Clock-Time

Suy Niệm Chúa Nhật Tuần XXXIII Thường Niên Năm B - Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy

... 300 năm bị bách hại với hơn 100.000 người tử đạo đủ cho mọi người thấy sự ác liệt thảm khốc cũng như sức chịu đựng bền bỉ kiên cường và lòng trung thành đối với đức tin mà cha ông chúng ta đã lãnh nhận và tôn thờ...

SUY NIỆM LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN NĂM B
LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


NGÀY 14/11/2021


Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy

- Vào lúc 9 giờ sáng ngày 19/6/1988 tại Rôma, tức là 15 giờ cùng ngày tại Việt Nam,

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn phong 117 vị chân phước tử đạo tại Việt Nam lên ậchiển thánh, gồm 96 người Việt Nam và 21 vị thừa sai ngoại quốc.
- 300 năm bị bách hại với hơn 100.000 người tử đạo đủ cho mọi người thấy sự ác liệt thảm khốc cũng như sức chịu đựng bền bỉ kiên cường và lòng trung thành đối với đức tin mà cha ông chúng ta đã lãnh nhận và tôn thờ. 
- Các ngài cảm thấy hạnh phúc vì được thuộc về Chúa, các ngài hãnh diện vì là người Công giáo, các ngài can đảm tuyên xưng danh Chúa và cương quyết giữ vững lập trường đức tin chân chính của mình.
- Trong hơn 100.000 vị tử đạo, có 58 giám mục và linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Ý, 15 linh mục Việt Nam, 340 thầy giảng, 270 nữ tu Mến Thánh Giá và 99.182 Giáo dân. 
Sau đây là câu chuyện tử đạo của thánh Phêrô Đoàn Công Quý: thánh Phêrô Đoàn Công Quý sinh năm 1826 con thứ sáu, là út của ông bà Antôn Đoàn Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Thường.

Nguyên quán của ông bà ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1820 vì sinh kế nên gia đình đã di chuyển vào miền Nam, tới lập nghiệp ở Búng, làng Hưng Thịnh, tổng Bình Thạnh, hạt Thủ Dầu Một, nay là tỉnh Bình Dương. Vào miền Nam được 6 năm, tức năm 1826 thì ông bà sinh được cậu con trai thứ sáu, cũng là cậu con út, ông bà đặt tên cho cậu là Phêrô Đoàn Công Quý.

Cậu Quý dần dần lớn lên trong sự chăm sóc của ông bà, nhất là của bà mẹ, rất yêu thương và luôn ở sát bên mẹ. Bà Maria Thu nhà bên cạnh thấy bà Thường chiều chuộng cậu con út quá, có lần bà nói:

- “Bà chiều cậu con quá như thế, lớn lên nó hư thì sao"?

Bà Thường hãnh diện trả lời:

- “Gớm bà nói: hư làm sao được. Lớn lên cháu nó đi tu làm linh mục. Nó về làm lễ và giải tội cho bà đấy”.

Bà hàng xóm vui miệng:

“Thế khi ấy tôi phải gọi cậu ấy là cha à? Sướng nhỉ”.

Quả thật như vậy, điều mơ ước lớn lao nhất của ông bà Antôn Miêng là có một người con dâng cho Chúa, để làm linh mục. Hằng ngày ông bà vẫn cầu xin với Chúa như vậy.

Ông bà rất vui và hy vọng nơi cậu con út này.

- Cậu học hành khá thông minh, ngoan ngoãn và siêng năng đọc kinh tối sáng, thích đi lễ và xin vào ban giúp lễ. Được giúp lễ, cậu có dịp được gần cha Tam, cha xứ nhà thờ họ Búng để xin cha hướng dẫn về đàng đạo đức và ơn gọi làm linh mục. Cha Tam thấy cậu thông minh, lại ngoan nên giới thiệu cậu với cha Gioan Miche Mịch để học kinh sách và tiếng La Tinh.

- Sau môt thời gian thử thách và học tập tốt, cha Gioan Miche Mịch gửi cậu về đại chủng viện thánh Giuse ở Thị Nghè, lúc ấy cha Borelle đang làm giám đốc chủng viện. Tới năm 1848, thầy Quý được gửi đi du học tại Pénăng, Mã Lai, tại trường đại chủng viện của các cha Hội Thừa Sai Paris đảm trách. Tại đại chủng viện này, thầy Quý học triết, thần học, văn chương, ngôn ngữ...

- Năm 1855 thầy Đoàn Công Quý trở về nước giữa thời kỳ vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo rất gay gắt. Thầy trở về thăm gia đình tại Búng. Người trong họ đạo thấy thầy về, nhiều người tò mò, nhất là mấy cô trong Ca Đoàn, cứ to nhỏ thì thầm với nhau:

- “Công tử Quý con ông Miêng đi học lâu ngày, nay đã về. Chắc là hết tu rồi. Anh chàng đẹp trai đáo để”.

