Clock-Time

Suy Niệm Chúa Nhật XXIV Thường Niên C - Thiên Phúc

Suy niệm tin mừng Lc 15: 1-32 Qua việc kể lại ba dụ ngôn, Đức Giê-su biện minh việc Người quan tâm đến những người tội lỗi.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN C

 
Chúa nhật xxiv thường niên c

 
NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI
 
 
DẪN NHẬP VÀ SÁM HỐI
 
            Phạm tội là xa lìa đường lối của Thiên Chúa. Ai trong chúng ta có thể nói rằng chúng ta đã không bao giờ xa lìa khỏi đường lối của Thiên Chúa? Nhưng Đức Giê-su, Đấng Mục Tử nhân lành đã đến tìm kiếm chúng ta và vui mừng khi tìm thấy chúng ta. Chúng ta hãy nghỉ một lúc để nhớ lại những việc đã chia rẽ chúng ta với Chúa và cần được Chúa tha thứ. (Nghỉ)

            Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã thương xót chúng con và trong sự thương xót của Chúa, xin Chúa tẩy trừ những xúc phạm của chúng con. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

            Chúa tẩy xóa tội lỗi chúng con và làm sạch mọi tội lỗi chúng con. Lạy Đức Ki-tô, xin thương xót chúng con.

            Chúa tạo ra cho chúng con một tấm lòng thanh khiết và đặt và trong chúng con một tinh thần vừng vàng. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

ĐỀ TÀI CÁC BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 (Xh 32:7-11,13-14) Mô-sê can thiệp với Thiên Chúa cho dân Do Thái vì họ đã thờ lạy thần tượng.

Bài đọc 2 (1 Tm 1:12-17) khi hoán cải trở lại, Phao-lô là một nhân chứng cho việc Đức Ki-tô đến thế gian để cứu những kẻ tội lỗi.

Tin Mừng (Lc 15: 1-32) Qua việc kể lại ba dụ ngôn, Đức Giê-su biện minh việc Người quan tâm đến những người tội lỗi.
 
CHÚ THÍCH THÁNH KINH
            Chủ đề của cả bài đọc là Thiên Chúa thương xót những người tội lỗi. trong bài đọc 1, chúng ta thấy rằng dân đã bỏ rơi Thiên Chúa và quay về với việc thờ ngẫu tượng. phản ứng của Thiên Chúa xem ra mô tả người như một Thiên Chúa giận dữ, ghen tị, sẽ dùng những hình phạt khủng khiếp nhất khi luật pháp của người không được tuân giữ. Nhưng đó không phải là sứ điệp của câu chuyện. Sứ điệp ấy là Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của dân Người để đạp lại lời cầu xin của Mô-sê.

            Sự kiện Đức Giê-su đã đón tiếp những người tội lỗi và ăn uống chung với họ đã làm cho người Pha-ri-siêu phẩn nộ. Họ là những người “biệt phái”, tránh né mọi tiếp xúc với những kẻ tội lỗi. Nhưng Đức Giê-su chỉ cho họ một Thiên Chúa hoàn toàn khác. Bằng ba dụ ngôn, Người biện minh việc Người quan tâm đến những kẻ tội lỗi. cả ba dụ ngôn đều nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa quan tâm đến một người hư mất và niềm vui của Người khi tìm lại được một người hư mất.

            Dụ ngôn Người Con Hoang Đàng trước đây đã đề cập trong năm phụng vụ này (Chúa Nhật thứ IV Mùa Chay) và có liên quan đến Mùa Chay. ở đây chúng ta nên tập trung trên hai dụ ngôn kia.

            Bài đọc 2 cùng phù hợp với đề tài. Sự hoán cải của Phao-lô là một bằng chứng việc Đức Ki-tô đã đến thế gian để cứu chuộc những người tội lỗi.
 
BÀI GIẢNG 1
Giá trị của cá nhân
 
            Khi nhìn thấy các công ty đa quốc gia có lúc giản bớt việc làm mà không có sự đền bù cho người nghỉ việc, chúng ta cảm thấy phẩn nộ. Đối với những công ty ấy, vấn đề chính trị là lợi nhuận chứ không phải là phúc lợi của người công nhân.

