Clock-Time

Suy Niệm Chúa Nhật XXIII Thường Niên Năm B – Lm. Antôn Hà Văn Minh

“Tương lai của Giáo hội có thể và sẽ xuất phát từ những người có cội nguồn sâu xa và những người sống bằng sự trọn vẹn đức tin của mình. Nó sẽ không xuất phát từ những người chỉ muốn thích ứng bản thân vào những khoảnh khắc mau qua hoặc từ những người chỉ đơn thuần chỉ trích người khác và cho rằng mình mới là những thước đo không thể sai lầm...

SUY NIỆM CHÚA NHẬT

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN NĂM B

NGÀY 05/09/2021


ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN TỪ SỰ THANH TẨY BỞI ĐỨC TIN

Lm Antôn Hà Văn Minh

LỜI CHÚA: Mc 7, 31-37

31 Đức Giê-su lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh.32 Người ta đem một người vừa điếc vừa câm đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh.33 Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh.34 Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: "Ép-pha-tha", nghĩa là: hãy mở ra!35 Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng.36 Đức Giê-su truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra.37 Họ hết sức kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được."

SUY NIỆM

Hình ảnh một kẻ câm điếc được dẫn đến gặp Chúa Giêsu, để xin Người đặt tay cho thấy Chúa hiện diện như Đấng được Thiên Chúa sai đến, chứ không phải như một pháp y danh tiếng. Bởi việc đến xin Đức Giêsu đặt tay đồng nghĩa việc người Do Thái xác nhận quyền năng nơi Đức Kitô, một quyền năng thuộc về thần linh chứ không thuộc về năng lực của con người. Và người ta đã nhận ra được sức mạnh từ đôi bàn tay của Chúa, một sức mạnh giải phóng con người khỏi sự ràng buộc bởi tội, chứ không đơn giản chỉ là chữa lành tật bệnh. Quả thật, theo quan niệm của người Do Thái, những người bị đui mù, câm điếc, què quặt … đều do tội gây ra, họ là những người đang sống trong tội. Cho nên, việc xin người đặt tay trên kẻ điếc câm, chính là lời van xin Chúa dùng đôi bàn tay tràn ngập năng quyền thần linh để giải thoát kẻ câm điếc đang bị trói buộc bởi sự dữ. Và việc Chúa chữa lành kẻ câm điếc là lời minh định về sứ vụ của Chúa, sứ vụ mà Chúa đã xác minh tại hội đường ở Nazareth: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4, 18). Vâng, Chúa đến trần gian để giải phóng con người khỏi sự ràng buộc bởi tội chứ không phải để làm một lương y chuyên chữa trị tật bệnh.

Thánh sử Maccô đã vẽ lên bức tranh của việc Chúa Giêsu làm cho kẻ câm điếc nghe và nói được rất đặc biệt: Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta. Ðoạn ngước mặt lên trời, Người thở dài và bảo: “Effetha!”. Hành vi chữa lành này nói lên vai trò Thiên sai của Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian để giải thoát con người khỏi tội.  Thánh vinh 51 đã cất tiếng kêu xin với niềm hy vọng:

Xin dùng cành hương thảo
rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền;
xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết.
Xin cho con được nghe
tiếng reo mừng hoan hỷ,
để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng.
Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.
(Tv 51, 9-10.17)

Và Chúa Giêsu đã đáp ứng lời van xin này qua việc Người làm cho kẻ câm điếc nói được, và cũng là nói lên vai tro Thiên sai của mình. Người giải thoát lỗ tai và miệng của kẻ câm điếc không chỉ là đật tay, nhưng còn “bôi nước miếng” vào lưỡi, một hình ảnh nói lên việc thanh tẩy bằng nước mà thánh vịnh 51 đã van xin. “Nước miếng” có vai trò rửa sạch những gì vấy bẩn trong miệng, Chúa Giêsu bôi nước miếng vào lưỡi dấu chỉ của việc thanh tẩy, rủa sạch tội lỗi nguyên nhân làm cho lưỡi của kẻ câm bị tê cứng không có khả năng cất tiêng để đối thoại với một ai. Hậu quả của tội chính là đẫy đưa con người phạm tội vào trong cảnh đơn côi, không có khả năng đối thoại. Sách Sáng thế đã diễn tả tình trạng này qua việc tình bày Thiên Chúa đuổi Nguyên tổ ra khỏi vườn địa đàng sau khi Nguyên tổ phạm tội, và còn đặt các thần hộ giá canh giữ vườn không cho con người bén mảng đến (x. St 3, 23-24), việc Thiên Chúa trục xuất ra khỏi vườn địa đàng cũng có nghĩa là con người không còn có khả năng đối thoại với Thiên Chúa, căn nguyên của mọi đối thoại, và như thế con người cũng gặp vấn đề trong việc đối thoại với tha nhân. 

