Clock-Time

Suy Niệm Chúa Nhật XIV Thường Niên C - Sai 72 Môn Đệ Đi Rao Giảng

Tin Mừng (Lc 10 : 1-12 . 17-20): Tin Mừng nhất lãm trường thuật việc Chúa sai nhóm mười hai đi rao giảng thì chỉ có Luca thuật lại việc Chúa sai bảy mươi hai môn đệ đi giảng...

SUY NIỆM CHÚA NHẬT

NGÀY 03-07-2016


chúa nhật xiii thường niên c

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN – NĂM C


SAI 72 MÔN ĐỆ ĐI RAO GIẢNG
 



ĐỂ TÀI CÁC BÀI ĐỌC

            Bài đọc 1 (IS 66 10-14) Được viết sau khi đi đày Babilon trở về, bài thơ này mô tả một hình ảnh rực rỡ của các ơn lành mà Thiên Chúa sẽ ban xuống cho Giê-ru-sa-lem và dân trong thành ấy.

            Bài đọc 2 (Gl 6 : 14-18) Phaolô nhấn mạnh rằng đời sống của người Ki-tô hữu có nghĩa là trở thành giống Đức Ki-tô. Chính ông cũng mang những dấu ấn cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô trên thân thể ông.

 Đức Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ đi giảng dạy.

CHÚ THÍCH THÀNH KINH

            Bài đoc 1 là một phần của bài thơ được viết sau khi đi đày babylon trở về. nó vẽ lại hình ảnh rực rỡ về những ơn lành mà Thiên Chúa sẽ ban cho Giê-ru-sa-lem và dân trong thành ấy. Nó so sánh Giê-ru-sa-lem với một người mẹ yêu thương nâng niu các con bà. Nó là hình bóng báo trước những ơn lành được ban cho dân khi nước của Thiên Chúa đến với Đức Giê-su (Tin Mừng).

            Trong khi Tin Mừng nhất lãm trường thuật việc Chúa sai nhóm mười hai đi rao giảng thì chỉ có Luca thuật lại việc Chúa sai bảy mươi hai môn đệ đi giảng. lần sai đi thứ hai này được giải thích bởi tầm mức của mùa gặt mà thời gian không còn nhiều và Đức Giê-su không thể tự mình làm mọi việc. Nó cũng là điềm báo của việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới, một chủ đề được Luca ưa chuộng.

            Sứ vụ của các môn đệ là sự phát triển, mở rộng sứ vụ của chính Đức Giê-su, để hiểu được chỉ thị của Người ban cho họ, chúng ta phải nhớ rằng đây chỉ là sứ vụ tạm thời, ngắn hạn, và giới hạn trong các thành phố, làng mạc phụ cận của Người Do Thái.

BÀI GIẢNG 1
Những người mang lại bình an


            Khi Đức Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ, Người nói với họ rằng khi vào bắt cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “ bình an cho nhà này” . Họ phải là những sứ giả của bình an và thiện chí. Không có sự bình an thì không có gì có thể thực hiện.

            Một buổi sáng Giáng sinh nọ ở Bắc Ái Nhĩ Lan, trong lúc có xáo trộn cao độ, một linh mục Công giáo đi băng qua con đường đến ngôi nhà thờ Tin Lành ở địa phương để chúc cho ông mục sư và cộng đoàn một lễ Giáng Sinh hạnh phúc. Ông mục sư đã đón tiếp linh mục với sự thân tình và chúc lại vị linh mục, và sau đó đến thăm linh mục để đáp lễ. Tuy nhiên một vài trưởng lão trong nhà thờ của ông đã phản ứng với sự tức giận và họ đã vận động để thuyên chuyển mục sư đi nơi khác.

            Hai nhà tu hành ấy cảm thấy họ chỉ làm theo điều mà Đức Ki-tô muốn họ làm- trở thành một công cụ bình an và hòa giải trong một xã hội rối loạn và chia rẻ.

            Bình an không phải là một điều tiêu cực. Nó không phải là vắng mặt chiến tranh hoặc kẻ thù. Hòa bình là một điều tích cực. Nó bao gồm sự cởi mở, tình bạn hữu, sự bao dung, thiện chí, thân thiện, hòa giải. Nó giúp chúng ta đến với những người khác. Nó giúp chúng ta phá vở những rào cản và nghi kỵ, sợ hãi, thiên kiến và niềm tin mù quáng.

            Thực hiện hòa bình là đón tiếp người ta đến gần mình, những người làm phiền hoặc không đồng ý với chúng ta, những người làm chúng ta lo lắng. Đi theo đường lối hòa bình là chấp nhận người làm chúng ta lo lắng, đi theo đường lối hòa bình là chấp nhận người ta như họ vấn thế, với mọi giới hạn và yếu đuối. những người chúng ta cần làm hòa không phải là bạn bè chúng ta nhưng là kẻ thù chúng ta.  