            Đây là chổ mà những câu chuyện con chiên bị lạc và đồng tiền đánh mất của Đức Giê-su đề cập đến, điều cốt lõi của hai câu chuyện là giá trị của cá nhân. nhưng người ta có thể nói: “Tại sao lại làm om sòm về một con chiên khốn khổ và một đồng tiền thảm hại? Đối với một mục tử tốt lành, mỗi con chiên đều quan trọng và quý giá. Đồng tiền mà người phụ nữ đánh mất là một đồng quan, giá trị khoản bốn xu. Xem ra không nhiều lắm đối với chúng ta. Nhưng vào thời ấy nó tương đương với lương của một ngày. Chúng ta có thể hiểu được tại sao người phụ nữ ấy đã kiên trì tìm kiếm. Đối với bà đó là một món tiền lớn.

            Có một lần nọ, một nhóm người quan tâm đến giáo dục họp lại để đề ra một kế hoạch mở một trại cải huấn cho thiếu niên. Họ mời một nhà giáo dục danh tiếng làm cố vấn cho họ đê tiến hành công việc. ông này đã lên một kế hoạch đầy nhiệt tình đối với những phương pháp giáo dục nhân bản của trường cải huấn, ông khuyến khích các nhà thành lập không nên tiếc tiền để mời được các thấy giáo tốt bụng và có năng lực đến phục vụ. Ông kết luận và nói rằng: “Chỉ cần trại cải huấn cứu được một thiếu niên khỏi sự suy đồi đạo đức, thì mọi chi phí và công sức đâu tư sẽ được biện mình”

            Sau đó, một thành viên ban giám đốc đến gần nhà giáo dục và nói: “Ông có quá đáng không khi nói như thế? Không lẽ mọi công sức chi phí đầu tư biện minh chỉ vì cứu được một thiếu niên thôi sao?”

            “Vâng, nếu thiến niên ấy là con trai tôi” đó là lời đáp lại.

            Nếu bạn muốn hỏi một mục tử: “Phải chăng mọi thời gian và nổ lực bạn dành cho môt con chiên như thế sẽ được biện minh?” thì hẳng bạn sẽ nhận được một câu trả lơi tương tự: “Vâng, nếu đó là con chiên của bạn” Và người mục tử trong câu chuyện của Đức Giê-su cũng không có gì ngoại lệ. bất kỳ người mục tử nào xưng danh là mục tử đều làm như thế.

            Dĩ nhiên Đức Giê-su không nói về bầy chiên mà nói về dân chúng và nói một cách chính xác hơn là những người tội lỗi. Những người Pha-ri-siêu phẩn nộ khi thấy Người dánh quá nhiều thời giờ để gần gũi với những người tội lỗi. Và Người không chờ những người tội lỗi hối cải trước khi Người trở thành bầu bạn của họ. Người đối xử tử tế với họ trong tội lỗi và sự hư mất của họ. Điều này làm các quyền bính tôn giáo phẫn nộ: Người liên kết với những người tội lỗi trong khi họ vẫn là người tội lỗi.

            Lời biện hộ của Đức Giê-su hoàn toàn thẳng thắn: Người nói Người đến nơi nào cần Người nhất. con chiên bị lạc và do đó đang gặp nguy hiểm cần đến người mục tử hơn những con chiên còn trong bầy. Và người mục tử không chờ cho con chiên lạc trở về; người ấy đi tìm kiếm nó. Những kẻ tội lỗi cần đến Người hơn những người đức hạnh, bởi vì họ hư mất.

            Khi liên kết với những người tội lỗi, Đức Giê-su không dung tha hoàn cảnh của họ. đúng hơn, người cố gắng chỉ cho họ một con đường tốt hơn. Nhưng Người không thể làm điều đó mà không liên kết và bày tỏ thiện cảm với họ. Bạn không bao giờ cải thiện người khác bằng cách xa lánh họ. Khi hành động theo cách ấy. Đức Giê-su bày tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi.
            Thánh Phao-lô không bao giờ quên sự kiện ông đã từng là kẻ thừ của Đức Giê-su. Nhưng giờ đây ông coi mình như một nhân chừng cho việc Đức Giê-su đã đến để cứu những người tộ lỗi (bài đọc 2). Cũng như một người đạo đức là nhân chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa.

            “Tôi không đồng ý với cách làm lớn mọi việc. Đối với tôi, điều quan trọng là một cá nhân” (Mẹ Tê-rê-xa).
 