Việc thanh tẩy giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của người Do Thái, một dân tộc được chi phối bởi niềm tin tôn giáo. Đức Benêđictô XVI đã nhận định: “việc thanh tẩy đem lại cho con người một quan niệm về tính thánh thiện của Thiên Chúa xũng như sự u tối của chính mình, việc thánh tẩy cần thiết để con người được giải thoát để có thể đến gần Thiên Chúa. Hệ thống các việc thanh tẩy mang tính phượng tự thống trị toàn bộ đời sống trong Do Thái giáo đjao đức vào thời Chúa Giêsu”. Nỗi đau của một người trong dân Do Thái bị câm điếc chính là không được hoà nhập vào trong cộng đoàn, và không thể cất tiếng ca tụng Thiên Chúa và như thế họ bị loại trừ khỏi cộng đoàn phụng tự. Vì thế, Thánh vịnh 51 đã van xin: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài” (câu 17). Chúa Giêsu đã thực thi sứ vụ của Đấng Thiên Sai, qua việc giải phóng người câm điếc bằng chính hành vi thanh tẩy qua việc Người lấy nước miếng để “mở miệng” kẻ bị câm với lệnh truyền: “Epphatha: Hãy mở ra”, lệnh truyền của kẻ có uy quyền trên sự dữ, lệnh truyền của Đấng đầy quyền năng giải phóng: “tôi tha tội cho anh”. Vâng, chỉ có Đấng đến từ Thiên Chúa mới có thẩm quyền này, và Đức Kitô đã chứng thực Ngài là Thiên Chúa và là Con Thiên Chúa.

Điều quan trọng để người câm điếc nhận được sự thanh tẩy từ nơi Đức Kitô, nhờ đó anh ta được thanh sạch, được giải phóng khỏi sự ràng buộc của tội lỗi chính là nhờ đức tin của cộng đoàn. Quả thật, nhờ đức tin của cộng đoàn đã dẫn đưa người câm điếc đến gặp Chúa và anh ta đã nhận được ơn chữa lành không chỉ là hết câm điếc, nhưng điều quan trọng anh ta được giải thoát khỏi mọi sự áp bức đến từ sự dữ như lời Thánh vịnh 145: “Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị ức, và ban cho những người đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội”.

Nhân loại được cứu rỗi nhờ sự thanh tẩy do bởi Đức Kitô thực hiện, sự thanh tẩy bắt nguồn từ nguồn suối yêu thương của Đấng sẵn sàng tự hiến mình trên Thập Giá. Nguồn suối đó vẫn luôn tuôn trào qua hành vi dấn thân phục vụ của các người nam và người nữ trong Giáo Hội. Trong những ngày qua, tại Việt Nam, hình ảnh các linh mục, tu sĩ nam nữ lên đường đến các tuyến đầu để phục vụ cho những bị covid-19 đã làm nức lòng biết bao người, và đang chiếu toả đức tin công giáo đến cho nhiều người. Các linh mục, tu sĩ nam nữ phục vụ ở tuyến đầu Covid đã không ngại bị lây nhiễm, cũng không sợ phải chết vì phục vụ người bệnh, với một trái tim yêu không mong ước gì hơn là muốn mọi người nhận biết Đức Kitô và tin vào Người, vì chỉ có Người mới là Đấng giải thoát con người khỏi mọi chết chóc do sự dữ mang lại. 

Vâng, trong một thế giới tục hoá, một thế giới đang nỗ lực khước từ sự hiện diện của Thiên Chúa, thì sự dấn thân phục vụ tuyến đầu Covid của các linh mục, tu sĩ nam nữ là một lời minh chứng hùng hồn về đức tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại qua Đức Giêsu Kitô. Qua sự phục vụ này chúng ta có thể nói như Đức Bênđictô XVI:

“Tương lai của Giáo hội có thể và sẽ xuất phát từ những người có cội nguồn sâu xa và những người sống bằng sự trọn vẹn đức tin của mình. Nó sẽ không xuất phát từ những người chỉ muốn thích ứng bản thân vào những khoảnh khắc mau qua hoặc từ những người chỉ đơn thuần chỉ trích người khác và cho rằng mình mới là những thước đo không thể sai lầm; nó cũng sẽ không xuất phát từ những người đi con đường dễ dàng hơn, những người bỏ qua một bên niềm đam mê đức tin, tuyên bố những điều sai lầm và lỗi thời, chuyên chế và theo chủ nghĩa duy pháp lý, tất cả những điều đòi hỏi con người, làm tổn thương họ và buộc họ phải hy sinh bản thân họ. Xin nói điều này một cách tích cực hơn: Tương lai của Giáo hội, một lần nữa cũng như luôn luôn, sẽ được định hình trở lại bởi các thánh, bởi những con người có tâm trí biết thăm dò sâu hơn những khẩu hiệu thời nay, những người nhìn thấy nhiều hơn những người khác, bởi vì cuộc sống của họ nắm được một thực tại rộng lớn hơn. Lòng vị tha, tức điều khiến con người được tự do, chỉ đạt được nhờ sự kiên nhẫn thực hiện các hành vi từ bỏ bản thân nhỏ nhặt hàng ngày”. Amen