh thần.
 
Mỗi Chúa nhật, chúng ta kết thúc Kinh Tin Kính với những lời: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống lại đời sau”Tin vào sự sống đời sau làm một trong những niềm tin quan trọng nhất của Ki-tô hữu chúng ta. Không có đời sau, đời sống chúng ta trên trần gian này là một cuộc hành trình không dẫn đến một nơi nào cả. Với đời sau, đời sống chúng ta trên trần gian này là một cuộc hành trình đến miền đất hứu của đời sống vĩnh cửu.
 
Hy vọng là một phần quan trọng của đời sống. Nếu cơ thể cần có lương thực, thì tinh thần cần có hy vọng. chúng ta dành phần lớn cuộc đời mình để chờ mong, hy vọng và khát khao môt điều này hoặc điều  khác. Nhưng chúng ta biết rằng thế gian này không thể làm đây những hy vọng và khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta. Chỉ Thiên Chúa mới có thể làm được điều ấy.
 
Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta không phải để chết mà đê sống đời đời: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một để ai tin vào con Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”(Ga 3: 14-15)
 
Viễn cảnh rực rỡ của sự sống vĩnh cửu phải làm cho chúng ta có thể sống vui vẻ mầu nhiệm thân phận mỏng dòn của con người vì nó nằm lơ lửng giử đất và trời, giữa thời gian và vĩnh cửu, giửa hư vô và vô tận.
 
BÀI GIẢNG 3
Làm chứng cho sự sống vĩnh cửu

 
Chúng ta  có thể dùng lý trí để biện luận có đời sau. Nhưng những người đã làm chứng không phải bằng lời mà bằng công nghiệp và một đôi khi bằng cuộc sống của họ là những luận cứ tốt nhất. Đó là những vị tử đạo, bằng việc làm cho Thần Khí các ngài đã chứng tỏ rằng sự sống mạnh hơn sức mạnh của cái chết. Chúng ta nghĩ đến bà mẹ và bảy con trai của bà (bài đọc 1). Nhưng có những tấm gương gắng với thời đại chúng ta hơn.
 
Vào tháng 5 năm 1992, báo Observer đăng lại câu chuyện sau đây. Ba mươi nư tu của Giáo Hội chính thống Nga bị Stalin giam giữ năm 1929 trong một nơi trước kia là tu việc của đảo Solovetaky trên bờ biển bắc của nước Nga. Như mọi tù nhân của các trại giam, người ta buộc các nữ tu phải lao động. Nhưng các nữ tu ấy cương quyết từ chối lao động và giải thích họ không thể đồng ý “Lao động cho những nhân  viên của tên chống Ki-tô (Antichrist)”.
 
Ban quản lý trại giam đã phản ứng nghiêm khắc Nếu người ta không được y tế xác nhận không có khả năng lao động thì người từ chối lao động sẽ bị đánh đập và bị đưa đến một hòn đảo trừng trị không một ai còn sống trở về.
 
Tuy nhiên, thật là lùng chình quyền trại giam dường như không muốn áp dụng sự trừng phạt ấy cho các nữ tu. Người đứng đầu bệnh xá của trại giam bối rối trước thái độ của các nữ tu. Dưới mắt ông, họ là những “tù nhân khó khăn”mà ông vẫn gặp. Thay vì kêu gào la hét, các nữ tu chỉ bày tỏ sự đơn sơ, khiếm tốn và nhân từ.
 
Cảm thấy tiếc xót cho các chị, ông yêu cầu một bác sĩ xác nhận các nữ tu không có khả năng lao động. Bác sĩ cũng là một tù nhân rất cảm kích trước các nữ tu, các chị bình tĩnh và tự chủ , ăn mặt chỉnh tề sách sẽ. khuôn mặt các chị tỏa ra một sự thanh khiết của tinh thần khiến người ta ngạc nhiên và sinh ra lòng tôn trọng sâu xa.
 
Bác sĩ cố thuyết phục các chị lao động, ông kể ra nhưng gương lao động của các Ki-tô hữu khác. Khi thấy các chị không bị lây chuyển, ông nói ông sẽ nghĩ các ra một bênh nào đó cho các chị và tuyên bố các chị không có khả năng lao động. “chúng tôi xin lỗi”một nữ tu ngắt lời, “điều đó không đúng, chúng tôi manh khỏe. Chúng tôi có thể lao động, Nhưng chúng tôi không muốn lao động cho kẻ chống Ki-tô”.
 