BÀI GIẢNG 2
Cái mất quan trọng hơn
 
            Ngươi ta có thể nói: tại sao người mục tử lại quan tâm trọng hóa như thế với một con chiên đi lạc trong lúc người ấy vẫn còn chín mươi chín con khác? Và tại sao người phụ nữ lại quan trong hóa như thế đông tiền bị đánh mất? Bất cứ cái gì chúng ta đánh mất điều có giá trị thái quá. Ví dụ như bạn đánh mất một cái chìa khóa. Ngay khi bạn làm mất, cái chìa khoa đó quan trọng hơn tổng số mọi vật mà chúng ta vẫn có. Không bao giờ chúng ta biết giá trị một vật của chúng ta cho đến khi chúng ta mất nó.

            Một lần kia một thanh niên mong ước mình trở thành nhà nhiệp ảnh. Mỗi năm, anh đem một gói các bức ảnh đẹp nhất của mình đến nhà một nhiếp ảnh gia lão thành và danh tiến để xin ông này chỉ dẫn và đánh giá. Nhiếp ảnh gia lão thành nghiên cứu các bức ảnh và chia ra làm hai gói nhỏ, một gói gồm các bức ảnh đẹp và một gói gồm các bức ảnh xấu, chưa đạt. Năm nào ông cũng nhận thấy rằng người thanh niên luôn đem đến một bức ảnh chụp phong cảnh và lần nào cũng bị xếp vào bức ảnh xấu bị loại. vì thế, ông mới quay lại người thanh niên và nói: “Rõ ràng là cậu đánh giá cao bức ảnh này. Tại sao cậu lại thích nó như thế?”

            Người thanh niên đáp: “Bởi vì cháu phải leo lên núi để chụp nó”.

            Một vật quý giá đối với chúng ta bởi vì chúng ta mất nó. Nhưng nó cũng có thể trở nên quý giá vì công sức mà chúng ta đã bỏ ra cho nó. Những hy sinh mà chúng ta đã thực hiện có được hoặc giữ được nó làm tăng thêm giá trị của nó trong mắt chúng ta.

            Có một câu chuyện tuyệt vời kể lại rằng một ngày nọ Đức Giê-su hiện ra với một người mục tử đang gặp chuyện đau buồn. “Tại sao buồn bã thế?” Người hỏi “Bởi vì con đã để mất một trong các con chiên của con” Người mục tử đáp “và dù con có tìm kiếm khắp nơi con đã không tìm thấy nó có lẽ cho sói đã xé xác nó”Nghe đến đây Đưc Giê-su nói: “Con hãy chờ ở đây. Chính thầy sẽ đi tìm nó”.

            Nói xong Người biến mất vào trong các đồi. Ít giờ sau, Người trở lại với con chiên lạc. Đặt con chiên dưới chân người mục tử, Người nói: “Kể từ ngày hồm nay con phải yêu thương con chiên này hơn những con chiên khác trong bầy chiên của con, vì nó đã mất mà nay đã tìm lại được”.     
    
            Trong các câu chuyện con chiên lạc và đồng tiền đánh mất Đức Giê-su nhấn mạnh một điều, đó là: Đối với Thiên Chúa mỗi người đều quan trọng và quý giá. Nhất là khi người ấy đã hư mất. Thiên Chúa sẽ yêu người ấy nhiều hơn chứ không ít đi.

            Những Người Pha-ri-siêu tự coi mình là những mẫu mực về đạo đức nên không liên can gì đến những người tội lỗi. Họ cho rằng Thiên Chúa cũng không quan tâm đến những người tội lỗi. Tín điều chính yếu trong tôn giáo của họ là Thiên Chúa yêu thương người đạo đức và ghét bỏ kẻ tội lỗi”. Nhưng Đưc Giê-su nhân hậu và yêu thương khi Người tiếp cận với những người tội lỗi. Người biết rằng sự loại trừ và phán xét không bao giờ một người thay đổi. Vì thế Người dùng sự hiện diện của Người như một cách để người ta được chấp nhận và yêu thương và trong bầu không khí ấy họ có thể đạp lại và thay đổi.

            Dù một quan điểm nhân bản, sự tiếp cận của Người cũng mang nhiều ý nghĩa. Nếu một đứa trẻ bị lạnh và đói lả, no không cần một bài giảng thuyết; nó cần hơi ấm và lương thực. Jean Vanier cũng nói rất hay: “Con người ở trong cảnh khốn cùng không cần một cái nhìn xét đoán và chỉ trích, nhưng cần một sự hiện diện đầy an úi đem lại bình an, hy vọng và sự sống”

            “Khi một người cha than khóc đưa con của mình đã đi vào những con đường xấu xa, ông sẽ làm gì? Ông sẽ yêu cầu nó nhiều hơn bao giờ hết” (Beal Shem Tov)
 