            Tóm lại trước khi rước lễ, linh mục nói với chúng ta: “ Bình an của Chúa ở cùng anh chị em” Một ơn tuyệt với được ban cho chúng ta: bình an của Đức Ki-tô, một bình an mà thế gian không thể ban cho. Rồi linh mục mới gọi chúng ta chúc bình an cho nhau, Bàn tay mà chúng ta đưa ra để bắt tay người lân cận cũng là bàn tay dùng để đón nhận Đức Giê-su khi rước lễ.

            Chúng ta đến với Thánh Lễ để nhận những ơn lành mà Chúa ban cho, Nếu chúng ta đem theo với chúng ta bình an từ Thánh lễ ấy thì chúng ta không uổng phí thời gian. Chúng ta phải được chuẩn bị để cho lại điều mà chúng ta đã nhận. Thánh lễ kết thúc không giống như một trận bóng đá hoặc một cuốn phim kết thúc để chúng ra đứng dậy và ra về. Khi Thánh lễ kết thúc, chúng ta được sai đi. Sau khi đã nhận được bình an của Đức Ki-tô, chúng ta được sai đi như những sứ giả đem bình an ấy đến với những người khác.

            Nếu chúng ta muốn trở thành những sứ giả của hòa bình, cần có ba điều kiện này. Trước hết, chính chúng ta phải có bình an. Thứ hai, chúng ta phải muốn chia sẻ bình an ấy cho những người khác. Và thứ ba, người khác muốn nhận bình an của Chúng ta.

            Mùa gặt thì lớn, những cơ hội để chia sẻ bình an, xây dựng hòa bình có nhiều. Không phải lúc nào chúng ta cũng thành công, bởi vì phải có ít nhất hai người để xây dựng hòa bình. Nguy cơ lớn nhất là chúng ta để người ta lấy đi bình an của chúng ta. Điều này xảy nên khi nào chúng ta trở nên giận dữ, thù hận, cay cú, thích trả thù khi những người khác không đáp lại chúng ta một cách thuật lợi.

            Chúng ta phải chấp nhận rằng sự bình an của chúng ta không phải lúc nào cũng được chấp nhận. Nó có thể trở lại với chúng ta nhưng một tiếng vang dội lại. Nhưng ít ra chúng ta phải nỗ lực trong một thế giới bị phân tán bởi sự cạnh tranh, giận dữ và thù hận, chúng ta có ơn gọi thách đố chúng ta sống dấu chỉ của tình yêu để vượt qua nhưng chia rẻ và chữa lành những vết thương.


BÀI GIẢNG 2
Mùa gặt bội thu

Ki-tô giáo là một tôn giáo thực hành. Catherine de hueck Doherty là một Ki-tô hữu nổi tiếng. Sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Nga, bà sống phần lớn cuộc đời ở Mỹ. Bà nói : “ ngay khi còn nhỏ tuổi, tôi biết rằng Tin Mừng là để sống” .

            Khi đã trưởng thành chị làm công  việc của một người bưng nước trong một quán ba ở Manhattan. Trong một dịp kia, chị thông báo cho một nhóm lính Mỹ và những bạn gái của họ ( họ điều biết chị là người công giáo) đã đến giờ đóng cửa (4 giờ sáng) và chị phải về.

Chị đi đâu, Latie ? họ hỏi,

Hôm nay Chúa nhật tôi đi dự Thánh lễ

Vâng, ra cô là người công giáo?

Vâng, chị đáp.

            Họ không thể nào hiểu nổi sự kiện chị là một người Công giáo hành đạo mà lại làm việc ở một nơi như thế. Tất cả bọn họ theo chị đi đến nhà thờ dự Thánh lễ. Hai tuần sau, một cô gái trong nhóm trở lại. Cô ấy nói “ chị làm tôi suy nghĩ. Nếu chị có thể sống một đời tốt lành khi phải làm việc ở một nói như thế này, vì thế có lẽ tôi cũng có thể làm được”.

            Một lần khác Catherine đi tàu điện ngầm ở Montrial thì gặp một phụ nữ già, cô độc nói với chị: “ chị có muốn nói chuyện với tôi một lúc không?” Họ làm hai chuyến đi từ đâu này đến đầu kia của tàu điện ngầm và nói chuyện hết thời gian. Họ trở thành bạn tốt của nhau, và thường viết thư cho đến lúc người phụ nữ ấy qua đời.

            Mùa gặt dĩ nhiên là bội thu đối với những người có con mắt nhìn nó và một tâm hồn đáp lại mùa gặt ấy trong các bệnh viện, gia đình, trường học, nhà tù, công trường, vùng phụ cận. Mỗi ngày là một ngày gặt hái.