Bác sĩ giải thích rằng các chị sẽ bi tra tấn và bị giết chết. “Thiên Chúa cũng sẽ giúp đỡ chúng tôi chịu đựng sự tra tấn”, một chị nữ tu bình thản đáp lại. Nhiều năm về sau người bác sĩ ấy viết: “Nước mắt tôi trào ra. Tôi cúi đầu nhượng bộ các chị trong sự im lặng. Tôi đã muốn hôn bàn chân các chị.”
 
Ít lâu sau, các chị đồng ý may mền bông cho bệnh xá vì người ta cho phép các chị hát Thánh thi nho nhỏ trong lúc làm việc. Tuy nhiên, một linh mục đến trại và nói với các chị rằng làm bất cứ việc gì cho các “nhân viên của kẻ chống Chúa”là sai lầm. Vì thế các chị nữ từ chối lao động. Người ta lôi vị linh mục ra ngoài và bắn chết. Không bao lâu sau, các nữ tu cũng chịu chung một số phận.
 
Các nữ tu tỏ ra không lưỡng lự hoặc hoài nghi hoặc dao động. Nhưng điều đó không có nghĩa việc các chị làm là dễ. Mọi người điều thích sống. Các chị cũng thích sống nhưng không có nghĩa là bám lấy nó bằng mọi giá. Đối với họ, sự sống thật là sự sống muốn đời. Đức tin vào sự sống vĩnh cửu làm cho họ có thể hý sinh đời sống trần gian vì Đức Ki-tô.
 
Các nữ tu ấy, tín thác vào Thiên Chúa. Bà mẹ và bày người con trai cũng đã làm thế. Chúng ta không làm gì hơn là nói gương tín thác Thiên Chúa của họ. Phao-lô nói rằng chúng ta có niều hy vọng chắc chắn. Niềm hy vọng này không bởi chính chúng ta mà bởi Thiên Chúa. Người là Thiên Chúa hằng sống. Chúng ta là con cái Người. Người tao dựng chúng ta để sống ở đây và sau này. Viễn cảnh rực rỡ ấy làm chúng ta có thể trân trọng sự sống mà không bám lấy nó. Và nó khuyết khích chúng ta sống một đời sống ngay lành.
 
LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
 
Chủ tế: Thiên Chúa đã cho Đức Giê-su sống lại từ trong kẻ chể để chúng ta có niềm hy vọng chắc chắn được hưởng phần gia nghiệp trường tồn. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa như những thành viên của một dân tràn đây hy vọng.
 
            Cộng đoàn: “Lạy Chúa, xin lắng nghe lời chúng con.
 
Người đọc: cầu cho các Ki-tô hữu: để niềm hy vọng đời sống vĩnh cửu đã được gieo trồng trong tâm hồn họ ngày chịu phép Thánh tẩy sẽ được hoàn thành trong vương quốc trên trời. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.
 
Cầu cho gia đình nhân loại: để mọi người đạt đến mục đích mà Thiên Chúa đã dành cho họ. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.
 
Cầu cho người chiu cánh tang chế: để họ tìm thấy an ủi qua niêm tin của họ vào sự sống muôn đời. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.
 
Cầu cho chính chúng ta: để đời sống chúng ta làm chứng cho niềm hy vọng chúng ta mang trong tâm hồn. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.
 
Cầu cho người thân và bạn hữu và tất cả những người đã qua đời trong niềm hy vọng sống lại. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.
 
Cầu cho những nhu cầu riêng của chúng ta. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.
 
Chủ tế: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng sống, xin Chúa nâng đỡ chúng con mỗi ngày cho đến khi bóng xế. chiều buông, và thế gian bận rộn này im lặng, sức sống cạn dần, và công việc đã hoàn thành, bẩy giờ ôi lạy Chúa, trong lòng thương xót của Chúa, xin Chúa ban cho chúng con chổ ở an toàn, sự nghỉ ngơi thánh thiện và bình an trong giây phút cuối cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
 
------------------------------------------------------------------------------------------

PHỤNG VỤ CHÚA NHẬT & LỄ TRỌNG – NĂM C
Nguyên Tác: New Sunday & Holy Day Liturgies
Tác GiảFlor McCarthy S.D.B
Chuyển NgữThiên Phúc
Nhà Xuất Bản: Dominican Publications – 1998
Flor McCarthy là một Linh Mục dòng Sa-lê-giêng, ngài dạy giáo lý trong trường trung học và có nhiều kinh nghiệm trong việc coi xứ ở Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ. Ngài cũng viết những sách về Phụng Vụ An Táng và Phụng Vụ Hôn Phối.