BÀI GIẢNG 3
Người lạc mất
 
            Không chỉ có chiên cừu và các đồng tiền bị đánh mất, con người cũng bị lạc mất. theo tờ The Tablet (tháng 12-1996) có khoảng 250.000 người ở Anh quốc bị mất tích mỗi năm. Đủ mọi loại tuổi và thành phần, từ trẻ em cho đến người đứng tuổi, bởi mọi loại lý do và không lý do nào giống lý do nào, và họ bỏ đị mất tích. Những người ở lại, gia định của họ bị nghi kỵ dày vò, tội lỗi dằn vặt và lo lắng, người ta vừa sống với niềm hy vọng vừa tuyệt vọng không thể chấp nhận điều đã xảy ra hoặc đau buồn vì họ đã chết. Đường dây những người mất tích của quốc gia được thiết lập ở Anh quốc năm 1992 và mở ra 24 giờ mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm. Đây là nhưng hoạt động từ thiện phát triển nhanh nhất ở nước Anh.

            Vấn đề có to lơn hơn ở Mỹ. Người ta ước chừng 50.000 trẻ em xuất tích mỗi năm, trong đó có 5000 em tìm thấy đã chết. tại sao những em ấy mất tích? Một số em cha hoặc mẹ đã ly dị bắt đem đi. Một số em là ban nhân của các tội ác bạo hành. Một số bỏ trốn khỏi những gia đình không hạnh phúc.

            Kevin là một cậu bé mười bảy tuổi hay cười. cậu sống với cha mẹ cậu và hai người chị ở San Francisco. Một ngày kia, câu rời khỏi trường sau giờ thực hành bóng rổ. Người ta không nhìn thấy cậu nữa.

            Phần lớn các quốc gia không có con số chính xác các trẻ em mất tích mỗi năm. Hầu hết các lực lượng cảnh sát không hành động theo một bao cáo ca một đứa trẻ mất tích ít nhất trong vòng hai mươi bốn giờ. Ở Mỹ, cảnh sát liên bang FBI nói rằng nếu họ phải đi tìm mỗi đứa trẻ mất tích, họ sẽ không có thời gian để làm những việc khác. Nhiều quốc gia có chương trình hiện đại để lần theo dấu vết của các xe cộ bị mất cắp và thẻ tín dụng nhưng không có chương trinh nào cho các trẻ em bị mất tích.

            Người ta có thể lạc loài bằng nhiều cách. Có người đa nghiện rượu hoặc ma túy, có người không thể ổn định cuộc sống, có người không thể giữ được việc làm hoặc hoàn tất chương trinh học, có người không thể duy trì một tương quan rất khó mà tìm thấy họ. điều làm cho sự việc thêm trầm trọng là thông thường họ không bỏ đi. Họ biến mất ở giữa chúng ta, họ lạc loài ngay giữa gia đình mình.

            Dĩ nhiên xem ra không ai có thể đến gần họ. Trong những trường hợp như thế, nhiệm vụ của người mục tử không tìm kiếm họ cho bằng giúp họ tìm thấy chính mình.

            Và dĩ nhiên, người ta lạc loài về tinh thần và tâm linh. Những người như thế giống như con thuyền không neo hoặc một thủy thủ khoogn có la bàn. Trong số họ, có những người lạc loài vì lỗi của họ. Nhưng những người khác lạc loài vì không có người hướng dẫn, không có một ai quan tâm đến họ. Mỗi Ki-tô hữu phải chứng tỏ sự quan tâm tích cực đến những người sống lạc loài.
 
Đức Giê-su bày tỏ mối quan tâm của Người đối với các “con chiên lạc”, những người thu thuế, những người tội lỗi v.v… là đáng ra phải được các mục tử quan tâm và chăm sóc. Bởi vì, người mục tử không phải chỉ là ngồi chờ cho con chiên lạc quay về, nhưng người mục tử phải là người chủ động ra đi tìm con chiên lạc của của mình về.
 
Đức Giê-su cũng thế. Người là vị sứ giả mà Chúa Cha sai đến với chúng ta. Người không chờ cho những người có tội đến tìm Người. Người ra đi tìm họ. Và khi Người tìm thấy họ. Người đưa họ trở về nhà cha với niềm hoan hỉ.
 
Hối cải là trở về với Thiên Chúa. Và trở về với Thiên Chúa là trở về nhà mình.
 