Cô Mai con ông quản Tuấn nhà ở đầu nhà thờ, xem ra bận tâm đến chàng lắm. Cô cố ý tò mò hỏi xem thầy còn tu nữa không. Vì thời thế đạo Chúa bị cấm cách, đạo trưởng bị bắt bớ nên cô tin thầy Quý sợ hãi đã thôi tu. Cô mong như thế, cô nói với mấy cô bạn trong Ca Đoàn:

-“Anh chàng đẹp trai như thế mà đi tu thì uổng quá chúng mày nhỉ. Tao cầu xin cho anh ấy đừng tu nữa. Tu thời nay khó lắm”.

Cô bạn khác biết Mai thích thầy Quý nên hóm hỉnh nhạo lại:

- “Con quỉ này! Mày mê người ta rồi hay sao mà lo cho người ta thế? Ừ, mà chàng đẹp trai thật. Đi tu uổng quá!”

Cô Mai nghe bạn nói, đỏ mặt đáp lại:

- “Thì tao cũng nói thế thôi. Tu hay không tu, đã chắc gì người ta để ý đến tao”.

Nói xong cô nàng lấy tay che mặt, vì mắc cỡ. Nhưng thật là “bé cái lầm”. Chỉ sau ít ngày các cô đều thất vọng. Nhất là cô Mai con ông quản Tuấn...

Tháng 09/1858, sau ba năm chăm sóc tín hữu tại các họ đạo, thầy Quý được lãnh chức linh mục tại Thủ Dầu Một. Cha được bổ nhiệm phục vụ tại các xứ Lái Thiêu, Gia Định và Kiến Hòa, rồi phó xứ Cái Mơn, Vĩnh Long. Với nhiệt tình tuổi trẻ, cha Quý vượt qua mọi gian khổ, đe dọa, hiểm nguy. Nếu bề trên không cản, cha đã nộp mạng để cứu các dì Mến Thánh Giá. Sau cùng cha Quý được cử về giáo họ Đầu Nước, Cù Lao Giêng, An Giang.

Khi quân tổng đốc An Giang bao vây nhà ông Lê Văn Phụng, cha Quý đã ẩn náu an toàn nhưng ra trình diện để cứu gia chủ.

Cha nói “Tôi là đạo trưởng. Ai muốn theo đạo, tôi sẵn sàng chỉ dạy”. Thế là cha Quý, ông Phụng và 32 tín hữu bị xiềng xích giải về Châu Đốc. Quan tổng đốc khuyên cha bỏ đạo: “Thầy là người thanh liêm, nhân từ, đức hạnh, tại sao lại mê theo tà đạo”. Cha Quý trả lời: “Dạ, thưa quan tôi là người giảng dạy đạo này, sao lại có thể bỏ đạo cho được? Vả nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dạy điều tốt lành, chứ không phải là tà đạo như quan hiểu lầm đâu”.

- Ước vọng hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho Thiên Chúa của cha Phêrô Đoàn Công Quý đã được chấp nhận.

Ngày 30/07/1859, bản án trảm quyết cha được gởi từ kinh đô về đến Châu Đốc cùng với bản án ông Emmanuel Lê Văn Phụng. Sáng hôm sau (31/07), cha Quý và ông Phụng hớn hở đi ra pháp trường ở xóm Chà Và cùng với quan quân và giáo hữu. Người lính đi trước tay cầm tấm thẻ của cha Quý và thỉnh thoảng đọc to: "Tự Đức thập tam, An Giang tỉnh, kỷ vị niên, thất nguyệt, sơ nhị nhật.
Thẻ: đạo trưởng Đoàn Công Quý, tùng gian đạo, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo thư: bất khẳng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết".

Đến nơi xử án, hai vị chứng nhân Chúa Kitô: cha Quý và ông Phụng, cùng qùy xuống cầu nguyện. Sau đó, cha Quý giải tội cho ông Phụng. Giờ hành xử đã đến, ba tiếng chuông vang lên giữa pháp trường, lý hình chém cha Quý ba nhát gươm, đầu cha lìa khỏi thân mình và rơi xuống đất. Vị tử đạo già từ cõi đời trở về quê hương vĩnh cửu với tuổi đời 33, sau một năm thi hành chức vụ linh mục. Thi hài vị tử đạo được an táng tại nhà thờ Năng Gù, sau được cải táng về chủng viện Cù Lao Giêng năm 1959, nhân dịp bách chu niên cuộc tử đạo. Đức Piô X suy tôn Chân Phước cho cha Phêrô Đoàn Công Quý ngày 02/05/1909. Ngày 19/06/1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.