Đức Ki-tô sai các Tông đồ ra đi giúp Người thu hoạch mùa màng. Chúng ta có khuynh hướng để việc ấy cho những nhà chuyện môn : cho các linh mục, nữ tu, các nhà truyền giáo. Những người mà Đức Ki-tô sai đi không phải là những nhà chuyên môn. Tuy vậy, họ đã trở thành những công cụ của Người. Trao trách nhiêm cho một cá nhân và để  cho người ấy biết bạn tín nhiệm người ấy là đem lại cho người ấy một sự giúp đỡ mà ít có sự giúp đỡ nào bằng.

            Nhóm bảy mươi hai bắt đầu là những môn đệ của Người. rồi Người hướng họ đến mục tiêu bên trên họ với việc làm  cho họ thành những Tông đồ.  Đó là cách thức phải luôn luôn được thực hiện. Chúa yêu cầu chúng ta chia sẻ với những người điều mà chúng ta đã nhận được từ Người. Có nhưng điều vẫn còn chưa được làm nếu chính chúng ta không làm được. Chúng ta nâng cao chúng ta lên trong mức độ chúng ta nâng cao người khác lên.

            Làm một Tông đồ có nghĩa là một người được sai đi. Để có thể làm được công việc của Đức Giê-su. Chúng ta không cần phải là một loại thiên tài hoặc siêu nhân nào đó. Có sự khác nhau giữa một Tông đồ và một thiên tài. Sự khác nhau ấy ít liên quan đến tài năng và trí tuệ, mà có liên quan đến mục đích và sự dấn thân.

            Bởi lẽ Người ta được kêu gọi không có nghĩa để được trở thành thông minh hơn hoặc có nghĩa nhiều tưởng tưởng hơn trước đó. Không, người ta vẫn có quan hệ với những ơn tự nhiên. Nhưng giờ đây, họ có nhiều quyết tâm hơn, nhiều sự dâng hiến hơn. Điều ấy tạo ra sự khác nhau to lớn.


BÀI GIẢNG 3:
Làm chứng thương tích

            Bốn mươi năm sau khi rời khỏi trại giam Auschwitz, nhà văn Ý Primo levi vẫn còn mang hình xăm với con số của ông khi ở đó. Khi người ta hỏi ông tại sao không xóa nó đi, ông đáp: “Tại sao tôi phải làm thế? Không có nhiều người trong chúng ta được đưa vào thế giới để làm nhân chứng.”

            Alexander Solzhenitsyn nói rằng ông vẫn còn bốn mảnh vải dùng để vá mạng con số mà người ta phát cho ông khi còn trong tù. Ông không phải là người duy nhất đem chúng ra khỏi trại giam. Không xấu hổ về những điều đó ông nói: “trong một gia đình, chúng ta được phô bày ra những thành tích.”

            Thánh Phao-lô cũng không xấu hổ vì những dấu tích mà ông mang trên mình ông vì Đức Giê-su Ki-tô. Thật vậy ông bình thản lôi kéo sự chú ý về những dấu tích ấy ( Bài đọc 2). Ông nói với những tín hữu Ga-lát: “Những dấu tích trên người tôi là những dấu tích của Đức Ki-tô”. Bằng từ “dấu tích”, ông không có ý nói đến những dấu thánh như Padre Pio và những người khác cho rằng mình được in dấu thánh. Ông muốn nói đến những dấu tích, vết thẹo mà còn những gian lao bệnh tật,sự đánh đòn, ném đá còn lại trên thân thể của ông. Đó là những sự trả giá cho việc ông phục vụ Đức Ki-tô.

            Điều thú vị hơn nữa là sự kiện Đức Giê-su giữ lại dấu đinh và vết đóng đâm trên thân thể phục sinh của Người. Người ta có thể hy vọng Người làm mất hết mọi dấu tích để chứng tỏ vì Người đã không muốn làm cho các  Tông đồ khó xử vì họ đã bỏ rơi Người hoặc những người trực tiếp hay gián tiếp có trách nhiệm gây ra các dấu tích ấy.

            Nhưng Đức Giê-su đã không tháo bỏ mọi thương tích. Người đã giữ chúng lại. Đối với Người những vết tích ấy không làm cho Người xấu hổ hoặc bối rối. Chúng là những chứng cứ sống động của tình yêu Người, là những dấu chỉ hưu hình và hùng hồn một tình yêu chân thật phải trả giá như thế nào. Chúng giống như những huy hiệu danh dự, hoặc những huy chương chỉ sự lỗi lạc mà khó khăn lắm người ta mới dành được. Chúng vấn là những thương tích nhưng chất độc đã bị trừ khử, và vì thế không còn làm tổn thương. Bởi vì các thương tích của Đức Giê-su vẫn còn thấy rỏ trên thân thể phục sinh của Người, chúng đã trở thành suối nguồn hy vọng cho tất cả chúng ta, đặc biệt cho những người đã chịu đau khổ và vẫn còn đang đau khổ.