CÁC CÂU CHUYỆN KHÁC
 
Kêu cứu
            Một buổi sáng nọ, một người đàn ông đi bách bộ trong vùng đầm lầy Allen, Hạt Kindare. Ông đi được chừng nửa dậm thì ông thấy bên tay trái mình một túp liều của công nhân. khi đến gần túp liều, ông nghe tiếng kêu của một con chiên. Ông nhìn quanh nhưng không thấy con chiên. Rồi ông lại nghe tiến chiên kêu một nơi ngay ở sau túp liều. khi đi vòng ra phía sau túp liều, ông thấy một cái hào sâu gần hai thước đen tối. lầy lội và có nước dưới đáy. ở đó có một con chiên đứng trong bùn ngập đến đầu gối.

            Mặc dù ông nhận thấy cứu hộ con chiên là công việc dơ bẩn, nhưng ông biết rằng không thể để con chiên chết ở đó, và nó chắc chắn sẽ chết nếu ông không cưu nó. Ông suy nghĩ một lúc xem có cách nào đem con chiên lên. Điều duy nhất ông phải cẩn thận là không để mình bi rơi xuống hố. Ông tìm được một cái xẻng bên trong lều. với cái xẻng ông có thể tạo thành những bậc thang trong lớp đát bùn và mở một con đường đi xuống bên hông cái hào. Ông nắm lấy lưng con chiên và từng bước một kéo nó ra khỏi hào một cách chậm chạp.

            Khi trở về nhà mình, ông không bận tâm nghĩ ngợi sự phiền toái mà con chiên gây ra cho ông, nhưng chỉ nghĩ đến niềm vui mà ông cảm thấy khi cứu được con chiên. Nhưng điều sống động nhất trong tâm trí của chúng ta là tiếng kêu cứu của con chiên. Không có tiếng kêu ấy, sẽ không có kết thúc vui mừng, bỏi vì ông không bao giờ biết được cảnh ngộ của con chiên.

            Không chỉ có chiên rơi xuống hố. Người ta cũng có thể rơi xuống hố. nhưng người ta không khôn khéo như con chiên, bởi vì người ta xấu hổ khi cầu xin, càng không muốn kêu cứu với ai.
 
LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
 
            Chủ tế: Đức Giê-su là Mục Tử nhân từ đã đến để tìm và cứu những người lạc mất. với niềm trông cậy, chúng ta hãy câu xin Người cho các nhu cầu của chúng ta.

            Cộng đoàn: Lạy Chúa, xin vui lòng lắng nghe chúng con.

            Người đọc: Cầu cho các vị lãnh đạo Giáo Hội: để các ngài trung tín chăn giữ đàn chiên của Đức Ki-tô và bày tỏ sự chăm sóc đặc biệt đối với con chiên lạc. (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Cầu cho những người đảm trách việc công: để họ bày tỏ sự chăm sóc đặc biệt với những thành phần trong xã hội bị loại trừ và chịu thiệt thòi. (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Cầu cho các bậc cha mẹ: để họ tạo ra những gia đình ở đó con cái họ sẽ biết rằng chúng được yêu thương. (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Cầu cho những người đã mất tích và những gia đình đau buồn cua họ. (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Cầu cho những người tụ họp nơi đây: để chúng ta nhận ra rằng chúng ta luôn luôn được Thiên Chúa quý trọng. (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Cầu cho những nhu cầu riêng của chúng ta. (Nghỉ) Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Chủ tế: Lạy Thiên Chúa của tình yêu và lòng thương xót xin ban cho chúng con sự xác tín rằng bên kia cái chết có một đời sống, ở đó những gì đổ vỡ sẽ được bàn gắn, những gì lạc mất sẽ được tìm thấy: ở đó có niềm vui cho những lao nhọc và niềm vui cho người đau buồn, ở đó mọi điều chúng ta yêu thương và muốn cho tốt đẹp sẽ hiện hữu và ở đó, chúng con sẽ gặp lại những người thân yêu của chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
 
 --------------------------------------------------------------------------
 
PHỤNG VỤ CHÚA NHẬT & LỄ TRỌNG – NĂM C
Nguyên Tác: New Sunday & Holy Day Liturgies
Tác GiảFlor McCarthy S.D.B
Chuyển NgữThiên Phúc
Nhà Xuất Bản: Dominican Publications – 1998
Flor McCarthy là một Linh Mục dòng Sa-lê-giêng, ngài dạy giáo lý trong trường trung học và có nhiều kinh nghiệm trong việc coi xứ ở Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ. Ngài cũng viết những sách về Phụng Vụ An Táng và Phụng Vụ Hôn Phối.