            Rất nhiều lần chúng ta muốn che giấu những thương tích của chúng ta. Chúng ta muốn giấu kín những tổn thương của quá khứ. Và cả khi bên người của chúng đã lành lặn, chất độc thường vẫn còn lại, và do đó còn gây thương tổn. Nếu chúng ta yêu, chúng ta sẳn sàng chịu thương tích.Tuy nhiên, điều đó không giúp cho chúng ta đạt mục đích cao cả, nếu vì thế mà chúng ta bị đầu độc bởi sự cay đắng và lòng thù hận. Sự cay đắng là điều tệ hại khủng khiếp: “Người ta có thể sống qua những gian khổ lớn lao nhưng chết bởi những cảm nghĩ đắng cay” (Solzhenitayn).

CÂU CHUYỆN KHÁC

            Felix Frankfurter là một quan tòa nổi tiếng của Tòa an Tối cao ở Hoa Kỳ. Một lần kia ông được đưa vào bệnh viện ở đó ông quen biết một y tá có tên là Lucy. Họ có những lúc ngồi bên nhau nói chuyện thân mật với ông biết được nhiều điều về Lucy.

            Trước đó,ông chưa bao giờ gặp được người có lòng quảng đại và nhân hâu như chị. Và ông bắt đầu tự hỏi và suy nghĩ, cố gắng khám phá suối nguồn của thái độ của chị. Điều ông khám phá như sau: Suối nguồn ấy không có gì là bí ẩn. Nó đơn giản chỉ là sự áp dụng thực hành đức tin của chị. Ông rất ngạc nhiên bởi vì ông chưa bao giờ biết có người nào mà đời sống mỗi ngày được đặt trên nền tảng tôn giáo như chị.

Lucy không bao giờ biết được tin sống động của chị có ảnh hưởng như thế nào, nhưng cô đã làm cho Đức Giê-su hiện diện cụ thể trong bênh viện này. Chị đem đến đôi bàn tay mà Đức Giê-su cầm đến. Đức Giê-su cần những nhân chứng cho người ta như chị Lucy đến nổi Người có thể trở thành Đấng an ủi như Người muốn làm.

            Một quan hệ thật sự với Đức Giê-su sẽ có một anh hưởng cả khi người có mối quan hệ ấy không đề cập đến Đức Giê-su. Dĩ nhiên, những người tin vào Đức Giê-su và yêu mến Người, cũng sẽ, khi thuận lợi, nói về Đức Giê-su một cách rõ ràng cởi mở.

LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Chủ tế: Là những người được mời gọi trở nên những nhân chứng cho Đức Ki-tô trong một thế giới lãnh đạm, chúng ta hãy cầu xin cho lòng can đảm và sự quyết tâm.

Công đoàn: Lạy Chúa xin vui lòng lắng nghe chúng con.

Người đọc: Cầu cho Giáo Hội: để Giáo Hội tiếp tục sứ vụ mà Đức Ki-tô đã giao cho Giáo Hội để rao giảng Tin Mừng cho thế giới (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Cầu cho mọi Ki-tô hữu để họ làm chứng cho Đức Ki-tô trước người khác bằng lời nói hay việc làm (Nghỉ) Lạy Chúa, xin vui lòng lắng nghe chúng con.

            Cầu cho người nắm giữ việc công: để họ nổ lực trở nên công cụ của bình an và hòa giải (Nghỉ) Lạy Chúa, xin vui lòng lắng nghe chúng con.

            Cầu cho các nhu cầu riêng của chúng ta (Nghỉ lâu hơn) Lạy Chúa, xin vui lòng lắng nghe chúng con.

Chủ tế: Lạy Thiên Chúa của lòng nhận hậu. Xin Chúa giúp cho tìn yêu trở thành nền tảng của đời sống chúng con. Xin cho tình yêu mến của chúng con đối với Chúa được biểu lộ trong nhiệt tình làm điều tốt cho những người khác. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. 



PHỤNG VỤ CHÚA NHẬT & LỄ TRỌNG – NĂM C
Nguyên Tác:
New Sunday & Holy Day Liturgies
Tác Giả: Flor McCarthy S.D.B
Chuyển Ngữ: Thiên Phúc
Nhà Xuất Bản: Dominican Publications – 1998
Flor McCarthy là một Linh Mục dòng Sa-lê-giêng, ngài dạy giáo lý trong trường trung học và có nhiều kinh nghiệm trong việc coi xứ ở Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ. Ngài cũng viết những sách về Phụng Vụ An Táng và Phụng Vụ Hôn Phối.